BỒ TÁT GIỮA ĐỜI THƯỜNG
Người rất thường đi giữa cõi nhân gian
Không danh vị không hào quang rực rỡ
Rất lặng lẽ như mây chiều trước ngõ
Mà an nhiên làm dịu những niềm đau
Giữa chợ đời đầy vinh nhục bể dâu
Người cúi xuống nhặt từng mầm hy vọng
Nâng bàn tay kẻ cùng đường bị sống
Hiểu và thương như vạn đóa xuân hồng
Bồ Tát nơi đâu giữa cõi hồng trần
Trong điện ngọc hay trên đài sen trắng
Người có thể là mẹ già thầm lặng
Thức canh tàn vì giấc ngủ đàn con
Người có thể là bạn cũ thuở hàn vi
Chia miếng bánh khi cảnh đời cơ cực
Hay thầy thuốc giữa đêm dài thao thức
Giành lại đời cho con bệnh tử sinh
Bồ Tát là người chẳng một lời kinh
Mà tâm nguyện vẫn ngời lên ánh đạo
Đem nhẫn nhục làm con đường thiện xảo
Lấy từ bi tưới mát cõi vô minh
Chiến tranh hòa bình nghịch cảnh điêu linh
Người hiện đến như suối lành trong mát
Cho lặng lẽ không mong cầu đền đáp
Chỉ âm thầm gieo hạt giống yêu thương
Xin cúi đầu giữa muôn vạn nẻo đường
Nơi Bồ Tát hiện thân từ cuộc sống
Đôi mắt biếc trái tim vàng lồng lộng
Bay vô tư như hiện bóng tình quê
Rồi một ngày thân cát bụi trở về
Danh với lợi theo ráng chiều tan biến
Còn dấu đọng những mảnh lòng cống hiến
Cho cuộc đời bằng một tấm lòng son.
Đã biết rằng sớm rạng chiều không
Thì Bồ Tát giữa đời như tiếng vọng
Là tâm ảnh u minh từ cuộc sống
Là sen lòng đã nở tự ngàn xưa.
Mùa Phật Đản 2570 (2026)
Nguyên Thọ TKĐ
<!>
Bồ Tát có phải là Phật không?
Không hoàn toàn. Theo cách hiểu phổ biến của Đại thừa:Phật là người đã thành tựu giác ngộ viên mãn. Bồ Tát đang trên con đường hướng đến Phật quả, đồng thời nguyện giúp đỡ chúng sinh. Một số vị Bồ Tát được tôn kính rất cao và được xem là đã đạt trình độ giác ngộ cực kỳ sâu rộng. Theo Phật giáo nguyên thủy (Theravāda)
Khái niệm Bồ Tát cũng tồn tại, nhưng thường dùng để chỉ tiền thân của Thích Ca Mâu Ni trước khi thành Phật. Lý tưởng tu tập trọng tâm là trở thành A-la-hán, trong khi Đại thừa nhấn mạnh lý tưởng Bồ Tát.
NKT-Tùng biên soạn
Bồ Tát Giữa Đời
Giữa dòng nhân thế chơi vơi,
Bồ Tát nhàn nhã, môi cười độ sinh.
Vô danh, ẩn khuất bóng hình,
Âm thầm gieo rắc yên bình ngàn nơi.
Từ bi ấm ánh mặt trời,
Vượt nghìn giông tố, rạng ngời niềm thương.
Nguyễn-Khắc Tiến-Tùng
Munich, mùng 2 tháng 6 năm 2016
Nói về BỒ TÁT
- BỒ TÁT, có danh từ Bồ tát nghịch hạnh trong PG không ??
- Có. Trong Phật giáo Đại thừa, người ta có nhắc đến khái niệm Bồ Tát nghịch hạnh (逆行菩薩), tức là những vị Bồ Tát vì phương tiện giáo hóa chúng sinh mà thị hiện những hành vi có vẻ trái với chuẩn mực thông thường, nhưng động cơ hoàn toàn xuất phát từ lòng từ bi và trí tuệ.
Tuy nhiên, đây là một khái niệm rất dễ bị hiểu sai.
Bồ Tát nghịch hạnh là gì?
Thông thường, Bồ Tát thực hành thuận hạnh: từ bi, nhẫn nhục, bố thí, trì giới, tinh tấn...
Nhưng trong một số kinh điển và truyền thuyết Đại thừa, có những vị Bồ Tát hoặc bậc giác ngộ:Thị hiện hình tướng khác thường.
Dùng lời nói nghiêm khắc.
Hành động trái với mong đợi của người đời.
Thậm chí xuất hiện trong môi trường mà người ta cho là không thanh tịnh.
Mục đích là:Phá chấp cho chúng sinh.
Cảm hóa những người khó giáo hóa bằng phương pháp thông thường.
Dẫn dắt chúng sinh bằng phương tiện thiện xảo (upāya).
Ví dụ nổi tiếng là Duy Ma Cật trong Kinh Duy Ma Cật. Ngài là cư sĩ, sống giữa đời thường, giao tiếp với đủ hạng người nhưng vẫn thể hiện trí tuệ giải thoát sâu sắc.
Vì sao cần thận trọng?
Trong Phật giáo, không phải ai cũng có thể tự nhận mình đang thực hành "nghịch hạnh".
Các luận sư thường nhấn mạnh rằng:Chỉ những bậc có trí tuệ và từ bi viên mãn mới có thể dùng phương tiện nghịch hạnh.
Người còn tham, sân, si mà bắt chước các hành vi ấy rất dễ rơi vào sai lầm.
Không thể lấy "nghịch hạnh" làm lý do để biện minh cho hành vi bất thiện.
Nói cách khác:
Bồ Tát nghịch hạnh là dùng cái "nghịch" bên ngoài để thành tựu điều "thuận" bên trong; còn người phàm thường dùng cái "nghịch" bên ngoài và cả bên trong đều bị phiền não chi phối.
Trong văn hóa Phật giáo Á Đông
Khái niệm này thường được liên hệ với:Tế Điên (hình tượng dân gian nổi tiếng).
Một số vị thiền sư "cuồng thiền" trong truyền thống Thiền tông.
Các câu chuyện về bậc chân tu dùng phương tiện khác thường để khai ngộ đệ tử.
Tuy nhiên, các câu chuyện dân gian thường được thêm thắt, nên không phải tất cả đều được xem là giáo lý chính thống.
Tóm tắt
Bồ Tát nghịch hạnh là vị Bồ Tát dùng phương tiện giáo hóa khác thường, có vẻ trái với quy tắc thông thường nhưng xuất phát từ trí tuệ và lòng từ bi nhằm cứu độ chúng sinh. Khái niệm này nhấn mạnh "phương tiện thiện xảo", chứ không có nghĩa là cho phép làm điều bất thiện hoặc phá giới một cách tùy tiện.
********************
Bồ Tát (Sanskrit: Bodhisattva) là người phát tâm cầu giác ngộ không chỉ cho bản thân mà còn vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Lý tưởng Bồ Tát đặc biệt được nhấn mạnh trong Phật giáo Đại thừa.
Đặc điểm của Bồ TátPhát Bồ-đề tâm: nguyện thành Phật để cứu độ chúng sinh.
Thực hành lòng từ bi và trí tuệ.
Tu tập các hạnh lành, thường được nói đến qua Lục Ba-la-mật:Bố thí
Trì giới
Nhẫn nhục
Tinh tấn
Thiền định
Trí tuệ
Một số vị Bồ Tát nổi tiếng
Quán Thế Âm Bồ TátBiểu tượng của lòng từ bi cứu khổ.
Văn Thù Sư Lợi Bồ TátBiểu tượng của trí tuệ.
Phổ Hiền Bồ TátBiểu tượng của hạnh nguyện và thực hành.
Địa Tạng Vương Bồ TátNổi tiếng với đại nguyện cứu độ chúng sinh trong các cõi khổ.
Bồ Tát có phải là Phật không?
Không hoàn toàn. Theo cách hiểu phổ biến của Đại thừa:Phật là người đã thành tựu giác ngộ viên mãn.
Bồ Tát đang trên con đường hướng đến Phật quả, đồng thời nguyện giúp đỡ chúng sinh.
Một số vị Bồ Tát được tôn kính rất cao và được xem là đã đạt trình độ giác ngộ cực kỳ sâu rộng.
Theo Phật giáo nguyên thủy (Theravāda)
Khái niệm Bồ Tát cũng tồn tại, nhưng thường dùng để chỉ tiền thân của Thích Ca Mâu Ni trước khi thành Phật. Lý tưởng tu tập trọng tâm là trở thành A-la-hán, trong khi Đại thừa nhấn mạnh lý tưởng Bồ Tát.
NKT-Tùng biên soạn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét