Tôi rời Sài Gòn vào những ngày cuối cùng của tháng Tư năm 75, khi thành phố như nín thở trước một cơn sóng lớn không thể cưỡng. Làn sóng dữ tràn từ phương Bắc khi miền Nam đang bị bỏ rơi. Tôi còn nhớ rất rõ buổi sáng hôm đó Saigon hỗn loạn, bầu trời đục màu khói, đường phố đông người tất tả ngược xuôi, tiếng trực thăng quần thảo trên đầu như xé nát cả không gian. Tôi đi, không phải vì muốn, mà vì không còn lựa chọn nào khác. Bộ quân phục lính biển vẫn còn trên người, nhưng tôi biết từ giây phút bước chân lên chuyến tàu định mệnh đó, mình không còn là người lính của quê hương thân yêu nữa, chỉ là một kẻ lưu vong mang theo quá khứ không thể gỡ bỏ.
<!>
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng Sài Gòn trong tôi vẫn còn nguyên vẹn như ngày nào. Đó là những con đường rợp bóng me nơi tôi từng đạp xe đến trường, là những ngày mưa gió bão bùng vẫn cố gắng đạp xe đi dạy tư gia, là quán cà phê góc phố nơi tôi và bạn bè ngồi bàn chuyện đời, là tiếng rao đêm len lỏi qua từng con hẻm nhỏ. Saigon của một thời của thanh bình, thịnh vượng.
Thành phố ấy đã nuôi lớn tôi, dạy tôi biết yêu thương, biết tự trọng, và sau này, cho tôi biết thế nào là mất mát, là chia xa. Người ta nói thời gian sẽ làm mờ ký ức, nhưng với tôi, thời gian chỉ khiến mọi thứ trở nên sắc nét hơn, như một vết sẹo không bao giờ lành, chỉ âm ỉ nhắc rằng nó vẫn còn hiện diện ở đó.
Nơi đất khách, tôi đã học cách bắt đầu lại. Mọi khó khăn lúc đầu rồi cũng qua. Tôi cố gắng học hành, làm việc, tự nuôi lấy mình, cố gắng sống một cuộc đời bình thường như những công dân bản địa.
Có nhiều đêm rất dài, khi mọi thứ yên tĩnh, tôi mơ thấy mình đứng giữa Sài Gòn cũ, nghe tiếng xe lam, xích lô máy, nhìn dòng người qua lại, và cảm nhận một thứ bình yên trong tâm mà tôi không bao giờ tìm lại được.
Nỗi nhớ quê hương, người thân, trong những ngày đầu thật quay quắt, rồi cũng trôi theo năm tháng, không ồn ào, nhưng bền bỉ như dòng máu qua tim, không nhìn thấy, nhưng luôn hiện hữu, sống động.
Có người hỏi tôi sao không về thăm lại quê hương, cho vơi nỗi nhớ như những người khác. Tôi cười buồn. Thực sự, tôi đã về một lần duy nhất cuối năm 2000, sau 25 năm nơi xứ người, để thăm lại những người ruột thịt, xóm làng thân thiết, vì nỗi nhớ như chiếc bong bóng thổi phồng quá to, không kìm hãm được.
Ngày xưa, trước 1975, Sài Gòn trong ký ức của nhiều người là một thành phố tuy chiến tranh nhưng vẫn có nét thanh lịch riêng, một Hòn Ngọc của Viễn Đông, dù không có những toà nhà cao chót vót như bây giờ. Người ta nhắc tới sự lịch sự ngoài đường, cách ăn mặc chỉnh tề, quán cà phê có nhạc nhẹ, người bán hàng nói năng mềm mỏng. Cuộc sống có thể khó khăn vì chiến tranh, nhưng nhiều người nhớ tới cảm giác “có tình người” và một nhịp sống chậm, yên bình, thoải mái.
Khi trở lại sau 25 năm, điều dễ thấy nhất có lẽ là sự thay đổi quá nhanh. Nhà cửa chen chúc hơn, xe cộ đông nghẹt, tiếng còi xe liên tục. Thành phố đông đúc hơn, nhưng cũng vội vàng hơn, có cảm giác ai cũng tất bật kiếm sống.
Bước xuống phi trường, điều đầu tiên là một cảm giác nghẹn trong lòng, buồn vui lẫn lộn, khó tả. Vui vì được nhìn lại người thân. Vui vì vẫn còn sự thân tình rất Việt. Người thân ôm mình khóc. Hàng xóm cũ vẫn còn nhớ tên mình. Những món ăn cũ vẫn còn đó: tô phở, ly cà phê sữa đá, tiếng nhạc Bolero từ đâu lén lút vang lên.
Mùi không khí nóng ẩm, tiếng xe máy, tiếng rao hàng… tất cả như kéo mình trở lại tuổi thơ. Có những thứ tưởng chừng đã quên, nhưng chỉ cần nghe lại là ký ức tự bật dậy. Những thứ đó làm mình thấy mình vẫn thuộc về nơi này. Nhưng cũng thấy một khoảng cách nào đó. Sau nhiều năm chiến tranh, nghèo khó, xã hội đổi thay, con người có phần dè dặt hơn, thực tế hơn. Có người nhìn Việt kiều với sự quý mến, ước ao, nhưng cũng có người nhìn bằng tiền bạc hay lợi ích.
Buồn vì không khí ngột ngạt không thoải mái như ngày xưa. Điều đó dễ làm người trở về chạnh lòng, vì mong gặp lại tình cảm cũ nguyên vẹn của Saigon ngày nào. Một cảm giác rất cần và thật của nhiều người hồi hương.
Nỗi buồn lớn nhất có lẽ không phải thành phố thay đổi, mà là nhận ra thời gian đã lấy đi một thế hệ, một nếp sống, một không khí cũ không thể trở lại nữa với những con đường, thành phố, không còn tên cũ như trong ký ức.
Tuy vậy, có nhiều người vẫn thấy nhẹ lòng khi trở về. Vì dù đất nước đổi thay thế nào, cảm giác họ được nghe tiếng Việt quanh mình, được thắp nhang cho cha mẹ, được đứng trước căn nhà cũ… là điều không nơi nào thay thế được. Có lẽ cảm xúc thật nhất là: vừa đau, vừa thương lẫn lộn, vì mình còn có cơ hội quay lại nhìn quê hương bằng đôi mắt của một người đã vắng đi một thời gian khá dài.
Với tôi chỉ một lần đó rồi thôi.
Làm sao tôi có thể trở về nhiều lần khi nơi ấy không còn là Sài Gòn thân yêu mà tôi từng biết? Khi nhìn đâu cũng thấy màu cờ đỏ. Khi những khuôn mặt cán bộ lầm lì, ngột ngạt, không tình người ở những quầy kiếm soát sân bay nhìn những người lưu vong với ánh mắt thiếu thiện cảm? Khi những giá trị mà tôi đã sống và chiến đấu để bảo vệ giờ trở nên mất mát, khó hoà mình, khó thẩm thấu?
Tôi có cảm tưởng như mình đang đi thăm một nước lạ nào đó.
Tôi không nói mình đúng hay sai, nhưng tôi biết mình không thể đứng trên mảnh đất ấy với một tâm trạng thanh thản, thân tình như xưa kia mỗi lần về lại Saigon sau thời gian công tác xa. Không phải vì tôi ghét, mà vì tôi không thể hòa hợp với những điều đã và đang xảy ra, với những mất mát, những chia cắt, và cả với những điều tôi cảm thấy vẫn chưa được đối diện một cách công bằng, nói một cách khác đó là sự yên ổn trong tâm hồn, hay cảm thấy an tâm mừng rỡ khi trở về.
Tôi đã từng là một người lính VNCH của ngày xưa. Điều đó vừa là niềm tự hào, vừa là nỗi day dứt. Tự hào vì tôi đã sống và chiến đấu theo niềm tin của mình, nhưng cũng day dứt vì cuối cùng, tôi không giữ được điều mà mình đã thề bảo vệ.
Có những lúc tôi tự hỏi, nếu ngày đó tôi ở lại, liệu tôi có làm được gì khác không? Nhưng câu hỏi ấy không có câu trả lời. Nó chỉ ở đó, lặp đi lặp lại, như một tiếng vọng buồn thiu trong lòng.
Điều khiến tôi đau nhất không phải là cuộc sống lưu vong, mà là cảm giác bất lực khi nghĩ về quê hương. Tôi nhìn thấy những đổi thay, những phát triển ít nhiều, nhưng đâu đó vẫn nghe đầy những câu chuyện về bất công, về tham nhũng, về những tiếng nói bị kìm nén, những thiệt thòi mất mát của những người dân oan khiếu kiện vì bị chiếm đất đai nhà cửa nhiều năm không được giải quyết thỏa đáng, và rất nhiều cán bộ với những ăn tiêu, gia sản như những triệu phú nước ngoài dù lương họ không bao nhiêu.
Tôi không dám nhận mình hiểu hết mọi thứ, nhưng trái tim tôi không cho phép tôi thờ ơ với những bất công đó dẫy đầy trước mắt. Có lẽ vì tôi đã thấm nhuần và quen với những sự công bằng, tự do, mọi chuyện hầu như bạch hoá, và nhất là con người dù thấp hèn ra sao vẫn được tôn trọng như nhau nơi xứ người.
Tôi yêu Việt Nam, yêu Saigon, một tình yêu đầy xót xa của một người đã mất nó, và vì thế, tình yêu ấy luôn pha lẫn nỗi buồn mang mang khó tả. Nhất là Saigon, cái nôi tôi đã lớn lên từ đó, thở những không khí hiền hoà đầy ắp tình người. Cảm xúc khi trở về có lẽ rất phức tạp, vừa quen vừa lạ, vừa mừng vừa đau. Có lẽ cảm giác rất thật của tôi là: Đây vẫn là quê hương mình, nhưng không còn hoàn toàn là quê hương của thời tuổi trẻ đầy tình người, yêu thương tha thứ cho nhau.
Có lẽ, với nhiều người, tôi là kẻ cố chấp, không chịu buông bỏ quá khứ. Nhưng họ không hiểu rằng quá khứ ấy chính là một phần của con người tôi. Nếu tôi quên đi, chẳng khác nào tôi đã đánh mất chính mình.
Một lần ấy rồi thôi. Tôi không về nữa, không phải vì tôi muốn xa lánh quê hương, nhưng vì trong lòng tôi, quê hương Việt Nam gấm vóc ấy vẫn còn nguyên vẹn, một Sài Gòn của tự do, của ký ức, của những ngày chưa bị vùi dập, chưa bị đổi tên.
“Saigon ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời…”. Một câu hát xé lòng.
Tôi đã sống hơn nửa đời người nơi đất khách, tuổi đời lưu vong nhiều hơn ở đất nước mình, nhưng mỗi khi nhắm mắt, tôi vẫn thấy mình là chàng trai năm xưa, đứng giữa Sài Gòn, chưa kịp hiểu hết cuộc đời đã phải rời xa.
Tôi luôn tự nói với lòng mình nếu một ngày nào đó Việt Nam thân yêu của tôi không còn bị cai trị bởi tập đoàn Cộng sản, đầy vị kỷ, chỉ biết vinh thân phì gia, không đặt đất nước lên hàng đầu, không xem dân túy là hành xử căn bản. Lúc đó không riêng cá nhân tôi mà đa số dân tị nạn sẽ vui mừng quay về xây dựng lại quê hương cho một Việt Nam Tự Do và hùng cường của thời Lê, Lý, Trần…
Có những điều có thể không thay đổi, có những vết thương không thể chữa lành. Tôi chỉ biết giữ lấy hy vọng đó và ký ức đó như một cách để tồn tại. Đó là một sợi dây vô hình cuối cùng đã, đang và sẽ mãi mãi thắt chặt tôi với nơi chôn nhau cắt rốn.
Nếu một ngày, tôi không còn nữa, tôi chỉ mong mọi người hiểu rằng tôi chưa bao giờ quay lưng lại với quê hương. Tôi chỉ chọn giữ nó trong tim mình nguyên vẹn dù đau đớn, nhưng cũng ngập đầy yêu thương.
Và có lẽ, đó là cách duy nhất tôi có thể làm, với tất cả những gì của một người lính biển già, đã đi qua một cuộc chiến, và mang theo nó suốt phần đời còn lại của mình trong nỗi buồn khôn nguôi.
Tango2u N
05/2026

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét