Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Hai, 12 tháng 9, 2016

Lá Thư Úc Châu Trang Thơ Nhạc ngày 14 - 9 - 2016 - TS Nguyễn Nam Sơn

1. Vào Miền Nam : Phạm Duy - HX - Gs TranNangPhung - HungThe -  NNS
<!>
2. Cung Đàn Thúy Kiều: Nguyễn Du - Ngọc Thịnh - Anh Thơ - Gs TranNangPhung - HungThe -   NNS
3. Lúa Mùa Duyên Thắm: Trịnh Hưng - Như Quỳnh - Thế Sơn - GsTranNangPhung - HungThe -   NNS
4. Cô Lái Đò: Nguyễn Đình Phúc - Nguyễn Bính -  Ngọc Bảo - Gs TranNangPhung - HungThe -   NNS
5.  Hoài Cảm: Cung Tiến - Ngọc Hạ - Gs TranNangPhung - HungThe -   NNS
6. Cỏ Úa: Lam Phương - Lâm Thúy Vân - Don Hồ - Gs TranNangPhung - HungThe -   NNS
7.  Gõ Cửa: Anh Bằng - Tuấn Vũ - Gs TranNangPhung - HungThe -  NNS
LaThuUcChau bị phá "tơi tả" nên không chuyển đi được. Cậy nhờ Bằng hữu chuyển cho Bạn bè cùng đọc. Kính.
Tình thân,
NNS
.............................. .............................. .............................. .................
Chuyện Thời sự & Xã hội

(i) Nguyễn Anh Tuấn: Kính gởi cụ Nguyễn Du
Nhân dịp về Hà Tĩnh vào ngày Giỗ lần thứ 196 của đại thi hào (10.8 ÂL)
Thưa Thanh Hiên Nguyễn tiên sinh!
Con xin được gọi Cụ bằng danh xưng mà lúc sinh thời của Cụ, mọi người vẫn gọi một cách thương quý và kính trọng. Trong ngày Huý kỵ lần thứ 196 của Tiên sinh, con xin được thắp nén tâm nhang, rót chén rượu nhạt rưới trên mộ Cụ (theo ý tứ của Cụ trong thơ)(1), và nhỏ giọt lệ máu để trình báo với Cụ chuyện dương thế đau buồn vừa qua, về những kiếp người của thập loại chúng sinh Cụ từng thương khóc.
Dòng sông Lam ngày đêm soi bóng núi Hồng Lĩnh như còn văng vẳng nỗi u hoài của Cụ: “Bách niên đa thiểu thương tâm sự” (Cuộc đời trăm năm biết bao chuyện thương tâm). Nhưng nỗi thương tâm lớn vừa đổ ập xuống quê hương Cụ, xuống dân tộc này, con chắc Cụ khó hình dung nổi… Cụ luôn luôn tự hào về dòng họ, về gia đình, như lời con cháu dòng họ Nguyễn Tiên Điền khắc trên bia đá tưởng niệm Cụ Nguyễn Quỳnh: “Khi tưởng nhớ đến cứ dõi trông vầng nhật nguyệt/ Những lời truyền dạy sống mãi với núi sông này” (Cảm thời tuy nhật nguyệt /Truyền ngữ thử giang sơn); và bởi vậy Cụ lại càng xa xót quặn đau trước sự suy đồi của phong hóa, đạo lý từ trong tế bào gia đình tới thượng tầng xã hội – suốt trong thời của Cụ cho đến tận thời nay!
Chuyện mua bán chức vụ, bằng cấp trắng trợn; chuyện không ít kẻ có quyền thế lẽ ra phải biết xót thương dân thì lại nhẫn tâm cưỡng bức dân lành, tận thu đến xương tủy kẻ nghèo rớt, đổi trắng thay đen; chuyện mua thần bán thánh, tranh cướp lộc ngay trong đình, chùa; rồi chuyện mẹ hành hạ con như kẻ thù, con giết cha, anh giết em, thầy hãm hiếp trò…; và mới đây nhất, chỉ sau bốn tháng Đại lễ kỷ niệm 250 năm sinh của Cụ được tổ chức long trọng tại thành phố Hà Tĩnh, cả một vùng duyên hải rộng lớn từ Hà Tĩnh tới Thừa Thiên – Huế bị đầu độc thê thảm, khiến những cánh bướm chết khô muốn vĩnh viễn yên thân cũng phải rùng mình vụt bay khỏi trang sách của Cụ, và Cụ thì chắc phải viết “Phản chiêu hồn” cho chính mình khi muốn đội mồ vùng dậy kêu trời! Không phải mất công đi tìm “Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này”, kẻ gây ra đại thảm họa trên, “Đích danh thủ phạm tên là… Formosa”! Khắp vùng quê Cụ và các vùng quê lân cận giờ đây chắc chẳng có ai còn đủ sức lực lẫn tâm trí nào để Bói Kiều, Vịnh Kiều, Đố Kiều, hát Trò Kiều như hai trăm năm qua, khi nỗi lo lắng cho sự sinh tồn hàng ngày và tương lai đương đè nặng lên bao số phận vốn đã bấp bênh nay càng khốn khó, hiểm nguy!
Nhưng thưa Cụ, “Trong trường dạ tối tăm trời đất” ấy, biết bao ngư dân và nông dân nghèo khổ đến cùng đường đã chợt thức tỉnh Quyền sống, Quyền làm người của mình, không phải nhờ một chiến dịch tuyên truyền giáo dục nào mà chính là nhờ vào “bài học” cay đắng do bọn bá quyền đại Hán khát máu núp lưng mượn bóng Formosa vừa giáng xuống Biển – Trời – Đất Việt “một đòn chết bảy”! (Tên một bộ phim thần thoại Đức). Formosa, cùng nhiều dự án khủng lẫn các công trình lớn nhỏ có bàn tay Trung Quốc thọc vào đã và đang gây nên biết bao xáo trộn, đổ vỡ, nguy cơ rình rập trên khắp Đất nước ta ở các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, chính trị, an ninh, quân sự… Đằng sau đó là âm mưu độc địa, là tham vọng dữ dằn của một chủ nghĩa căn tính sói chỉ hòng lăm le xé nát rồi ăn tươi nuốt sống thiên hạ mà Đất nước ta là miếng mồi ngon, vật hiến tế đầu tiên.
Trong “một cuộc đi về phía Bắc” (Bắc hành), ở cương vị một ông quan sứ, bằng “tấc lòng” đau đớn của mình, Cụ đã giúp người đương thời và người hôm nay phát hiện ra cái thực tại tang thương khốn khổ ở đất nước Trung Hoa, và có thể nói chính Cụ là một trong những người Việt đầu tiên quyết liệt giương ngọn cờ thoát Trung bằng sự giải ảo, giải thiêng chế độ phong kiến mạt kỳ và giải thiêng giải ảo Trung Hoa vô cùng đáng sợ được đại diện bởi những kẻ mà Cụ đã lột mặt nạ: “không để lộ nanh vuốt nọc độc nhưng ăn thịt người ngọt xớt như đường” (“Bắc hành tạp lục”). Vâng thưa Cụ, hậu duệ của bọn “ăn thịt người” ấy đang hiện diện tràn lan ở nhiều nơi hiểm yếu của nước ta, cùng với những hành động ngang ngược ở biển Đông, chúng bắt đầu lộ mặt là những kẻ tội phạm hủy diệt Môi trường đe doạ sự sống của 300 triệu dân thuộc 9 quốc gia, và quả bom Môi trường-Sinh thái có sức hủy hoại ngót 300 km biển và cuộc sống của hàng triệu người đã phát nổ kinh hoàng ngay tại quê hương của Cụ!
Vâng, chưa xa Ngày Đại dương Thế giới 2016, trên bãi biển chết hiện giờ, khi đêm xuống, con quái vật Formosa vẫn đang nhâng nháo thách thức bằng một lâu đài huyền thoại dát vàng, sáng nhức mắt một góc trời biển Đông, nó từng lừa bịp lấy mất cả hồn vía của những bậc “phụ mẫu chi dân” cao nhất địa phương này. (Và cũng có cả người tình nguyện được lừa nữa!). Trong Hội thảo quốc tế kỷ niệm 250 năm sinh của Cụ(2), đương kim Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Hà Tĩnh, Võ Kim Cự lúc đó, với lời phát biểu gần như mở đầu cho 127 bản tham luận của Việt Nam và các nước đã hồ hởi: “…trong những năm qua, tỉnh Hà Tĩnh đã nỗ lực bứt phá, vươn lên đạt nhiều thành tựu vượt bậc… Thu hút đầu tư nước ngoài đứng ở hàng thứ 6 cả nước. Khu kinh tế Vũng Áng là một trong 5 khu kinh tế ven biển trọng điểm quốc gia… Tại đây, đang hình thành một trung tâm công nghiệp nặng lớn nhất của cả nước với khu Liên hợp luyện thép 22 triệu tấn/năm, trung tâm nhiệt điện công suất 7.200 MW và cụm cảng nước sâu Vũng Áng – Sơn Dương (59 cầu cảng, cho phép tàu từ 5 vạn đến 30 vạn tấn cập bến)…” (Kỷ yếu Hội thảo trên).
Chỉ hơn nửa năm sau, người từng hân hoan tới độ “Đến bây giờ mới thấy đây/ Mà lòng đã chắc những ngày một hai” trước con quỷ dữ đội lốt người đã phải bẽ bàng, ú ớ trước báo chí chính thống: “Formosa đầu tư lớn, có ai ngờ…” (Tuổi trẻ Tp.HCM ngày 25.7.2016). Mọi người có thể tin rằng: quả thực ông ta không ngờ Formosa lại gây ra tội ác hủy diệt không gian sống của con người khủng khiếp đến thế (nhà văn Hoàng Quốc Hải đã khẳng định “là một vụ đầu độc khổng lồ có dự mưu chứ không phải vô tình. Một thảm họa môi trường do con người gây ra với quy mô lớn như thế này chưa từng một lần xảy ra trên trái đất!” – Văn nghệ số 32 ngày 6.8.2016). Nhưng mọi người hồ nghi việc ông ta và các quân sư đã không “dò cho tới ngọn nguồn lạch sông” để nhận ra lý lịch bất hảo của cái tập đoàn từng được trao giải “Hành tinh đen”, từng bị tẩy chay, nguyền rủa ở nhiều nơi trên thế giới và ở ngay chính quê hương của nó. Và chắc họ phải thừa biết, chống lưng đằng sau cái C.ty mang tên Đài Loan kia chẳng phải là “kẻ lạ” nào! Nhưng ông Võ Kim Cự và những người có trách nhiệm của tỉnh khi đó đã “cố đấm ăn xôi”, bằng mọi giá trải thảm đỏ rước “của nợ” khốn nạn tột cùng lưu manh đó vào Sơn Dương – Vũng Áng nhà mình, vốn là một trong bốn yếu huyệt bảo vệ an ninh lãnh thổ Việt Nam từ hướng biển, mau chóng tạo những ưu đãi tốt nhất cho nó, bất chấp “quy luật phát triển bền vững, quyền lợi của dân, sự phát triển kinh tế mà không ảnh hưởng tới môi trường, xã hội” – như những lời cửa miệng của họ!
Nhưng trong bao điều chê trách, đàm tiếu, phê phán “những kẻ mũ cao áo rộng”- như chữ dùng của Cụ, thực ra cũng có phần oan ức cho họ, bởi xét tận cùng, “sự cố Formosa”- theo cách nói giảm khinh của những nhà chính trị- chỉ là giọt nước làm tràn đầy cốc nước của thảm họa Môi trường-Sinh thái nhiều tập ở nước ta. Tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về công tác bảo vệ môi trường ngày 24.8 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ hiện giờ cũng phải khẳng định: tình trạng ô nhiễm môi trường bùng phát gần đây là do tích tụ từ lâu trong quá trình phát triển, giờ bắt đầu bộc lộ.
Thưa Thanh Hiên Nguyễn tiên sinh, con buộc phải nói ra cái sự thật này: Giữa lúc cả xã hội loài người đang xao xác, tơi tả bởi những vấn đề Môi trường cùng các hệ lụy đau lòng bởi Môi trường bị tàn phá, Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, giữa khi con người trên khắp hành tinh đang bị Thiên nhiên trả thù đích đáng bởi sự thiển cận, độc ác, tham lam của chính mình, trong khi Việt Nam và các quốc gia trên thế giới đang cần đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh sinh thái và thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ, thì những người có trách nhiệm của Bộ Tài nguyên & Môi trường nước ta (cùng các Bộ-Vụ-Viện có liên quan) – nói như một nhà khoa học Môi trường Việt Nam, tiến sĩ Nguyễn Đắc Hy – trong nhiều năm qua “đã làm Môi trường mà không hiểu nội dung thực sự của Môi trường… Người ta mới chỉ làm chính trị về Môi trường chứ chưa làm Môi trường.”(3). (Cái tối kiến: “biển tự làm sạch”, cũng như hành động biểu diễn xuống biển chưa hết độc để tắm rồi ăn hải sản… cũng là những biến thái của lối “làm chính trị về môi trường”! Thậm chí, một vị quản lý cấp Bộ chắc cũng phải có bằng tiến sĩ khoa học đã trâng tráo bênh vực Formosa bằng sự bịp bợm chính trị: cá chết hàng loạt là bởi thủy triều đỏ, tảo nở hoa!).
Suốt một thời gian dài (từ 1983 tới nay), nhiều lần nhà khoa học Môi trường giàu lương tâm nói trên đã kiến nghị với những người có trách nhiệm: vấn đề không chỉ là bảo vệ Môi trường, mà còn phải bảo vệ Tài nguyên và rất nhiều vấn đề khác quan trọng không kém của Môi trường, vì thế cần phải có Luật Môi trường! Nhưng tiếng nói của ông bị chết yểu, cho đến nay vẫn chỉ là Luật Bảo vệ Môi trường! (Hiện giờ mới đang có đề nghị đổi thành Luật Môi trường). Mọi hậu quả trước nay vẫn quy lại là do “Bất cập đánh giá tác động môi trường”, mà thực chất chỉ là “những báo cáo ĐTM chung chung và hình thức”- như chính ông Bộ trưởng TN&MT đã phải thú nhận tại hội nghị triển khai nhiệm vụ của bộ này tổ chức vào ngày 18.7.2016. (Tuổi trẻ Tp.HCM ngày 19.7.2016). Những lần buộc phải thú nhận như vậy sau bao sự cố Môi trường cùng những lời hứa hẹn thề thốt nhiều như lá đa khiến mọi người liên tưởng tới một nhân vật của Cụ lúc “Quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
Sự trì trệ, bảo thủ, tầm nhìn hẹp, yếu kém về chuyên môn, cộng với tình trạng tham nhũng khoa học, quyền lợi nhóm đã khiến Sự nghiệp Môi trường của nước ta trở nên lạc hậu so với thế giới hàng thập kỷ, và là căn nguyên của cả một hệ thống chính sách sai lầm, kém cỏi (và, xin lỗi, ngu xuẩn) về các vấn đề Môi trường. Điều đó dẫn tới hệ quả là Môi trường ô nhiễm tràn lan, Thiên nhiên bị tàn phá không thương tiếc, Tài nguyên (tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên con người) bị khai thác bừa bãi, phung phí, khiến những ai có lương tri và hiểu biết đều phải đau xót đến đứt ruột.
Thưa Cụ, người ta đã tàn phá bãi biển miền Trung tuyệt đẹp vì khai thác ti-tan ồ ạt, những quả bom bùn đỏ treo lơ lửng ở Tây nguyên sẵn sàng đổ ụp xuống bất cứ lúc nào để dìm trọn cư dân vùng đồng bằng Nam Trung bộ, rác thải độc hại hàng ngàn tấn chôn lấp khắp nơi (nhức nhối nhất là rác độc Formosa ở Kỳ Anh – Hà Tĩnh), việc xả nước đầu nguồn để phi tang ô nhiễm nhân danh thủy điện cuốn theo các chất độc hại về hạ nguồn, đầu độc tất cả nguồn nước sinh hoạt & sản xuất, hàng trăm ngàn ha rừng kể cả rừng bảo hộ lẫn rừng đầu nguồn khắp ba miền bị bán và bị xẻ thịt vô tội vạ, những “nạn nhân Thị Vải” tương lai đang thót tim chờ đợi số phận mình, những dòng sông từ Bắc vào Nam vốn ứ tràn phù sa bị bức tử nhiều lần, nay đang hấp hối, v.v. Còn biết bao minh chứng hùng hồn nữa mà con chưa kể đến!
Nhà khoa học Nguyễn Đắc Hy, trong công trình đồ sộ “Môi trường và con đường phát triển” đã phân tích khá kỹ lưỡng hai nội dung khái niệm: “Tài nguyên Thiên nhiên” và “Tài nguyên Con người” (“Tài nguyên con người” là một khái niệm đang được các nước tiên tiến coi là nhân tố hàng đầu của phát triển), cùng khái niệm “Lượng giá trị của tài nguyên” trong mối quan hệ khăng khít với Môi trường và những vấn đề kinh tế học của Môi trường… Đặc biệt, tác giả đã chỉ ra rằng: vấn đề tranh chấp Tài nguyên là điều vượt ra ngoài các hệ thống chính trị! Sau khi nói đến tình trạng khai thác bừa bãi vốn Thiên nhiên, vốn Con người suốt những năm qua, tác giả thốt lên: “vốn Tài nguyên đó của Đất nước nếu không biết quý trọng, không biết khai thác, quản lý một cách khoa học và có lương tâm thì sẽ có tội lớn với Dân tộc!” Ông đã bị lãnh đạo các cơ quan nhìn bằng con mắt ghẻ lạnh, thù ghét vì dám nói tới sự bất cập, phi lý trong chuyện khai thác các khu công nghiệp, sân golf… dẫn tới mất bao bờ xôi ruộng mật dành cho nông nghiệp, trong việc đầu tư, xuất khẩu lao động bừa bãi…
Ông bảo: ở nước ta, người nghiên cứu kinh tế thường chỉ quan tâm đến đồng tiền nhảy múa mà bỏ quên vấn đề Tài nguyên (Thiên nhiên và Con người). Từ nguyên lý kinh điển của Adam Smith cách đây 3 thế kỷ (một học thuyết kinh tế cho rằng của cải một quốc gia gồm đất đai + vốn sản xuất + vốn con người, và đã chỉ ra mối liên hệ giữa những thay đổi của cải và tính bền vững của sự phát triển), tác giả “Môi trường và con đường phát triển” đã cảnh báo: “nếu một nước mà tài nguyên bị khai thác cạn kiệt hay dùng vào các mục tiêu công nghiệp, thương mại không cân đối với phát triển con người trong tương lai thì điều đó đồng nghĩa với suy thoái và nghèo đói.” Và ông khẳng định: “Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, nơi nào mà các chỉ số bền vững về kinh tế – xã hội như: mức sống, sức khoẻ, văn hoá, dân số, tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường ngày một gia tăng nơi ấy sẽ tồn tại và phát triển. Chỉ có áp dụng đầy đủ các nguyên lý sinh thái học chúng ta mới có thể xây dựng được nền kinh tế xã hội bền vững”. (4)
Trong cuốn sách “Tiếng chuông cảnh tỉnh cho thế kỷ XXI” của hai tác giả Aurelio Peccei (Italia) và Daisaku Ikeda (Nhật) viết những năm cuối thế kỷ XX có những dòng trước hết “cảnh tỉnh” cho những nhà cầm quyền nước ta hiện tại: “Thật vô lý nếu chúng ta xao lãng những cơ hội to lớn mà nhân loại có được do kết quả của tri thức cùng những phương tiện khoa học; và cũng thật vô lý nếu chúng ta từ chối trách nhiệm cải thiện số phận của chính chúng ta.” Trong khi cố gắng “thức tỉnh con người”, thực hiện “cuộc cách mạng con người”, hai tác giả đó đã nhấn mạnh yếu tố “con người” như một dạng năng lượng đặc biệt có sức mạnh kỳ diệu: “Chúng tôi cho rằng, rất nhiều vấn đề chủ yếu hiện nay là thuộc về tư tưởng và đạo đức, và không có một sức mạnh khoa học kỹ thuật nào hoặc biện pháp kinh tế nào có thể giải quyết được những vấn đề đó… Khi chúng ta tự hoàn thiện mình từ bên trong, chắc chắn chúng ta không bao giờ bị sụp đổ…” (5)     
Thưa Cụ, điều này hẳn Cụ cũng biết rõ hơn kẻ hậu sinh: cái suy tưởng về giá trị vô song của năng lượng đạo đức – tinh thần – tư tưởng sẽ cứu rỗi thế giới đó, từ hơn hai nghìn năm trước, Đức Phật đã đề cập tới. Và trong kỷ nguyên năng lượng – khí hậu, nhất là trong thế kỷ XXI này, những vấn đề môi trường và phát triển trong mối quan hệ với tư tưởng & đạo đức lại được đặt ra một cách gay gắt hơn bao giờ hết. Martin Luther King, nhà hoạt động dân quyền người Mỹ gốc Phi, người đoạt giải Hòa Bình năm 1964 đã từng nói: “Trong đống ngổn ngang hài cốt và tàn dư của nhiều nền văn minh, nổi lên một dòng chữ đầy nuối tiếc: Quá muộn rồi. Sau đây, chúng ta sẽ đi về đâu, sự hỗn loạn hay một cuộc sống cộng đồng?” (6)
Thưa Thanh Hiên Nguyễn tiên sinh, trong ngày Giỗ Cụ, con đã quấy quả Anh hồn Cụ quá nhiều, cũng bởi sự thôi thúc, kêu cứu từ hàng triệu đồng bào của Cụ và của con đang choáng váng, mệt mỏi, tuyệt vọng và hỗn loạn trước một đại thảm họa Môi trường-Sinh thái chưa từng thấy đã được báo trước liên quan tới sự tồn vong của giống nòi; và những người đã chết vì ngộ độc cùng các sinh vật Biển yểu mệnh đang trong cảnh ngộ vật vờ “Mà cô hồn biết bao giờ cho tan” như Cụ từng đồng cảm… Chắc chắn phải mất nhiều thập niên nữa, hệ sinh thái quý giá của thềm lục địa miền Trung may ra mới có thể khôi phục được ít nhiều!
Trước giọt nước mắt đang lặng lẽ chảy của người phụ nữ ngư dân Kỳ Anh chưa biết mai đây sống ra sao khi biển chết không có thời hạn và trước đôi mắt ngơ ngác của bé gái bị thất học đang chờ bố suốt mấy tháng nay đưa anh trai đi phiêu bạt làm thuê, con lại nhớ đến nỗi xót thương vô bờ của Cụ đối với Thập lọai chúng sinh cùng những câu thơ Kiều rớm máu, những câu thơ như thầm nhắc nhở cháu con điều đơn giản song hệ trọng: “Thiện căn ở tại lòng ta/ Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài”, cũng có ý nghĩa tựa lời nhắn gửi của hai học giả hiện đại nước ngoài nọ: “Khi chúng ta tự hoàn thiện mình từ bên trong, chắc chắn chúng ta không bao giờ bị sụp đổ…”. Mà để làm được điều này, người Dân lại cần đến rất nhiều sự hỗ trợ công tâm, chính trực của một Chính quyền trong sạch, biết thương Dân thực sự.
Các nhà nghiên cứu đã phân tích nhiều và khẳng định chắc chắn về những giá trị văn chương bất hủ của Cụ; nhưng về phẩm cách Con người Cụ trên cương vị một quan chức trong hệ thống công quyền nhà Nguyễn còn ít được đề cập tới. Mà gốc rễ của phẩm cách đó, chính là tình thương Dân nghèo- kể cả người dân nghèo nước khác, và sự khảng khái của Cụ trước mọi nỗi bất công ở đời- xuất phát từ Sự thật và Lòng xót thương vốn là một căn cốt của đạo Phật, cùng một lương tâm không núi bạc núi vàng nào có thể mua được! Cụ được các thế hệ muôn đời sau ngưỡng vọng không chỉ bởi những áng văn “thiên thu tuyệt diệu từ”, mà còn bởi nhân cách đáng trọng như thế của một bậc “chăn dân” dù ở phẩm Tri phủ hay lên tới chức Cần chánh điện học sĩ, khiến không ít quan chức còn biết xấu hổ thời nay phải ngượng ngùng khi soi vào tấm gương đời Cụ. Đòi hỏi của nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đối với người cầm quyền trong ngày Quốc khánh 2/9: “Cần lấy lại niềm tin trước sự rộng lượng của nhân dân”, cũng là nguyện vọng của hàng chục triệu người Việt hôm nay. Niềm tin ấy, như một tâm thế thiêng liêng của Dân tộc Việt Nam, chính Cụ cũng đã kêu gọi từ hơn hai thế kỷ trước: “Rằng trăm năm cũng từ đây/ Của tin gọi một chút này làm ghi…”
Xin bái lạy Cụ và xin được hóa mấy vần thơ vụng tức cảnh trên mộ Cụ khi con về Hà Tĩnh, coi như lời truy điệu của cá nhân con trước Anh linh đại thi hào:
NGHI XUÂN
Bến sông ngợp gió Tiên Điền
Chòng trành đôi mảnh ngư thuyền dòng Rum
Đâu rồi đỉnh Hống xanh um
Chỉ còn giọt lệ bay trùm Hoan Châu
Cúi nhìn mặt nước trôi mau
Làm thơ chi nữa, thêm sầu Tố Như !…
KỲ ANH
Con đi qua huyện Kỳ Anh
Chợt nhớ Cụ, xót dân lành bơ vơ
Con thuyền chết lặng trên bờ
Rêu đen đang phủ xóa mờ đại dương
Bóng Người quanh quất đêm trường
Khóc cùng Dân, hóa chữ Thương ngàn đời…
***
1. Sinh tiền bất tận tôn trung tửu/ Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi ( Sống mà uống chẳng bao nhiêu/ Chết rồi ai xách rượu theo rưới mồ) // 2. Hội thảo quốc tế: “Đại thi hào dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du: Di sản và các giá trị xuyên thời đại”, do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cùng UBND tĩnh Hà Tĩnh tổ chức vào ngày 08. 8. 2015 tại Hà Nội. //  3,4. Nguyễn Đắc Hy- Môi trường và con đường phát triển– Nxb CAND, HN 2013 // 5. Aurelio Peccei và Daisaku Ikeda – Tiếng chuông cảnh tỉnh cho thế kỷ XXI – Trương Chính dịch, Nxb Chính trị Quốc gia, HN 2011 // 6. Dẫn theo: Phát triển bền vững trong tầm nhìn của thời đại – Viện Sinh thái và Môi trường- HN 2003.
(Hà Nội – Hà Tĩnh tháng 9/2016 - Mai An Nguyễn Anh Tuấn (làm phim, viết văn, viết báo) - Tác giả gửi cho viet-studies ngày 8-9-16

(ii) Huy Đức: Căn nhà & Tự do của một bậc trượng phu
Đã từng nghiền ngẫm các tác phẩm của ông nhưng mãi tới nay mới được gặp mặt. Trực tiếp nói chuyện, mới thấy hết tầm vóc của ông, bậc sỹ phu thời hiện đại.
Ông, tiến sỹ Nguyễn Xuân Tụ, vốn là một nhà khoa học (ngành Sinh Học Tế Bào), sau khi viết “Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ”(1988), ông nhận thấy nếu không có tự do tư duy thì loay hoay trong phòng thí nghiệm cũng chẳng ích gì. Quyết định xin về hưu ở tuổi 53, ông tiếp tục với “Ðôi điều suy nghĩ của một công dân”(1993) rồi kêu gọi cùng “Chia tay ý thức hệ”(1995).
Kể từ đấy đời ông bầm dập hết từ nhà tù lớn, tới nhà tù nhỏ, nhưng ông vẫn giữ cốt cách của một bậc trượng phu, trượng phu từ việc nhà tới việc nước.
Tuy vào Đà Lạt với trọng trách gây dựng Phân Viện của Viện Khoa Học Việt Nam nhưng ngôi nhà mà vợ chồng ông được phân lại vốn chỉ là garage bỏ trống của một khu tập thể. Vì không được cấp “quyền Sử dụng đất” nên ông bà chỉ có thể dựng tạm một căn nhà cấp Bốn, vách gỗ, lợp tôn.
Phường đã từng đề nghị Công ty Quản lý nhà “hợp thức hóa” cho ông nhưng suốt 25 năm qua, thủ tục cứ nhùng nhằng mãi. Nhấc chén rượu, cười, ông nói: “Tất cả đều do chuyện viết ‘phản biện’. Bên Công an đã nói thẳng với mình, và nhắn qua anh Bùi Minh Quốc rằng, việc nhà ở của Hà Sỹ Phu là do Công an quyết định. Có lần một thượng tướng An ninh vào gặp, trước mặt mình, chỉ thị cho Sở CA phải giúp mình giải quyết nhà ở, nhưng mình từ chối. Mình nói nhà ở là quyền của công dân, hãy để cơ quan chức năng về nhà đất giải quyết”.
Tiêu chuẩn “cán bộ hưu trí” đủ để ông được “hóa giá” cái “gara cũ” mà ông bà đã ở 25 năm ấy. Không ai có thể trách nếu ông nhận sổ đỏ… nhưng ông chỉ có thể nhận nó danh chính từ cơ quan nhà đất chứ không thể qua con đường khuất tất. Một căn nhà ở Đà Lạt là một tài sản lớn đối với một người thực sự vô sản. Nhưng ông nghĩ, nếu nhận một căn nhà mà không thể “đi bằng cửa chính” thì không những mình chẳng thể giàu lên mà còn đánh mất những gì quý nhất. Hai vợ chồng U80 vẫn phải sống chật vật trong một căn nhà ọp oẹp. Nhưng cả ông lẫn bà vẫn luôn cười hạnh phúc.
Một nhân sỹ Cao Nguyên từng nói, “Hà Sỹ Phu cần gì nhà, Hà Sỹ Phu đã cư trú trong lòng dân rồi”. Những kẻ ngăn chặn ông sở hữu căn nhà của mình, cho dù ở tòa cao dãy dài thế nào cũng không bao giờ có được vị trí đó của ông, “cư trú trong lòng dân”.

(iii) BBC (10-9-2016): Lên án Facebook gỡ ảnh 'Em bé Napalm'
Facebook đã đảo ngược quyết định kiểm duyệt bức hình Chiến tranh Việt Nam nổi tiếng, sau khi chịu sự chỉ trích nặng nề, từ cả Thủ tướng Na Uy. 
Thủ tướng Na Uy đã phản ứng trước việc Facebook nhanh chóng xóa bỏ bức ảnh "em bé napalm" nổi tiếng do phóng viên của AP chụp hồi Cuộc chiến Việt Nam khỏi mạng xã hội này. “Do là hình ảnh biểu tượng có tầm quan trọng lịch sử, giá trị của việc cho phép chia sẻ cao hơn giá trị bảo vệ cộng đồng qua việc gỡ bỏ, chúng tôi quyết định cho phép lại hình này trên Facebook,” một phát ngôn nhân Facebook nói.
Sau khi bị Facebook xóa bỏ, tấm ảnh này đã được nhiều người Na Uy đăng lên Facebook để phản đối, và Thủ tướng Erna Solberg đã làm điều tương tự hôm thứ Sáu, hãng tin AP nói. Cố vấn truyền thông xã hội Na Uy Sue Llewellyn nói bà tin rằng hành động của Facebook là quá nặng nề. “Tôi hiểu ý họ, nhưng theo tôi thì họ đã phản ứng quá mức cần thiết,” bà nói.
Thông báo từ Facebook giải thích trước đó: "Bất kỳ ảnh nào chụp người để hở toàn bộ bộ phận sinh dục hoặc mông, hoặc để hở toàn bộ khuôn ngực phụ nữ, sẽ bị xóa bỏ". Facebook nói: "Chúng tôi cố gắng tìm cách cân bằng giữa việc cho phép mọi người tự do biểu đạt trong lúc duy trì sự an toàn, tôn trọng nhau trong cộng đồng toàn cầu của chúng ta. Giải pháp của chúng tôi không phải lúc nào cũng hoàn hảo, nhưng chúng tôi sẽ tiếp tục cố gắng cải thiện chính sách của mình cũng như các cách áp dụng chúng."

*** Đức Hồng: Có gì để tự hào về bức ảnh “Em bé Napalm”?
(Tác giả gửi tới BBC từ Tp HCM)
Vài tháng trước, tôi có tình cờ biết được Phan Thị Kim Phúc – cô gái trong bức ảnh “Em bé Napalm” hiện đang sống tại Canada.
Một chút thắc mắc hiện ra trong đầu: tại sao một người là nạn nhân của “Chủ nghĩa tư bản” lại sống dưới vòm trời của một trong những trùm tư bản quốc tế, lại đi sang đất nước mà Quốc hội thông qua luật 30/4 – tức coi ngày 30 tháng 4 là ngày quốc lễ Canada để tưởng niệm những nạn nhân cộng sản Việt Nam đã liều chết vượt biên ra đi tìm tự do?.
Không có lý gì như thế cả, cô ấy phải là một người yêu Chủ nghĩa Cộng sản, căm thù đế quốc Mỹ và những đồng lõa của nó vì đã gây ra vết thương không bao giờ có thể xóa mờ trên cơ thể và tâm trí mới phải. Thế mà Kim Phúc không chỉ sống tại Canada một cách đơn thuần, cô đã phải bỏ trốn, xin tị nạn chính trị tại quốc gia láng giềng của “đế quốc Mỹ” này.
Nguồn gốc của bức ảnh
Youtube còn một đoạn video ghi lại gần như toàn bộ diễn biến sự việc từ lúc máy bay ném bom cho đến khi các em nhỏ trong đó có Kim Phúc chạy ra. Bức ảnh của Nick Út chỉ là một trong những khoảnh khắc ấy.
Cái lạ ở đây là các em nhỏ ấy lại chạy về phía lính Việt Nam Cộng hòa để kêu cứu mà không một chút sợ sệt, sao các em không chọn những người lính Cộng sản Bắc Việt cũng đang lẩn trốn ở ngay gần đó?
Ngay từ đầu người dân đã biết lính Việt Nam Cộng hòa đến không phải để giết hại họ. Nếu muốn thế, lính Mỹ đã bắn hết những ai chạy ra và chẳng để Nick Út sơ cứu rồi mang Kim Phúc đi chữa trị làm gì.
Tại sao Kim Phúc phải chạy trốn khỏi Việt Nam?
Năm 1982, một nhiếp ảnh gia người Đức đến Việt Nam muốn tìm lại cô bé trong bức hình và Kim Phúc trở thành công cụ hoàn hảo cho bộ máy tuyên truyền. Nếu những gì trong ảnh đúng theo những gì người ta tưởng tượng (về tội ác của đế quốc Mỹ) thì mọi việc chẳng có gì đáng nói và Kim Phúc chẳng bị nhà cầm quyền kiểm soát gắt gao như thế. Cô bị bắt nói ra những điều chính quyền muốn. Sau đó, cô bỏ trốn, bị truy lùng, bắt lại, bị buộc thôi học, quản thúc tại gia nghiêm ngặt, giám sát 24/24h “chỉ trừ lúc đi vệ sinh”.
Và cuối cùng, khi có cơ hội Kim Phúc đã chạy trốn và xin tị nạn chính trị ở Canada.
Chiến tranh có phải thứ khủng khiếp nhất?
Chiến tranh luôn đại diện cho điều đáng sợ nhất. Đối với cá nhân Kim Phúc, đó là vết sẹo trên cơ thể và trong tâm chí cô, nhưng những nỗi đau ấy còn có thể xoa dịu bằng niềm tin ở Chúa (cô đã cải đạo sang Tin Lành), còn sự khủng bố tinh thần ngay trong thời bình mới chính là thứ làm cho cô không thể chịu đựng được.
Trong trường hợp này, chiến tranh liệu có còn là điều khủng khiếp nhất? Sẽ nhiều người phản đối, nhưng khoan đã, hãy nhớ lại có bao nhiêu người vô tội phải chết trong Cải cách ruộng đất khi chính quyền đã về tay nhân dân, đó chỉ là một trong rất nhiều tội ác của nhà cầm quyền mang danh nghĩa “do dân vì dân”. Người ta không chết trong thời chiến mà lại chết trong thời bình, cái chết nào ít đáng sợ hơn, và tội ác nào đỡ ghê sợ hơn? Nhưng một nhiếp ảnh gia như Nick Út không bao giờ có cơ hội ghi lại những khoảnh khắc ấy, vì chính quyền Cộng sản không bao giờ cho phép. Ông chỉ được hoạt động ở một nơi tôn trọng nhân quyền, tôn trọng báo chí mà thôi.
Ý nghĩa thực sự của “Em bé Napalm”?
Nhìn vào bức ảnh ấy, người ta không biết rằng lỗi một phần không nhỏ là do lính Bắc Việt đã chạy vào nơi có dân đang trú ngụ không phải để bảo vệ mà gián tiếp đe dọa tính mạng của họ. Người dân nơi Kim Phúc đang sống lúc đó không hề “rên xiết dưới gót giày quân xâm lược” nên chẳng cần ai đến để cứu giúp họ. Nếu không có sự xuất hiện của người lính Cộng sản ở một nơi không đúng chỗ như thế, sự việc đáng tiếc đã không xảy ra với Kim Phúc.
Còn ai nghi ngờ về điều trên có thể tìm hiểu về cuộc tháo chạy của những người miền Nam khỏi thứ “độc lập, tự do” mà chính quyền Cộng sản đã trao cho họ. Trong số đó có rất nhiều người phải bỏ quê cha đất tổ, bất chấp tính mạng để lênh đênh trên biển tìm nơi ở khác.
Khi nhìn vào một bức ảnh mà người ta chỉ thấy một phần rất nhỏ sự thật, bức ảnh ấy có thực sự còn nguyên giá trị?
Bức hình ấy khiến nhân dân Mỹ có một cái nhìn khác về Cuộc chiến Việt Nam, góp phần đẩy mạnh phong trào phản chiến tại Mỹ và đòi Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Đến ngày hôm nay, có khi nào Nick Út nghĩ rằng việc tồn tại của Mỹ ở miền Nam hoặc thậm chí chiến thắng toàn diện ở Việt Nam lại là tốt cho người dân Việt?
Mỹ đã rời đi, nay được vời lại để chống lại người anh em Cộng sản lúc đó giúp cách mạng Việt Nam đánh Mỹ. Jane Fonda – biểu tượng của phong trào phản chiến Mỹ, người từng đến miền Bắc Việt Nam năm 1972 (năm mà bức ảnh “Em bé Nepalm” ra đời) mới đây cũng đã phải thừa nhận sai lầm và xin lỗi các cựu chiến binh Mỹ.
Thử hình dung rằng tôi chớp được khoảnh khắc người cha phạt con mình. Thực tế ngoài đời đứa con đáng bị phạt nhưng bức ảnh lại trở thành biểu tượng của nạn bạo hành trẻ em, thì thà bức ảnh ấy đừng bao giờ xuất hiện. Bản thân bức ảnh ấy không có lỗi gì cả, khoảnh khắc ấy với người xem ảnh có thể đúng, nhưng bản chất của sự việc thì không.
Vậy bức ảnh “Em bé Napalm” có ý nghĩa gì?
Nó làm người ta nghĩ đến sự độc ác của Mỹ trong khi họ không hoàn toàn có lỗi. Nó khiến Mỹ rút quân rồi giờ đây Việt Nam muốn Mỹ trở lại. Nick Út được nhà cầm quyền phe “đế quốc” cho tác nghiệp, được đi cùng với lính Mỹ để chụp ảnh, nhưng sản phẩm của ông sau này chống lại chính những người tôn trọng, bảo vệ cho nghề nghiệp và tính mạng của ông.
Nhà cầm quyền Việt Nam - phía đáng lẽ ra được hưởng lợi nhiều nhất từ tấm ảnh này lại không hề chào đón nó. Người ta đã từng từ chối triển lãm ảnh của Nick Út năm 2007 và nếu Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng không chuẩn bị thăm Mỹ thì chắc cũng khó có chuyện bức hình “Em bé Napalm” được xuất hiện chính thức ở Hà Nội. Cũng dễ hiểu vì không lãnh đạo nào muốn nhắc đến cái tên Phan Thị Kim Phúc – người lẽ ra cũng nên có mặt tại buổi triển lãm với tư cách chứng nhân lịch sử.
Không biết lòng thành của Việt Nam được bao nhiêu, vì họ vẫn còn sợ sự thật lắm. Nhưng nếu tôi có bức ảnh hay một bài báo không được mọi người hiểu đúng ý hoặc không thể toát ra những cái mà tôi muốn truyền đạt để rồi làm công cụ cho một sự tuyên truyền lệch lạc, tôi không thể tự hào và thà đừng nhắc đến nó còn hơn.
(iv) Nguyễn Gia Kiểng: I. Một chuyển tiếp tự nhiên
Một cuộc hành trình dù vội vã đến đâu qua lịch sử Việt nam cũng không thể bỏ qua đảng cộng sản. Tác động của nó vào lịch sử Việt nam đã vô cùng to lớn. Đó là phong trào Việt nam lần đầu tiên tôn vinh đế quốc Nga (dưới mỹ từ Liên Bang Xô viết). Sự thần phục này nghịch lý về nhiều mặt. Nga là nước không những ở rất xa nước ta, chưa hề có một quan hệ nào với nước ta, mà lại là nước do điều kiện địa lý rất ít giao thiệp với thế giới bên ngoài. Nga có trình độ phát triển thấp hơn hẳn các nước phương Tây. Văn hóa Nga dù không tồi cũng không sánh được với văn hóa phương Tây.
Chọn lựa "đồng minh và quan thầy" kỳ lạ này đến từ một chọn lựa độc đáo khác: Đảng cộng sản Việt nam cũng là phong trào nổi dậy đầu tiên không lấy quốc gia làm đối tượng phục vụ, hơn thế nữa mục đích sau cùng của nó còn là giải thể quốc gia Việt nam (cũng như mọi quốc gia khác) để hội nhập vào một thế giới vô sản (đại đồng). Chủ nghĩa đã mạnh hơn các quan tâm về địa lý, lịch sử và văn hóa. Điểm này cần được nhận định đúng đắn để rút một suy tư về đất nước.. Chính vì khó có thể tin rằng một phong trào không nhắm phục vụ mà còn nhắm giải thể Việt nam mà lại được người Việt nam ủng hộ nên ngay cả một số những người chống cộng vẫn cố biện bạch rằng phong trào cộng sản là một phong trào yêu nước. Nhưng sự thực không phải như thế. Sự lấn cấn sở dĩ có là vì chúng ta không phân biệt hai khái niệm khác nhau: người cộng sản và đảng cộng sản. Có và có nhiều người cộng sản yêu nước, nhưng Đảng cộng sản không phải là một đảng yêu nước.
Đảng cộng sản thành lập lúc ban đầu dưới danh xưng là Đảng Cộng Sản Đông Dương với vai trò phân bộ của phong trào cộng sản quốc tế. Nó nổi dậy lần đầu với tên gọi “Xô Viết Nghệ Tĩnh” và lá cờ đỏ mang khẩu hiệu “Vạn Tuế Sô Nga”. Cuộc nổi dậy này hoàn toàn chỉ do những động cơ giai cấp, dưới khẩu hiệu “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ”, nó chỉ nhắm tàn sát những người bị coi là kẻ thù của giai cấp vô sản. Trên thực tế đây không phải là một cuộc nổi dậy vì Việt nam. Chiêu bài dân tộc chỉ được dùng tới sau đó, do một chọn lựa chiến lược mà Stalin áp đặt lên đệ tam quốc tế: chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội trong từng quốc gia. Những người cộng sản Việt nam đầu tiên không phải đã hân hoan đón nhận mệnh lệnh này. Họ đã chỉ tuân hành nó một cách miễn cưỡng. Điều đã thôi thúc những người cộng sản trung kiên, đã khiến họ có thể hy sinh tính mạng và đã đem lại sức mạnh cho đảng cộng sản, vẫn là lý tưởng quốc tế vô sản.
Đảng cộng sản cũng khiến Việt nam một thời được cả thế giới biết đến và nể phục như một dân tộc anh hùng bất khuất đã chống trả một cách thắng lợi với hai cường quốc lớn Mỹ và Pháp. Nó cũng là phong trào lần đầu tiên đánh bại Hoa Kỳ. Mỗi người Việt nam, kể cả những người chống cộng và đã thực sự đứng trong hàng ngũ đối địch với đảng cộng sản, sẽ lầm nếu phủ nhận những chiến công này. Phủ nhận chúng cũng như người Ai Cập phủ nhận các kim tự tháp hay như người Trung Hoa phủ nhận Vạn Lý Trường Thành. Đó là những công trình được xây dựng trên mồ hôi, nước mắt và xương máu của các dân tộc nhưng đồng thời cũng là những di sản của họ. Ngược lại, những người cộng sản cũng nên tương đối hóa những chiến thắng đó. Cùng lắm chúng chỉ khiến chúng ta xuất hiện như là một dân tộc giỏi chiến tranh trong một thế giới ngày càng tôn vinh những giá trị khác và trong đó chỗ đứng và sự vinh nhục của các dân tộc được quyết định bởi những thành tựu về văn hóa, khoa học, kỹ thuật, thương mại. Hơn nữa chúng ta đã phải trả giá quá đắt cho những chiến thắng này. Chúng ta đã kiệt quệ hoàn toàn và còn thù ghét lẫn nhau, để rồi bế tắc trong sự thua kém.
Đảng cộng sản đã làm chết hơn bốn triệu người qua ba mươi năm chiến tranh (con số sẽ cần được khảo sát một cách chính xác) nhưng đã nắm được chính quyền và thống nhất đất nước. Họ đã thất bại khi cầm quyền. Cần nói rõ về sự thất bại này để tránh ngộ nhận chủ quan: chế độ cộng sản, sau những đập phá lúc ban đầu do bản chất cách mạng của nó, đã làm nhiều cố gắng xây dựng đúng. Nó đã nâng cao phần nào cuộc sống của người dân mặc dầu dân số Việt nam tiếp tục tăng nhanh. Nó cũng đã thúc đẩy nhiều công trình nghiên cứu có ích, và nó cũng dành cho người dân một chỗ đứng và một phẩm giá lớn hơn hắn các chế độ quân chủ tại Việt nam trước đó. Nếu chúng ta không tự giới hạn trong cuộc tương tranh quốc- cộng mà cố gắng nhìn cả chiều dài của lịch sử thì chế độ cộng sản phải được coi là chế độ hay nhất mà chúng ta đã có từ trước đến nay trong những chế độ đã cai trị toàn bộ Việt nam (không kể chế độ Việt nam Cộng Hòa, một công thức canh tân được đề ra để đối đầu với công thức cộng sản, nhưng đã thất bại sau 27 năm tồn tại và chưa bao giờ kiểm soát được toàn bộ lãnh thổ và dân số Việt nam).
Đảng cộng sản không thất bại so với các triều đại đã cai trị Việt Nam trước họ. Nhưng họ đã thất bại so với thế giới. Các vua chúa Việt Nam trước đây tuy không bằng họ ngày nay, nhưng lại hơn các lân bang lúc đó và vì thế Việt Nam đã đứng vững được và bành trướng được. Đảng cộng sản hơn các vua chúa ngày xưa nhưng lại thua kém các chính quyền khác trên thế giới ngày nay nên Việt Nam tụt hậu. Trong khi các quốc gia khác tiến rất xa so với quá khứ của họ, Việt Nam dưới chế độ cộng sản chỉ tiến xa so với quá khứ của mình mà thôi. Đó là tất cả vấn đề. Tội chính của Đảng cộng Sản Việt Nam là tội làm mất thì giờ của đất nước, mà trong thời đại này thì giờ là tất cả, mất thì giờ nhiều quá có thể mất nước luôn. Việt Nam trong thập niên 1960 và trong nửa đầu thập niên 1970 đã được cả thế giới biết đến và nề phục vì đã làm một việc phi thường là dám chống lại quốc gia hùng mạnh nhất thế giới. Việt nam bước vào thế kỷ 21 cũng đang được cả thế giới biết đến, nhưng không nề phục chút nào, vì đang làm một việc cũng rất phi thường khác là tiếp tục theo đuổi "một chủ nghĩa ngây ngô đã sụp đổ". Nhưng làm sao có thể ôm lấy một cái gì đã đổ nát tung tóe? Chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay chẳng phải là cộng sản. Nó chỉ là một pha trộn quái dị của nhiều thành tổ cộng sản, tư bản, phát-xít, quân phiệt và mafia.
Trong chiều dài của lịch sử, đảng cộng sản đã có một thành tích quan trọng. Họ đã thống nhất đất nước. Đó là một thành tích lớn dù nhiều người, trong đó có tôi, tin rằng chúng ta có thể thống nhất đất nước một cách ít tốn kém và đổ vỡ hơn.
Họ đã chấm dứt vĩnh viễn được cuộc tranh cãi, không còn lý do nữa nhưng vẫn không chịu chấm dứt hẳn, xem tôn giáo nào đáng được coi là quốc giáo. Họ đã dứt khoát khẳng định Việt nam là một nhà nước thế quyền. Trong thế giới ngày nay, loại trừ được ảnh hưởng của các tôn giáo trong sinh hoạt chính trị là một may mắn lớn. Tuy nhiên nhiều người, trong đó có tôi, tin rằng chúng ta vẫn có thể làm được việc này bằng một cố gắng văn hóa, chính trị đứng đắn mà không phải dùng tới những biện pháp thô bạo. Vấn đề nên làm là đưa các tôn giáo ra khỏi chính trị, đảng cộng sản đã làm điều ngược lại là đem chính trị vào tôn giáo. Điều mà đảng cộng sản cố gắng làm – nhưng không làm được – là tiêu diệt các tôn giáo.
Họ cũng đã thay đổi một cách quan trọng tập tính người Việt. Đạo đức truyền thống đã bị phá sản hoàn toàn. Biết bao nhiêu người, kể cả những người cộng sản ngoan cố, đã than phiền sự băng hoại của đạo đức. Con người trở thành vị kỷ, lưu manh, thô lỗ. Nhưng cuộc chuyển hóa tư tưởng này không hoàn toàn tiêu cực. Trên ít nhất hai điểm nó rất tích cực. Một là nó đã tiêu diệt được óc tôn sùng bằng cấp, một căn bệnh tâm thần rất tai hại của người Việt. Không phải đảng cộng sản nhận thức được sự tai hại của tâm lý trọng bằng cấp và dụng tâm đánh đổ nó. Trái lại chính vì họ quá trọng bằng cấp mà đã cấp phát bừa bãi cho các đảng viên những học vị to lớn, với kết quả là khiến các bằng cấp trở thành những mảnh giấy lộn không hơn không kém. Tình trạng này đưa đến hậu quả tốt mà họ không ngờ là con người từ đây sẽ chỉ được đánh giá theo khả năng. Từ đây người Việt Nam sẽ phải học để biết, để có khả năng chứ không học để giành lấy một bằng cấp không còn chứng minh gì nữa. Nói một cách khác, từ đây người ta sẽ phải có thực học thay vì chỉ cần học vị. Đây là một cuộc cách mạng văn hóa rất lớn, mà vô tình đảng cộng sản đã làm được. Hai là nó đã phần nào biến dân tộc Việt Nam từ một dân tộc từ chương, công chức và làm công thành một dân tộc buôn bán và kinh doanh. Ngay lúc đi tù về tôi đã chứng kiến cuộc chuyển hóa vĩ đại này. Hình như nhà nào cũng buôn bán một cái gì. Một tủ kem, một thùng thuốc lá, một quảy tạp hóa tí hon, một quán cà-phê đột xuất v.v. Cũng có những người suốt ngày tháng loay hoay chạy mối bán thuốc tây, hàng vải, đủ thứ. Từ ngàn xưa chúng ta coi thường và bài xích thương mại và do đó đã nghèo khó, lạc hậu và thua kém. Chế độ cộng sản vô tình – hoàn toàn vô tình vì chủ nghĩa của họ không những bài xích mà còn thù ghét thương mại – đã chữa được cho người Việt nam chứng bệnh tâm lý tổ tông truyện này.
Trái với một số người, tôi không quá lo ngại về sự băng hoại đạo đức hiện nay. Thật ra chúng ta đòi hỏi gì ở con người? Chúng ta mong muốn những con người có khả năng, chăm chỉ, lương thiện và nhã nhặn. Tất cả những đức tính đó một sinh hoạt kinh tế thị trường đúng nghĩa, nhất là hoạt động buôn bán, sẽ đem lại. Trong một sinh hoạt kinh tế thị trường thực sự, không có khả năng, lười biếng, gian trá thì mất việc; có khả năng, lương thiện, chăm chỉ thì lên chức, lên lương. Buôn bán mà gian trá, thô lỗ thì mất khách và phá sản. Kinh tế thị trường tự do cũng có cái lô-gích và cái đạo đức của nó. Phần lớn những thói hư tật xấu đều có thể khắc phục được trong vòng một thế hệ nếu chúng ta mau chóng có được một nhà nước dân chủ pháp trị đúng đắn, tin tưởng vào kinh tế thị trường và khai thác triệt để mọi ưu điểm của nó.
Một thành quả cũng rất vô tình nhưng vô cùng vĩ đại của chế độ cộng sản là đã tạo ra cộng đồng người Việt hải ngoại. Lúc đi du học trong thập niên 1960, tôi nỡ ngàng khám phá ra là Việt Nam không có cộng đồng hải ngoại như các dân tộc cùng tầm vóc khác. Đó là một thiệt hại rất lớn. Cộng đồng hải ngoại là những đầu cầu thương mại, văn hóa, khoa học và kỹ thuật rất quí báu nhưng, điều còn nhiều lần quí báu hơn, nó cũng là con mắt của một dân tộc để nhìn và hiểu thế giới. Một dân tộc không có cộng đồng hải ngoại không khác gì một người mù. Không có cộng đồng hải ngoại thì không có gì đáng ngạc nhiên nếu chúng ta thiển cận, mù quáng, hẹp hòi, bất dung, cố chấp, và sau cùng lạc hậu. Tất cả các quốc gia mới vươn lên gần đây đều đã nhờ sự đóng góp tích cực của một cộng đồng hải ngoại hùng mạnh.
Đảng cộng sản đã không chủ đích thành lập một cộng đồng người Việt hải ngoại vì nhìn thấy vai trò của nó. Họ không có một viễn kiến quốc gia nào. Chính sự bạo ngược của họ đã làm cho hàng triệu người phải liều chết vượt biển ra đi, và họ còn cấm cản một cách dã man làn sóng vượt biên. Sau cùng chính họ cũng đứng ra tổ chức vượt biên, nhưng chỉ để làm tiền và trục xuất người Việt gốc Hoa theo một quan niệm dân tộc hẹp hòi. Họ đã làm mất đi một tài nguyên nhân lực quan trọng của đất nước, đồng thời cũng khiến cộng đồng người Việt hải ngoại không có được tiềm năng đóng góp mà đáng lẽ số lượng của nó phải đem lại bởi vì phần lởn người Hoa khi còn ở Việt nam là những người Việt gốc Hoa nhưng khi ra nước ngoài chỉ còn là những người Mỹ, người Pháp, người úc gốc Hoa. Tuy vậy, kết quả vẫn còn đó, một cộng đồng người Việt hải ngoại hơn ba triệu người, trong đó phân nửa sinh ra tại hải ngoại đã thành hình. Và đây là một trong những sự kiện lịch sử vĩ đại nhất từ ngày lập quốc.
Một lời sau cùng: chúng ta sẽ rất lầm nếu căm thù đảng cộng sản và chế độ cộng sản. Chế độ cộng sản là một giai đoạn chuyển tiếp lô-gích từ chế độ quân chủ Khổng Giáo sang một chế độ dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, dù được văn bản hóa tại châu Âu, chỉ là một cải tiến của Khổng Giáo. Về bản chất, cộng sản và Khổng Giáo chỉ là một; ý thức hệ cộng sản đã cải tiến Khổng Giáo bằng cách đem vào, ở một mức độ thấp, một số ý niệm mới: luật pháp và nhân quyền, cùng với một kỹ thuật tổ chức hiệu lực hơn. 
Ở đây chỉ xin đưa ra hai nhận định. Một là, lý do chính khiến đảng cộng sản đã được hưởng ứng và đã thành công là vì chủ nghĩa cộng sản rất phù hợp với văn hóa Khổng Mạnh mà chúng ta đã thấm nhuần và trân trọng trong suốt dòng lịch sử. Chúng ta đã phải đi qua đoạn đường cộng sản bởi vì đó là một giai đoạn chuyển tiếp tự nhiên trừ khi chúng ta làm một bước nhảy vọt về văn hóa và tâm lý, nhưng bước nhảy vọt này đã không có. Hai là, chế độ cộng sản, nhìn như một giai đoạn chuyển tiếp từ chế độ quân chủ tuyệt đối đặt nền tảng trên Khổng Giáo sang một chế độ dân chủ, đã kéo dài bởi vì chúng ta chịu ảnh hưởng của Khổng Giáo một cách quá nặng nề.
Chúng ta đã phải đi qua đoạn đường cộng sản vì, do thiếu kém tư tưởng, chúng ta đã không dám hoặc không muốn vứt bỏ một cách dứt khoát và nhanh chóng Khổng Giáo để quả quyết chọn lựa Dân chủ. Không thiếu những người vừa chống cộng kịch liệt vừa đề cao Khổng Giáo như một đạo lý cao đẹp chỉ cần cải tiến để thích nghi với thời đại mới mà không ý thức được rằng chủ nghĩa cộng sản chính là một cải tiến lớn của Khổng Giáo. Không phải là một sự tình cờ mà phong trào cộng sản đã thành công ở cả ba nước theo Khổng Giáo: Trung Quốc, Cao Ly và Việt nam (trái với một nhận định hời hợt, Nhật Bản không phải là một nước Khổng Giáo). Cũng không phải là một sự tình cờ mà ba trong bốn nước cộng sản còn lại là những những nước thuộc văn hóa Khổng Giáo. Cộng sản không phải là một tai họa từ trên trời rơi xuống, nó tự chính chúng ta mà ra. Đó là một di sản của lịch sử mà chúng ta phải nhìn nhận và quản lý đúng đắn để thoát khỏi.
II. Người trong một nước
Ông Hồ Chí Minh để lại một câu nói nổi tiếng, đã rất nhiều lần được nhắc lại và phá vài kỷ lục về in ấn: “Nước Việt nam là một, dân tộc Việt nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không thể nào thay đổi”. Ông ấy không nói thêm nhưng mọi người đều hiểu: nước Việt nam phải thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng Sản Việt nam. Đó là một câu nói bày tỏ quyết tâm sắt đá áp đặt bằng mọi giá chế độ cộng sản trên toàn cõi Việt nam. Ở vào thời điểm 1969, khi cuộc chiến Nam Bắc đang diễn ra khốc liệt, đó là một khẩu hiệu chiến tranh. Mọi người đều đã hiểu như vậy và đúng là phải hiểu như vậy.
Ngoài ra, câu nói “Nước Việt nam là một” chỉ có thể là một quyết tâm chứ không phải là một sự thực nếu nhìn vào lịch sử nước ta.
Miền Nam Việt nam được mở ra cùng với thế kỷ 17, khi Nguyễn Hoàng, còn gọi là chúa Tiên, bắt đầu khai phá, một thời gian sau khi đem dân vào Nam tránh họa Trịnh Kiểm. Con cháu Nguyễn Hoàng thiết lập ra một đất nước riêng biệt, đánh nhau với họ Trịnh để giữ bờ cõi trong gần một thế kỷ, sau đó Đàng Trong (tức miền Nam) và Đàng Ngoài (tức miền Bắc) sống như hai quốc gia riêng biệt và thù địch cho tới khi nhà Nguyễn bị Tây Sơn tiêu diệt vào năm 1778. Kế đó anh em Tây Sơn chia rẽ nhau và đất miền Nam của chúa Nguyễn bị chia làm hai, phía Bắc thuộc Nguyễn Huệ, phía Nam thuộc Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ. Ngay khi nhà Tây Sơn dựng lên, Nguyễn ánh khởi binh khôi phục nhà Nguyễn, mấy lần chiếm lại Gia Định rồi lại bị đánh bại. Nhưng khi anh em Tây Sơn chia rẽ nhau, Nguyễn Ánh đã làm chủ được vùng đất từ Biên Hòa trở vào cho tới mũi Cà Mau. Cho tới trận Đống Đa, năm 1789, nước ta thực sự bị chia làm bốn nước. Miền Bắc của vua Lê, từ Nghệ An cho tới Quang Nam của Nguyễn Huệ, miền Nam Trung Phần của Nguyễn Nhạc, và Nam Phần thuộc về Nguyễn Ánh. Có lúc chúng ta có tới ba hoàng đế: Chiêu Thống tức Lê Duy Kỳ, Quang Trung tức Nguyễn Huệ và Thái Đức Hoàng Đế tức Nguyễn Nhạc, và một vương: Nguyễn Ánh. Sau trận Đống Đa, Nguyễn Huệ diệt nhà Lê, ta còn lại hai hoàng đế và một vương. Đến năm 1802, Gia Long mới thống nhất được sơn hà. Như thế có nghĩa là một nửa của đất nước mới bắt đầu được hội nhập dần dần theo một tiến trình bắt đầu từ cách đây hơn bốn trăm năm và mới kết thúc cách đây hai trăm năm. Trong khoảng thời gian 4 thế kỷ qua, cùng với sự mở rộng đất nước, chúng ta chia đôi trong hơn 2 thế kỷ, có lúc chia ba, có lúc chia bốn. Gia Long thống nhất đất nước được sáu mươi hai năm thì Nam Phần bị Pháp chiếm làm thuộc địa, rồi hai mươi năm sau đó cả nước bị Pháp đô hộ và chia ra làm ba Kỳ: miền Bắc, miền Trung và miền Nam với ba chế độ chính trị khác nhau. Sau thế chiến hai, nước Việt nam bị chia làm hai vùng quốc gia và cộng sản, dưới hai chế độ khác nhau. Từ năm 1954 đến năm 1975, hai vùng quốc gia và cộng sản tập trung lại thành hai miền Nam Bắc tiếp giáp nhau ở sông Bến Hải, vĩ tuyến 17. Đất nước lại thống nhất trở lại từ năm 1975.
Nói chung là từ ngày bắt đầu mở ra miền Nam, cách đây trên bổn trăm năm, chúng ta có được tám mươi năm thống nhất. Tám mươi năm trong thời gian hơn bốn trăm năm kể ra là quá ít, nhưng con số rất khiêm nhường đó cũng đã bỏ qua đi những chuyện các sứ quân nói lên hùng cứ một phương như vẫn xảy ra thường xuyên dưới triềư Nguyễn. Nó cũng không kể tới sự kiện là ngay cả khi có thống nhất về mặt hành chánh chúng ta cũng không có thống nhất trong dân tộc. Dưới thời nhà Nguyễn, nhân dân bị chia làm hai loại, giữa những người không có hay có đạo Công giáo. Khoảng một trăm ngàn người Công giáo đã bị sát hại chì vì tín ngưỡng của họ. Từ sau 1975, Dân tộc cũng bị chia làm hai loại người, những người cộng sản rất thiểu số nhưng lại chiếm tất cả mọi quyền hành và những người không cộng sản chiếm đại đa số nhưng lại chỉ có quyền phục tùng.
Tóm lại, từ bốn thế kỷ qua, đất nước Việt nam ít khi là một, còn dân tộc Việt nam thì chưa bao giờ là một cả. Không những có chia cắt và chia rẽ, mà còn chia cắt để tàn sát lẫn nhau, chia rẽ để chà đạp và bách hại lẫn nhau. Làm sao có thể ngạc nhiên nếu chúng ta không vươn lên được? Cái quá trình chia cắt và chia rẽ đó khiến chúng ta nhìn nhau không phải như người cùng một nước, mà là những người quốc gia hay cộng sản, người Bắc hay người Nam hay người Trung, người Công Giáo hay người Phật tử, người giàu hay người nghèo. Không những chia rẽ nhau mà còn thù ghét nhau.
Năm 1946, khi người Pháp trở lại Nam Phần, họ lập tức tìm được những người cộng tác để lập ra “Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc” với chủ trương tách Nam Phần thành một quốc gia riêng. Phong trào đầu tiên mà chính quyền này phát động là bách hại những người gốc miền Bắc không may có mặt tại Sài gòn. Kỹ thuật rất giản dị, một người khả nghi bị chặn lại và bị bắt phải nói ba tiếng “Tân Sơn Nhất”. Nếu phát âm là “Tâng Sưng Nhức” thì được coi là người Nam, tức là người tốt; còn nếu phát âm là “Tân Sơn Nhất” là bị nhận ra là “Bắc kỳ” và bị ăn đòn. Điều đáng buồn là đây không phải chỉ là một chủ trương tồi tệ của một thiểu số manh động, đa số những người tham dự vào cái trò chơi “đánh Bắc kỳ” này là những người rất bình thường. Tất cả những nạn nhân đều không phải là những người giàu có và thế lực, những người này có đầy đủ mọi quan hệ cần thiết để che chở cho họ, họ vẫn sống yên ổn. Tất cả những nạn nhân đều là những người cùng khổ bị đem vào làm phu ở trong Nam.
Năm 1945, sau khi tuyên bố thành lập nước Việt nam Dân Chủ Cộng Hòa và nam được chính quyền, đảng cộng sản đã tàn sát thẳng tay những phần tử Việt nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt, mà họ thừa biết là rất yêu nước, vì không chấp nhận chủ nghĩa của họ. Ông Hồ Chí Minh coi tất cả những người cộng sản trên thế giới là anh em (ông từng viết: “Năm châu bốn bề là nhà, bốn phương vô sản đều là anh em”), nhưng ông lại coi những đồng bào Việt nam của ông không chia sẻ lý tưởng Mác-Lênin của ông là thù địch và ông giết họ không gớm tay. Ngay cả những người cộng sản Đệ Tứ, cũng tôn sùng Mác và Lênin như ông nhưng không thuộc trường phái Stalin, ông cũng thẳng tay tiêu diệt. Dĩ nhiên để có lý cớ tàn sát họ, ông buộc cho họ đủ thứ tội phản động, phản quốc, Việt gian, v.v. Yêu nước trước hết là phải yêu đồng bào. Ai muốn nói ông Hồ Chí Minh tài giỏi, quyết tâm, can đảm là quyền của họ, nhưng không ai có thể thuyết phục tôi rằng ông là một người yêu nước.
Phải nghĩ thế nào về cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc năm 1955? Những tài liệu và nhân chứng khác nhau ước lượng số người bị giết từ 20.000 đến 200.000. Trong đại bộ phận họ không phải là những người giàu – mà giàu có phải là một tội đáng chết không? – họ chỉ là những người có năm, mười mẫu ruộng, tuy không đến nỗi cùng khổ như những người bần cố nông khác nhưng cũng là những người nghèo. Tôi đã gặp rất nhiều người từng chứng kiến những vụ đấu tố hồi đó, họ cho hay rằng có những người dân quê rất bình thường đã tham gia một cách man rợ vào những cuộc giết người đó, không phải vì bị ép buộc mà với những con mắt rực lửa hận thù. Nếu cải cách điền địa chỉ là do đã tâm của đảng cộng sản và của các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Hồ Viết Thắng thì cũng đã là ghê gớm lắm rồi. Nhưng thực tế còn đau lòng gấp nghìn lần. Nó chứng tỏ rằng người Việt nam ác độc với nhau, và do đó không đáng với tên gọi là một dân tộc.
Ngay gần đây, vào năm 1992, tại trại cấm Hồng Kông, nơi hàng chục ngàn người Việt nam tị nạn bị nhốt vào các trại tù để sắp sửa bị đuổi về cũng đã xảy ra một trường hợp hổ nhục. Những con người cùng xấu số và đều khổ như nhau đó đã không thương nhau mà còn tàn sát nhau giữa người ra đi từ miền Bắc và người ra đi từ miền Nam.
Tôi may mắn được đi du học rồi lớn lên và làm việc tại các nước phương Tây. Điều tôi học hỏi được không phải ở trong những cuốn sách mà ở trong những cái nhìn. Người Mỹ nhìn nhau là người Mỹ, rất ít khi họ để ý nhãn hiệu dân chủ hay cộng hòa, người ở bang New York hay người ở bang Michigan. Người Pháp nhìn nhau như những người Pháp trước khi là người ủng hộ đảng Xã Hội hay đảng De Gaulle, người Anh nhìn nhau như những người Anh trước khi là những người lao động hay bảo thủ. Họ là những dân tộc. Hơn hai ngàn năm lịch sử dựng nước của ta không đem ta lại gần nhau mà còn khiến ta thù địch với nhau. Chúng ta phải nhìn lại mình và nghĩ lại mình.
Dĩ nhiên chúng ta đều muốn nước Việt Nam thống nhất và dân tộc Việt Nam hòa hợp. Đó là điều kiện bắt buộc. Hoặc là thế, hoặc là chúng ta sẽ không có một tương lai nào cả. Nhưng “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” là điều mà chúng ta phải xây dựng ra chứ chưa sẵn có. Và để xây dựng đất nước Việt Nam đó chúng ta cần một tinh thần mới. Đó là tinh thần chấp nhận nhau, quí mến nhau, tôn trọng những dị biệt của nhau để cùng nhau xây dựng một tương lai chung. Tinh thần đó là bắt buộc nhưng chưa đủ, chúng ta cần ý thức được một cách thật sâu đậm sự phân hóa và thù hận trầm trọng của đất nước ta. Chúng ta cần ý thức được rằng Hòa Giải và Hòa Hợp Dân Tộc là một vấn đề vô cùng nặng nề và gai góc, cho nên cần được thực hiện với tất cả quyết tâm, với tất cả tâm hồn và với tất cả kiên nhẫn.... Vấn đề thống nhất đất nước – thống nhất không những về mặt hành chánh mà cả trong lòng người – và hòa hợp dân tộc chắc là không thể giải quyết xong ngay mai một, chúng ta có thể giải quyết một phần trong thời đại của chúng ta, và tạm xong sau vài thế hệ kế tiếp...

II. Thơ Văn
(i) Hồ Chí Bửu: Chiến Hữu
Bạn tôi. Lính sư đoàn 18 bộ binh
Hai cánh tay đã bỏ nơi chiến trường Xuân Lộc
Hai cánh tay đã rơi trong đêm tháng 4 tàn khốc
Máu chan hòa nhuộm đỏ cả vùng quê
     Thương phế binh nên cải tạo vài hôm thì cho về
     Thu xếp cùng gia đình lên vùng kinh tế mới
     Lên vùng kinh tế mới ngóng cổ lên mà đợi
    Mua gạo xếp hàng mua thuốc được vài viên
Bệnh mẹ gì thì cũng chỉ có xuyên tâm liên
Uống riết vàng răng giống khỉ ngồi bàn độc
Có những đêm buồn ra rừng ngồi khóc
Khóc chán rồi lấy rượu thay cơm
     Hơn một năm quần áo rách hết trơn
     Bữa đói bữa no bữa lo sốt rét
     Tàn đời rồi lo cái con cẹc
      Dẫn vợ con về sống ở vỉa hè
Bởi người hiền nên trời phật chở che
Rốt cuộc anh cũng có mái nhà tranh để ở
Đi bán vé số dạo chẳng còn gì mà sợ
Hào khí hết rồi một gã tàn binh
     Sáng nay gặp anh tôi thoáng giật mình
     Trung úy Phan Văn Tài đây hả
     Ôm chặt anh nước mắt tôi rơi lã chã
      Tàn cuộc rồi ta ở phía bên …thua…

(ii) Thái Bá Tân: Lại nói về chiến tranh
Một cô thanh niên xung phong bị phát hiện đang lén lút làm cái việc “tự sướng” bên con suối nhỏ sâu trong rừng.
Suốt ba đêm liền, từ sau bữa ăn tối cho đến gần sáng, cô bị đồng chí của mình, toàn nữ, kiểm điểm gay gắt và không ngớt lời sỉ vả. “Ghê tởm, thật ghê tởm!” “Một biểu hiện suy đồi đạo đức!” "Một hành động bêu xấu hình ảnh người chiến sĩ cách mạng, đi ngược với lý tưởng và lối sống cách mạng tốt đẹp!” “Xử bắn con đĩ tư sản thối nát ấy đi!”. Vân vân... Sang ngày thứ tư, không chờ đồng đội xử bắn, “con đĩ tư sản thối nát” ấy đã treo cổ tự tử trên cành cây bị bom chặt đứt một nửa.
Chủ trì và cũng lớn tiếng sỉ vả nhất trong ba đêm đấu tố ấy, là cô Duyên. Đơn giản vì cô là đội trưởng đội thanh niên xung phong ấy. Duyên là người làng tôi, thậm chí suýt thành chị dâu, nếu anh trai con ông bác tôi không hy sinh ở Quảng Trị năm 68. Tự cô kể tôi nghe chuyện này khi hết chiến tranh trở về nhà.
“Tội nghiệp nó! Người ta bảo thì bọn chị phải làm thế chứ thương lắm!” cô nói, rơm rớm nước mắt. “Khối đứa như nó. Chị biết”.
“Cả chị?” tôi hỏi.
Ngập ngừng một lúc, chị nói, giọng thách thức: “Thì sao? Chị không là người chắc? Cả bầy con gái thui thủi một mình trong rừng không một mống đàn ông suốt mấy năm trời! Đơn vị chị thì không, nhưng nghe nói ở Đrao, Tây Nguyên, có mấy chục đứa phát cuồng, lúc ôm nhau cười mãi không thôi, lúc xé hết quần áo kéo chạy tồng ngồng gữa rừng như những con điên. Mắt chị lại rưng rưng.
Về làng được bốn năm, do lỡ thì, và cũng do chẳng còn đàn ông nào nữa mà lấy, chị Duyên xuống tóc đi tu, ở ngay Chùa Mít bên sông Bùng. Vợ chồng bác tôi thương lắm, nhưng chẳng can ngăn. Trong thâm tâm hai cụ vẫn coi chị là con dâu. Có người nói chị bị ai đó trên tỉnh lừa tình. Chuyện này thì tôi không rõ, mà cũng chẳng quan trọng. Tôi chỉ thấy ngỡ ngàng, thậm chí đau nhói trong ngực khi hình dung chị dâu hụt của tôi, - một người xinh đẹp, yêu đời, từng nhiều năm làm đội trưởng đội văn nghệ xã, - lại tự nguyện giam mình trong ngôi chùa hiu quạnh, đổ nát, với bộ quần áo màu nâu nhà Phật. Mấy ngày sau, tôi đến tìm chị, định hỏi cho ra chuyện, nhưng tôi đã không vào chùa khi đứng từ xa nhìn thấy chị đang thẫn thờ đưa chổi quét đi quét lại cái sân vốn đã sạch.
Lặng lẽ ra về, tôi cố lý giải mà không lý giải nỗi cái gì đã biến một cô gái tươi vui, hồn nhiên, tràn trề hạnh phúc và xứng đáng được hưởng hạnh phúc thành một người yếm thế, bất hạnh như vậy.
Chiến tranh? Phải chăng đây là cái giá của chiến tranh?
Bẵng đi nhiều năm, tôi lại vào chùa Mít. Nó vẫn thế. Hai cây nhãn trước chùa vẫn thế, và vẫn thế, chúng không chịu cho quả.
Đang vắng người, tôi vào thẳng phòng riêng sư trụ trì, sư thầy Đàm Duyên. Sư thầy chứ không phải sư cô như ngày nào.
“Chào chị Duyên,” tôi lên tiếng, không hiểu sao còn cố tình nói to.
“Mô phật. Xin xưng hô với kẻ tu hành này theo đúng cách của nhà phật. Chào chú.”
Đứng chắp tay trước mặt tôi, đầu hơi cúi, là một bà già nhỏ bé, khô đét và không còn tí dấu vết nào của chị Duyên ngày xưa cũng như sư cô Đàm Duyên sau đó tôi gặp. Nét mặt bà không chỉ vô cảm mà bất động như được nặn bằng sáp. Cái đầu trọc bóng loáng cũng có lớp sáp nhờn nhợt ấy. Bất giác, tôi chợt nghĩ: “Nếu không trọc, không biết tóc chị sẽ bạc đến đâu?”
“Chị khỏe chứ?”
“Mô phật.”
“Người ta nói nay mai chùa Mít bị đập bỏ để xây đường lớn lên Đô Lương và sang Lào?”
“Mô phật,” và chị khẽ cúi đầu.
“Thế chị và mọi người đi đâu?”
Sư thầy Đàm Duyên không đáp. Chất sáp trên mặt và cái đầu trọc của bà càng trở nên rõ nét hơn. Hình như bà đang khóc, dù đôi mắt sâu vô hồn vẫn ráo hoảnh.
Lát sau tôi bỏ về, vô cớ hậm hực với ngôi chùa tội nghiệp sắp bị phá bỏ, với hai cây nhãn xum xuê mà không chịu cho quả. Với cả chính tôi vì mãi vẫn lấn cấn tìm lời giải thích cho số phận chị dâu mình và những người như chị.
Chiến tranh! Ừ, chiến tranh! Tiên sư thằng chiến tranh!
Tôi thấy có cái gì nghèn nghẹn trong cuống họng, muốn văng tục chửi ai đó, đập phá cái gì đó mà không được. Chửi cái thằng gây ra chiến tranh chẳng hạn. Tiên sư thằng gây ra chiến tranh!
Đừng nói với tôi về chiến tranh bảo vệ tổ quốc và chính nghĩa. Tôi đã đủ khôn lớn để hiểu rằng cái cuộc chiến tranh ấy, nếu quả là bảo vệ tổ quốc và chính nghĩa như người ta nói, cũng chẳng là gì nếu nó là thủ phạm của hàng triệu cái chết dân Việt, hàng chục triệu cuộc chia ly đau đớn, thủ phạm của một sự đảo lộn triệt để các giá trị truyền thống dân tộc. Nó trở thành nhảm nhí khi vì nó các cô gái của chúng ta phải “tự sướng” và tự treo cổ, khi một người trẻ trung, tươi vui và tràn trề nhựa sống như chị Duyên của tôi phải biến thành một hình sáp vô hồn. “Ừ, mà nếu không cạo đầu, tóc của chị sẽ bạc đến đâu nhỉ?”
.............................. .............................. .............................. ...............
Kính
NNS

Không có nhận xét nào: