Không phải Hữu Loan của những trang sách giáo khoa hay những cuộc tranh luận văn học, mà là một Hữu Loan bằng xương bằng thịt: một người thi sĩ già từ miền Bắc vào Sài Gòn, lúng túng trước dao nĩa, ngậm ngùi trước một đĩa thịt nguội, và bật khóc khi nghe chính bài thơ của mình được ngâm lại sau nhiều thập niên bị cấm đoán. Những giọt nước mắt ấy không chỉ là nước mắt của một người chồng nhớ người vợ trẻ đã khuất, mà còn là nước mắt của một đời người đã đi qua chiến tranh, tù đày, đói nghèo và những năm tháng bị đẩy ra bên lề văn học. Hữu Loan đã sống gần trọn một thế kỷ, nhưng ông mãi được nhớ đến như người thi sĩ của tình yêu chung thủy, của nỗi đau nhân thế và của màu tím bất tử trong thi ca Việt Nam.
<!>
Khi ông khép lại cuộc đời mình vào mùa xuân năm 2010, ông không chỉ để lại một bài thơ nổi tiếng, mà còn để lại một biểu tượng của lòng trung thực
và khí phách của người cầm bút trước mọi nghịch cảnh.
Sức sống của Màu Tím Hoa Sim nằm ở chỗ bài thơ không nói về chiến công hay những khẩu hiệu của thời chiến. Hữu Loan chỉ kể một câu chuyện rất nhỏ: một đám cưới nghèo, một người vợ trẻ, một người lính ra đi rồi mất người mình yêu. Nhưng chính cái rất riêng ấy lại chạm đến cái rất chung của con người.
Đó là nỗi đau của tình yêu trước sự tàn khốc của chiến tranh.
Đọc Màu Tím Hoa Sim, người ta không chỉ thương người vợ trẻ của Hữu Loan, mà còn thương cho cả một thế hệ thanh niên Việt Nam
đã phải sống trong những năm tháng binh lửa. Có những người ngã xuống ngoài mặt trận, có những người sống sót nhưng mang theo
những vết thương không bao giờ lành. Nỗi đau ấy đã được Hữu Loan cô đọng vào một màu tím — màu của hoa sim, màu của thủy chung,
màu của tang tóc và hoài niệm.
Có lẽ vì thế mà khi nghe lại bài thơ của mình giữa Sài Gòn, sau hàng chục năm bị cấm đoán, Hữu Loan đã bật khóc.
Đó không chỉ là nước mắt của một thi sĩ nghe lại tác phẩm của mình. Đó còn là nước mắt của một người chồng nhớ vợ,
của một chứng nhân lịch sử nhớ lại một thời tuổi trẻ, và của một người cầm bút cuối cùng được nghe tiếng lòng mình vang lên giữa đồng bào.Tôi chợt nhớ mấy câu thơ của chính Hữu Loan:
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái.
Những câu thơ ấy giản dị đến mức tưởng như lời kể chuyện. Nhưng càng đọc lâu, người ta càng thấy trong đó có cả một thời đại. Đó là vẻ đẹp hiếm có của thi ca: không cần những lời lớn lao mà vẫn làm rung động trái tim người đọc suốt hơn nửa thế kỷ.
Tôi xin kết luân bằng bốn câu thơ nhỏ như một nén hương tưởng nhớ
nhà thơ Hữu Loan:
Người đi mang cả mùa sim
Để màu tím nhuộm lặng im đất trời
Trăm năm khói phủ cuộc đời
Còn câu thơ khóc một thời chiến chinh.
Tế Luân
Sau đây là bài thơ (tôi phóng tác) được gợi hứng từ tinh thần của
Màu Tím Hoa Sim: Hữu Loan
TÍM MỘT CHIỀU QUÊ
(tiếng thở dài của một người còn lại sau chiến tranh)
Em cũng có những người anh
Ra đi từ thuở chiến tranh chưa tàn
Con đường đất đỏ mù than
Mẹ ngồi vá áo, chiều loang khói chiều.
Tôi về qua xóm tiêu điều
Gặp em bên giếng, hàng tiêu đầu làng
Mắt em như một mùa sang
Tóc xanh thơm ngọn lúa vàng tháng ba.
Ngày vui chẳng có lụa là
Em cài bông cỏ thay hoa cưới mình
Tôi mang đôi dép nhà binh
Bụi đường còn phủ hành trình trên vai.
Thương nhau một buổi rồi thôi
Sáng hôm sau lại xa người, xa quê
Mây bay trắng cả triền đê
Bóng em nhỏ xuống lối về đơn côi.
Từ nơi lửa đạn xa xôi
Đêm nghe tiếng súng bồi hồi nhớ em
Nhớ hàng cau đứng bên thềm
Nhớ đôi mắt biếc dịu êm thuở nào.
Chiến tranh như ngọn sóng cao
Cuốn bao mộng ước chìm vào hư không
Biết đâu giữa cõi mênh mông
Người đi còn gặp hay không một lần.
Bao năm tóc đã pha ngần
Tôi về tìm lại dấu chân ngày nào
Con đường cỏ mọc lao xao
Bờ ao cũ cũng nghẹn ngào gió thu.
Người xưa đã khuất thiên thu
Chỉ còn sim tím mịt mù đồi xa
Chiều nay đứng giữa quê nhà
Nghe màu hoa tím như là tiếng em.
Tím từ kỷ niệm êm đềm
Tím từ nước mắt bên thềm chiến chinh
Tím từ một mối ân tình
Theo người thi sĩ lặng nhìn thời gian.
Tế Luân
Xin mời đọc hết bài viết trong trang Blogspot

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét