Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2026

MỘT NÉN HƯƠNG CHO NHỮNG NGƯỜI NẰM XUỐNG - Nguyễn mạnh Hùng


Bán đảo Sơn trà gần thị xã Ðà nẵng, thuộc tỉnh Quảng nam đã từng là căn cứ bí mật huấn luyện người nhái dùng để xâm nhập miền Bắc trong những công tác khuấy rối và phá hoại. Ðó là những chiến sĩ can cường của NKT/QLVNCH. Sơn Trà, Ðà Nẵng bây giờ không còn dấu tích hồi đầu, khi SPVDH (sở phòng vệ duyên hải) mới thành lập, do đó có bạn biết, có bạn nhập ngũ sau này thì không biết một chút nào. Vậy bài này để các bạn hình dung quang cảnh ngày xa xưa đó, và cũng để chúng ta ôn nhớ lại những kỷ niệm một thời của thuở thanh niên, chúng ta đã đóng góp mồ hôi và nước mắt cho cuộc chiến, người còn kẻ mất, nhiều chiến hữu đảm trách những công tác bí mật chết trong âm thầm, dường như đã đi vào quên lãng. 
<!>
Chúng ta may mắn, được vui vầy bên gia đình yên ấm, nhắc tới họ, thắp nén hương lòng ghi nhớ công ơn Họ là những anh hùng không tên tuổi. (Đằng Phương)
Là một quân nhân đã phục vụ trong NKT từ 1961-1975. Ở đây, tôi ghi nhận những gì tôi thấy hoặc tham gia trên thực tế. Năm 1963 tôi nhận nhiệm vụ ra công tác tại bán đảo Sơn Trà, Ðà Nẵng. Chính nơi đây, những nhân viên phòng E hay gọi là phòng 45 đang thi hành công tác bí mật, họ có thể không biết nhau hoặc có thể biết nhau, gặp nhau hàng ngày, nhưng anh ta đang làm gì, thì chỉ người đó biết mà thôi. Ðó là cung cách làm việc của những người quanh tôi ngày đó.
Bước xuống phi trường Ðà Nẵng vào tháng 6/63, phi trường không cách thị xã bao xa, thành phố không lớn lắm, dân chúng thưa thớt, con đường Ðộc Lập dài vắt ngang phố, tôi nhớ nhất là con đường Trần nhật Duật, nơi đây là những căn nhà an toàn thuê của dân, để dưỡng quân và cũng từ nơi này là nơi hẹn hò, phân phối công tác riêng biệt cho từng cá nhân.

\Ðứng từ Bến Cá làm chuẩn, nhìn sang bên kia là bán đảo Tiên Sa, Sơn Trà. Nhìn sang tay trái là những hòn núi mờ mờ nhấp nhô (lúc đó chưa có đài kiểm báo của KQ), dưới chân núi là cái vịnh nhỏ, có những thuyền buồm kiểu miền Bắc, dài khoảng 22 mét, có gắn động cơ mạnh để ứng phó với hoàn cảnh phải giao chiến với tàu cộng sản Bắc việt, ngoài ra còn trang bị súng đại liên 50 và máy truyền tin. Những thuyền này được mang mã số N1...đến N7. Những tài công là những ông già, người miền xứ Nghệ, tiếng nói nặng chệt. Ngoài ra còn có chiến đĩnh Swift và Nasty. Sau này, vì cường độ chiến tranh gia tăng, Hoa kỳ đã trang bị cho chúng ta những giang tốc đĩnh PTF vừa nhanh, hỏa lực mạnh, có trang bị radar rất tối tân.
Người dân Ðà Nẵng muốn qua Sơn Trà phải đi qua cầu Trịnh minh Thế,còn chúng tôi chỉ dơ tay vẫy, tức thời có ca nô sang đón, và có xe túc trực chở đến trại Pacific, còn gọi là trại Mỹ Khê cách Bến Cá khoảng 3 cây số. Ðây là căn cứ chính của SPVDH, trại lớn nhất ở Mỹ Khê, kế tiếp là những trại nhỏ dọc theo bờ biển chạy dài về phía Ngũ hành sơn, một trong những trại nhỏ này có hồ bơi để thử tài lặn của từng người. Nói tới Sơn Trà chúng ta phải nhắc tới những rừng phi lao chạy dài dọc theo bãi biển. Chính nơi đây là nơi huấn luyện người nhái, hết toán này đến toán khác và hoàn toàn do người Mỹ đảm nhiệm, họ được tập luyện bơi lội, xử dụng bình scuba, vượt sóng bằng xuồng cao su, cách đối phó khi xuồng bị lật úp v..v...Người chỉ huy đầu tiên SPVDH là cố Ð/tá Bình tức Ð/tá Ngô thế Linh,trụ sở tại 26 đường Bạch Ðằng, Ðà Nẵng. Ông là vị sĩ quan lâu đời nhất của NKT, ông rất thân mật với thuộc cấp, và có nghiệp vụ cao trong ngành tình báo, ông được thuộc cấp kính trọng và phục tùng (một việc đáng được đề cao là ông tìm đến thăm hỏi thuộc cấp khi nghe tin họ đặt chân đến Hoa Kỳ). Chính nơi đây sản sinh ra những Kinh Kha chưa bao giờ chịu khuất phục CS như: Ðặng chí Bình, Lầu chí Chăng, Nguyễn văn Tâm v...v...

Trở lại chuyến đi công tác của chúng tôi với toán Centaur. Thường thường những toán từ 6 người đến 12 người, nhưng toán Centaur có tới 33 người, họ đã được học căn bản tác chiến, học cách phá hoại cầu, và vừa thực tập chuyến nhẩy dù đêm không có bãi đáp với quần áo bảo hộ tại rừng già Ban mê Thuột. Hôm nay chúng tôi lên phi cơ C123 tại phi trường Long Thành, tỉnh Biên Hòa lúc 10g30 sáng, trực chỉ Ðà Nẵng, đây là toán ngắn hạn, mục tiêu của họ là những chiếc cầu sắt do người Pháp để lại. Họ sẽ nhẩy dù xuống tiến tới mục tiêu, phá hủy cầu rồi rút ra biển, nơi đó sẽ có tàu Mỹ đến đón. Khóa huấn luyện người nhái này kéo dài một tháng rưỡi, và tối nay, mãn khóa họ sẽ thực tập phối hợp nhẩy dù xuống bãi biển Mỹ Khê, phá hoại cây cầu được dựng lên làm mục tiêu và rồi rút ra biển, chương trình tổng quát là như vậy. Chiều hôm đó, khoảng 6g30 tối, chúng tôi 3 người: Một trung sĩ cố vấn, trung sĩ nhất Ðèo văn Peng và tôi có mặt tại phi trường Ðà Nẵng cùng với khóa sinh biệt kích đang bận rộn mặc dù và những trang bị nặng nề nào ba lô, đầu bò truyền tin và đặc biệt phải mang phao để lỡ có rớt xuống biển cho được an toàn... Trời chiều hơi lạnh nhưng người nào mồ hôi cũng đổ ra từng giọt. Chúng tôi đang khám dù thì từ xa một chiếc xe jeep chạy tới, tôi nhận ra viên Ð/úy cố vấn, ông chỉ vào máy đo gió và nói: gió mạnh sẽ thổi hết ra biển và yêu cầu tôi di chuyển điểm đánh dấu đến nơi khác, tôi lên xe về Mỹ Khê nơi đánh dấu bãi nhẩy và di chuyển chữ T vào sâu hơn.

Theo chương trình thì khoảng 9g30 máy bay tới, chúng tôi chờ đến 10g30 máy bay cũng chưa tới. Ðến 11 giờ thì mọi người đã có vẻ xôn xao, bên VN hỏi bên Mỹ và ngược lại phía Mỹ hỏi VN cũng cùng câu hỏi, máy bay cất cánh rồi đi đâu? Có thể máy bay gặp nạn hay bị không tặc? Cho đến sau đó 3 ngày, khi tôi đang đi trên phố với bộ đồ dân sự sửa soạn về SàiGòn thì một chiếc xe jeep chận tôi lại, đó là Ðại tá Dương quốc Lương, trưởng phòng không yểm NKT, ông cho biết, nhân chứng thấy máy bay đâm vào dẫy núi phía Bắc Sơn Trà. Ông chở thẳng tôi ra phi trường và cùng tôi lên chiếc Cessna U17 do chính ông lái. Bay tới vòng thứ ba thì tôi nhìn thấy đuôi máy bay, lúc này mây vẫn phủ trắng xóa. Sau đó tôi được chở về bãi Bắc của bán đảo Sơn trà, nơi đây có một trung đội nghĩa quân tăng phái cho tôi đi lấy xác, tôi chẳng kịp thay quần áo...

Mất 3 tiếng chúng tôi mới lên tới chỗ máy bay gặp nạn. Một cảnh tan hoang, máy bay cháy hết chỉ còn cái đuôi, giở bản đồ ra, thấy núi này cao hơn 500 mét, nơi máy bay đụng ở độ cao hơn 400 mét. Trước khi máy bay đụng vách đá, chong chóng phi cơ đã quạt đứt rừng cây dài 1 cây số như luống cày máy chạy dài, chiếc phi cơ muốn vượt thoát lên không trung nhưng đã muộn, máy bay đụng phải tảng đá cao khoảng 6 mét, cho nên mọi thứ: người, mũ nhẩy, súng ống...bị cản lại một đống ở chân tảng đá. Tất cả không còn nguyên vẹn, bước vào đuôi máy bay, xác một nhân viên phi hành đoàn với bộ áo phi hành màu cam bị cháy nham nhở nhưng mặt mũi tóc tai vẫn bình thường, anh ta nằm ngửa, hai tay trải rộng, bên cạnh là cái headset với sợi dây điện màu đen.Móc trong túi quần, trong chiếc ví có thẻ chủ quyền chiếc xe Vespa và thẻ sĩ quan Ð/úy Hồ văn Kiệt. Ði bọc ra sau tảng đá ngước nhìn lên trời, thấy Trung sĩ nhất Ðèo văn Peng ngồi, hai chân thòng xuống đất, sau lưng vẫn đeo dù, đầu trần, mặt cúi phía trước, giữa trán bị chẻ một miếng như dao chém nhưng không có máu, nhìn vào mặt không một vết bầm, nom rất hiền từ và tự tại, với thế ngồi như vậy, chỉ cần một cơn gió mạnh là anh sẽ rớt ngay mà thôi. Tổng số người chết là 41 gồm 33 BKQ + 6 phi hành đoàn + 1 huấn luyện viên nhẩy dù + 1 cố vấn Mỹ, tất cả không ai toàn xác, chỉ có 2 người còn nguyên vẹn là Kiệt và Peng. Riêng viên cố vấn chỉ còn cánh tay xâm với ngón tay có đeo nhẫn. Túi đựng xác đã viết sẵn tên, cứ thế mỗi bao xác chia đều, không còn cách nào hơn nữa...!!!

Chuyện xẩy ra cách đây gần 40 năm, nhưng tôi vẫn cảm thấy như nó xẩy ra vài hôm trước đây. Cảnh tan hoang, tàn phá, khói lửa nghi ngút trên vách núi dựng đứng của ngọn núi Sơn Trà, tôi phải ôm gốc cây, chui vào bao đựng xác mà ngủ vì trời đêm quá lạnh. Cho đến bây giờ, ngồi một mình suy nghĩ về tai nạn này, tôi vẫn không hiểu vì sao mà Tr/sĩ Ðèo văn Peng khi máy bay đụng mạnh vào sườn núi, anh bị văng ra, bay bổng lên trời, làm cách nào mà anh có thể chết ngồi trong vị thế đó được? Về phần tôi, càng nghĩ, càng thấy sợ, công việc mình đang đảm trách, đối diện thần chết trong tích tắc mà không biết, tự hỏi nếu không có viên Ð/úy cố vấn đến đưa đi lúc đó thì...

Cám ơn Thượng đế, ông bà đã phù hộ cho tôi tai qua nạn khỏi để viết bài này. Ðây là câu chuyện đã giữ bí mật suốt mấy chục năm qua, cần bạch hóa để thân nhân của toán Centaur và phi hành đoàn chuyến bay đó biết rõ về cái chết của thân nhân mình, và cũng để nói lên sự đóng góp của họ cho NKT nói riêng, cho đất nước nói chung, chưa một lần được nhắc đến để vinh danh...
Khi viết bài này, tôi chạnh lòng nhớ tới cố Ð/tá Ngô thế Linh và T/tá Trần kim Khanh cũng có mặt tại bãi nhẩy Mỹ Khê để theo dõi cuộc thực tập đêm hôm đó, T/tá Khanh hiện ngụ tại Nam Cali, /Ðtá Ngô thế Linh đã ra người thiên cổ. Ông ra đi quá vội để lại sự thương nhớ cho mọi người.

Người chỉ huy trưởng phòng E 45.
Nguyễn mạnh Hùng

Không có nhận xét nào: