Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

Góc Việt Thi : TẾT ĐOAN NGỌ đọc thơ PHẠM NGUYỄN DU - Đỗ Chiêu Đức


Nhà thờ Phạm Nguyễn Du ở Đặng Điền
Ai cũng biết NGUYỄN DU 阮攸 (1766-1820) tác giả của Truyện Kiều được người Việt kính trọng và tôn xưng là "Đại Thi Hào Dân Tộc", được UNESCO vinh danh là "Danh nhân Văn hóa Thế giới". Nhưng rất ít ai biết đến PHẠM NGUYỄN DU 范阮攸 (1740-1786) là nhà sử học, nhà thơ Việt Nam thời Lê trung hưng đi trước NGUYỄN DU một thế hệ. Nay nhân Tiết Đoan Ngọ cận kề, ta cùng đọc thơ và tìm hiểu về nhà thơ này nhé.
<!>
PHẠM NGUYỄN DU 范阮攸 (1740-1786) vốn tên là Vĩ Khiêm 撝謙, tự là Hiếu Đức 好德, Dưỡng Hiên 養軒, hiệu là Thạch Động 石洞. ông là người làng Đặng Điền, tổng Đặng Xá, huyện Chân Phúc, trấn Nghệ An (nay là xóm Tiên Lạc, xã Nghi Xuân, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Năm 1773, ông dự thi Hương, đỗ Giải nguyên. Khi chúa Trịnh Sâm cử tướng Hoàng Ngũ Phúc mang quân vào đánh Nam Hà, chiếm được vùng Thuận Hóa (1774), ông nhận lệnh vào đấy giúp việc cho viên tướng này. Năm 1779, ông đỗ Hội nguyên (Hoàng giáp), cùng khoa với Phạm Quý Thích dưới triều vua Lê Hiển Tông. Ông là anh vợ của Nguyễn Hữu Chỉnh, từng giữ các chức vụ Giám sát ngự sử đạo Hải Dương, Thiêm sai, Đông các Đại học sĩ tại triều. Một thời gian sau, ông được về làm Đốc đồng tại quê nhà (Nghệ An). Khi quân Tây Sơn ra Bắc Hà (1786), ông không ra giúp mà lánh vào rừng rồi mất cùng năm đó, ôm theo lòng trung với nhà Lê lúc chỉ mới 47 tuổi.

Phạm Nguyễn Du có 5 tác phẩm đều bằng chữ Hán, đó là :
- Thạch Động Tiên Sinh Thi Tập 石洞先生詩集
- Đoạn Trường Lục 斷腸錄
- Độc Sử Si Tưởng 讀史癡想
- Thạch Động Văn Sao 石洞文抄
- Thạch Động Thi Sao 石洞詩抄

Sau đây là 3 bài thơ trong Đoạn Trường Lục 斷腸錄; tập thơ khóc vợ làm từ lúc đưa linh cữu vợ xuống thuyền về quê cho đến khi trở lại Thăng Long. Trên đường đi nhằm lúc Tiết Đoan Ngọ nên ông mới xúc động tâm tình làm ba bài thơ thương nhớ vợ có tựa rất dài như sau :"Sơ Ngũ Nhật Trực Đoan Ngọ Tiết Tể Sinh Vi Lễ Nhân Thành Tam Luật 初五日直端午節宰牲為禮,因成三律". Có nghĩa : "Ngày mồng 5 nhằm Tiết Đoan Ngọ, giết thịt làm lễ, nhân đó làm ba bài thơ luật". Ba bài thơ lần lượt như sau :


Bia mộ của Phạm Nguyễn Du

其一 Kỳ Nhất
客中端午蓋年年, Khách trung Đoan Ngọ cái niên niên,
此度鰥夫又在船。 Thử độ quan phu hựu tại thuyền.
文字無神生死骨, Văn tự vô thần sinh tử cốt,
江山有恨葬良緣。 Giang sơn hữu hận táng lương duyên.
他鄉不欲高聲哭, Tha hương bất dục cao thanh khốc,
悶思仍逢俗口喧。 Muộn tứ nhưng phùng tục khẩu huyên.
一段奇愁娘信否, Nhất đoạn kỳ sầu nương tín phủ ?
想今已是廣寒仙。 Tưởng kim dĩ thị Quảng Hàn tiên !

其二 Kỳ Nhị
娘今安在在仙鄉, Nương kim an tại tại tiên hương ?
此日前年蓋此娘。 Thử nhật tiền niên cái thử nương.
造化何仇誅淑慧, Tạo hóa hà cừu tru thục tuệ,
文章無力起糟糠。 Văn chương vô lực khởi tào khang.
薄儀草草陳船次, Bạc nghi thảo thảo trần thuyền thứ,
暗淚汪汪染柩旁。 Ám lệ uông uông nhiễm cữu bàng.
岸上白沙流上客, Ngạn thượng bạch sa lưu thượng khách,
漠然誰可話衷腸。 Mạc nhiên thuỳ khả thoại trung trường ?

其三 Kỳ Tam
香魂今日定隨吾, Hương hồn kim nhật định tùy ngô,
醒不相逢夢又無。 Tỉnh bất tương phùng mộng hựu vô.
使我必生卿必死, Sử ngã tất sanh khanh tất tử,
蓋余為婦妳為夫。 Cái dư vi phụ nễ vi phu.
江山不可埋愁恨, Giang sơn bất khả mai sầu hận,
天地何如儉樂娛。 Thiên địc hà như kiệm lạc ngu.
心事獨知還獨笑, Tâm sự độc tri hoàn độc tiếu,
剩將盃酒輔嗚呼。 Thặng tương bôi tửu phó ô hô !

* Chú thích :
- Quan Phu 鰥夫 : Chỉ người đàn ông góa vợ hay lớn tuổi rồi mà chưa có vợ.
- Vô Thần 無神 : Ý nói Không có phép thần thông.
- Nhưng Phùng 仍逢 : là Không muốn gặp mà vẫn gặp.
- Nhất Đoạn Kỳ Sầu 一段奇愁 : Không phải là một mối sầu kỳ quặc, mà là một nỗi buồn đăc biệt khác thường.
- Quảng Hàn Tiên 廣寒仙 : Vốn là tên riêng của Quế Hoa. Theo truyền thuyết Trung Hoa xưa, trên cung trăng có cây Nguyệt Quế, nên cung trăng còn được gọi là "Cung Quế" hay "Cung Quảng Hàn". Như trong thơ của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu :
Cung Quế có ai ngồi đấy chửa ?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi !
"Quảng Hàn Tiên" trong bài thơ chỉ mượn ý trên để chỉ "... nàng đã là Tiên ở cung trăng rồi" mà thôi.


- An Tại 安在 : AN ở đây là Nghi vấn tự, thường dùng để đặt vấn đề, như :
* AN TẠI ? là "Ở đâu ?"; "Còn ở đâu ?"...
* AN NĂNG ? là "Sao có thể ?", là "Làm sao có thể được ?"...
- Tiên Hương 仙鄉 : là Quê hương của tiên, là Cỏi tiên.
- Thục Tuệ 淑慧 : Hiền thục và thông tuê; Hiền lành và thông minh.
- Tao Khang 糟糠 : Ta hay đọc nhầm thành TÀO KHANG. TAO là TAO PHÁCH 糟粕 là Cặn bã; KHANG 糠 là Cám, là trấu. Nên TAO KHANG là phần cặn bã của hạt lúa sau khi đã xay thành gạo, tức là cám và tấm mẳn. Ngày xưa, chỉ có nhà giàu sang khá giả mới được ăn cơm, còn nhà nghèo khó chỉ ăn tấm mẳn mà thôi. Nên thành ngữ TAO KHANG CHI THÊ 糟糠之妻 là Người vợ tấm mẳn, chỉ người vợ cả đã cùng chồng sống qua những ngày nghèo khổ khó khăn của lúc ban đầu. Thành ngữ nầy có xuất xứ từ Hậu Hán Thư như sau :
Đầu đời Đông Hán, Quang Võ Đế Lưu Tú trọng dụng thị thần là Tống Hoằng, phong làm Thái Trung Đại Phu. Chị của Lưu Tú ở góa lâu ngày lại phải lòng Tống Hoằng, nên Lưu Tú muốn gả chị mình cho Tống Hoằng, bèn hỏi Hoằng về phép giao tế ở đời với cái nhìn "Giàu đổi bạn, Sang đổi vợ" như thế nào?. Hoằng đáp là : "Bần tiện chi giao bất khả vong, TAO KHANG chi thê bất hạ đường 貧賤之交不可忘,糟糠之妻不下堂". Có nghĩa :"Những người bạn lúc ta còn nghèo hèn thì không thể quên; Người vợ tấm mẳn lúc nghèo khó thì không thể bỏ được". Quang Võ Đế Lưu Tú nghe xong bèn thôi, không dám ép Tống Hoằng lấy chị của mình nữa. Nên...
TAO KHANG chỉ người vợ gắn bó với ta từ thuở nghèo hèn, nói chung là vợ lớn, vợ cả thì không thể bạc đãi được. Trong Truyện Kiều, khi đã được Thúc Sinh chuộc về từ lầu xanh, Thúy Kiều cũng biết thân phận lẻ mọn của mình, nên khuyên Thúc về thăm vợ cả là Hoạn Thư. Cụ Nguyễn Du đã viết nên tình cảnh lúc bấy giờ là :
Tin nhà ngày một vắng tin,
Mặn tình cát lũy, nhạt tình TAO KHANG.


- Bạc Nghi Thảo Thảo 薄儀草草 :BẠC NGHI là Nghi thức đạm bạc; THẢO THẢO là làm hoa loa đơn giản.
- Trần Thuyề Thứ 陳船次 : TRẦN là Trần Liệt 陳列 là bày ra; THUYỀN THỨ là Thuyền dùng cho khách thuê để đi xa.
- Ám Lệ Uông Uông 暗淚汪汪 : ÁM LỆ là Khóc thầm, khóc không ai hay; UÔNG UÔNG là chỉ nước mắt chảy ròng ròng không dứt.
- Mạc Nhiên 漠然 : là Chểnh mảng, coi thường, là Thờ ơ, hờ hững.
- Hương Hồn 香魂 : là "Hồn thơm". Cái gì đó của các bà các cô hay được thêm chữ "HƯƠNG là Thơm" vào. Như "Xe Hương, Nhà Hương, Hương Khuê...". Trong Truyện Kiều khi khuyên Thúc Sinh về thăm Thúc ông rồi thì Hoạn Thư cũng lên "xe hương" về nhà mét má :
Gió câu vừa gióng dặm trường,
XE HƯƠNG nàng cũng thuận đường quy ninh.
Hay như khi Thúc Sinh buồn vì ngỡ Thúy Kiều đã chết nên về thăm Hoạn Thư, thì...
NHÀ HƯƠNG cao cuốn bức là,
Buồng trong kíp gọi nàng ra lạy mừng.
Hay như khi Thúc Sinh nghe tiếng đến lầu xanh tìm Thúy Kiều :
Hoa khôi mộ tiếng Kiều nhi,
Thiếp danh tìm đến HƯƠNG KHUÊ gởi vào.
- Ngô 吾 : Danh xưng Đại từ ngôi thứ nhất là Tôi, Ta, Tao...
- Nễ 妳 (你) : Danh xưng Đại từ ngôi thứ hai là Mày, Anh, Chị, Ông, Bà...
- Nương : Nàng, Đại từ Phiếm chỉ ngôi thứ 2 gọi chung phái nữ còn trẻ.
- Khanh : Đại từ Phiếm chỉ ngôi thứ 2 gọi chung những người yêu dấu, như Vua gọi bề tôi; Chồng gọi vợ...
- Lạc Ngu 樂娛 : là Vui chơi, giải trí, thoải mái.

* Nghĩa các bài thơ :
Ngày Mồng 5 gặp Tết Đoan Ngọ, giết thịt làm lễ,
nhân đó làm ba bài thơ luật
- Bài 1.
Hết năm nầy đến năm khác, Tết Đoan Ngọ ta đều ở nơi đất khách; Năm nay người khách góa vợ nầy lại ở trên thuyền khách. Chữ nghĩa không có thần thông làm sống lại nắm xương đã chết; Núi sông thì lại có cái oán hận là đã chôn đi một mối duyên lành. Nơi tha hương nầy ta không muốn cất cao giọng khóc lóc kể lể; Cõi lòng sầu muộn lại gặp phải người đời lải nhải huyên thuyên. Một mối sầu đặc biệt khác thường của ta nàng có tin không ? Nghĩ rằng nay thì nàng đã là tiên ở trên cung Quảng Hàn rồi !
- Bài 2.
Nay nàng đang ở đâu, ở tại quê hương của tiên chăng ? Ngày này năm trước nàng vẫn còn là nàng ở đây. Tạo hóa có thù oán gì sao lại giết đi người thông minh hiền thục; Văn chương thì đành bất lực không thể vực dậy người vợ tao khang. Lễ nghi đạm bạc qua loa bày ra trên chiếc thuyền mướn nầy; Dòng lệ âm thầm ngổn ngang nhuốm cả bên cạnh linh cữu. Cát trắng trên bến và những người khách trên sông đều thờ ơ hờ hững biết ai là kẻ để gởi gắm cõi lòng đây ?!
- Bài 3.
Hương hồn của nàng hôm nay chắc chắn đã theo ta, nhưng sao tỉnh cũng không gặp được nhau mà mộng thì cũng chẳng có ?! Khiến cho người phải sống là ta và người phải chết là nàng; Phải chi cho ta được làm vợ và nàng làm chồng (để ta chết thay cho nàng). Núi sông không thể chôn vùi được nỗi hận sầu; Trời đất sao lại tiếc chi những điều vui thú của con người. Nên tâm sự của ta chỉ một mình mình biết một mình mình cười; Thôi thì hãy đem chén rượu thừa nầy hòa lẫn vào tiếng than "Ô Hô" não nuột mà thôi !

* Diễn Nôm :
Sơ Ngũ Nhật Trực Đoan Ngọ Tiết Tể Sinh Vi Lễ Nhân Thành Tam Luật


Kỳ Nhất
Đoan Ngọ năm năm nơi đất khách,
Năm nay góa vợ lại đi thuyền.
Văn thơ chẳng thể hồi sinh tử,
Sông núi hận vì táng mối duyên.
Đất khách nên khó bề khóc lóc,
Lòng sầu bởi miệng thế huyên thuyên.
Nỗi buồn khác chúng nàng tin chứ ?
Cung Quảng chắc nàng ở cõi tiên.

Kỳ Nhị
Nay nàng đâu tá, cõi tiên chăng ?
Năm trước hôm nay hãy thấy nàng.
Tạo hóa thù chi chôn Thục nữ,
Văn chương bất lực dứt tao khang.
Trước thuyền đạm bạc bày nghi lễ,
Linh cửu âm thầm lệ ngổn ngang.
Cát trắng khách sông hờ hững đó,
Cùng ai bày tỏ nỗi can tràng !?

Kỳ Tam
Vẫn biết hương hồn ta mãi mang,
Không mơ chẳng gặp chỉ mơ màng.
Khiến ta phải sống nàng thì thác,
Phải vợ là ta, chồng thế nàng.
Sông núi khó chôn bao sầu hận,
Đất trời sao tiếc những hân hoan.
Nỗi lòng mình biết mình cay đắng,
Chén rượu dư thừa lẫn khóc vang !

Lục bát :
Kỳ Nhất
Đất khách Đoan Ngọ năm năm,
Năm nay góa vợ nằm khoang thuyền về.
Hồi sinh chữ nghĩa khó bề,
Núi sông chôn chết hận thề mối duyên.
Quê người khó thể khóc lên,
Lòng sầu lại gặp huyên thuyên miệng đời.
Sầu khác chúng, nàng tin rồi ?!
Cõi tiên cung Quảng nàng thời thấu chăng !?

Kỳ Nhị
Nàng ở đâu, ở cõi tiên ?
Ngày này năm trước còn nguyên dáng hình.
Tạo hóa ghét chi gái lành,
Văn chương bất lực sao đành tao khang.
Qua loa đạm bạc tế nàng,
Ngổn ngang dòng lệ bàng hoàng niềm tây.
Khách trên sông, cát trắng này,
Hững hờ khó nỗi giải bày tâm can !

Kỳ Tam
Hương hồn nàng chắc theo ta,
Chẳng mơ chẳng gặp chẳng thà chẳng mong.
Nàng chết ta lại thong dong,
Phải ta là vợ, nàng chồng thay ta.
Núi sông khó lắp hận xa,
Đất trời sao lại nhạt nhòa niềm vui.
Nỗi lòng mình biết mình cười,
Chén thừa dạ cũng ngậm ngùi "ô hô" !

Qủa là những lời thương khóc vợ một cách chí tình. Cả núi sông chữ nghĩa văn chương đất trời... đều được ông mang cả vào trong nỗi buồn mất vợ một cách ấm ức của mình; thậm chí còn muốn được làm vợ để chết thay cho vợ, và vợ được làm chồng mà sống để thấu hiểu cho nỗi bi thương sầu não của người cô độc lẻ loi khi mất đi người bạn đời như thế nào !
ĐOẠN TRƯỜNG LỤC là tập thơ đặc sắc của Phạm Nguyễn Du khóc người vợ trẻ đang ân ái mặn nồng của ông. Bà là Nguyễn Thị Đoan Hương, người làng Đông Hải, huyện Chân Phúc, trấn Nghệ An, là chị ruột của Bằng Quận công Nguyễn Hữu Chỉnh. Bà làm vợ Phạm Nguyễn Du từ năm 16 tuổi, sinh sáu bận, nuôi được hai con, đến hai mươi chín tuổi thì mất. ĐOẠN TRƯỜNG LỤC 斷腸錄 là "Ghi chép nỗi đau đứt ruột" gồm 14 bài văn tế, 49 đôi câu đối cúng và phúng điếu, 36 bài thơ tả nỗi nhớ thương đối với người vợ trẻ mà cũng là một "Hồng Nhan Tri Kỷ" của ông.

Hẹn bài dịch tới !
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức


* Đôi câu đối trước đền thờ của cụ Phạm Nguyễn Du như sau :
(đọc theo cổ văn từ phải sang trái)

石 峝 科 名, 千 古 留 傳 文 化 跡;
Thạch Động khoa danh, Thiên cổ lưu truyền văn hóa tích;
鄧 田 詩 子, 萬 年 香 火 廟 堂 存。
Đặng Điền thi tử, Vạn niên hương hỏa miếu đường tồn.
* Có nghĩa :
- Khoa danh của ông Thạch Động, ngàn đời sau vẫn còn lưu truyền lại vết tích văn hóa này;
- Thi nhân của đất Đặng Điền, muôn năm sau miếu đường vẫn còn tồn tại hương hỏa mãi mãi !

* Diễn Nôm :
- Khoa danh THẠCH ĐỘNG, Văn hóa ngàn đời lưu vết tích;
- Thi sĩ ĐẶNG ĐIỀN, Muôn năm hương hỏa mãi trường tồn.

Đỗ Chiêu Đức
kính
* Theo tài liệu của Thi Viện và hình ảnh của Trần Mạnh Cường trên mạng.
                                                      

Không có nhận xét nào: