Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015

Những tấm gương sáng chói về Người Tị Nạn tại Úc Châu


RICHMOND – POST CODE 3121
Ông Phan Cảnh Hưng sanh năm 1954 tại Bình Định, Việt Nam
 Ông Hưng là người con trai út của một gia đình mất 3 còn 4 người con. Mẹ ông mất khi ông mới sanh ra chưa được 1 tuổi. Cha ông tái giá và trong khi  mẹ kế của ông đang có bầu thì cha ông lại đi tập kết ra Bắc. Mẹ kế của ông phải làm nghề bánh tráng để nuôi 5 người con nheo nhóc trong một hoàn  cảnh vô cùng cơ cực và thiếu thốn. Vì nhà nghèo nên ngay khi còn nhỏ ông đã không được đi học và phải ở nhà phụ mẹ làm bánh tráng.

 
Vì thương hoàn cảnh của ông nên khi ông được gần 7 tuổi, một người bác của ông đã làm giấy tờ và giúp cho ông được đi học tiểu học. Ông vừa đi học  vừa phụ giúp mẹ làm bánh tráng. Ông ở nhà nhiều hơn đi học, nhưng học rất khá và luôn đứng đầu lớp. Ông thi đậu vào trường trung học công lập  nhưng lại phải ở nhà vì mẹ ông không có khả năng cho ông học lên trung học. Ông tiếp tục ở nhà làm bánh tráng trong 3 năm. Thấy ông thông minh và  hiếu học một vị thầy giáo đứng ra bảo trợ cho ông đi học lại. Ông học nhảy lớp 2 lần để kịp tuổi, ông đậu tú Tài 1 và Tú Tài 2 tại Nha Trang, ban B,  môn Toán năm 1970.
 
Ông thi đậu vào Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn năm 1971. Ông vừa ra trường năm 1975 thì miền Nam thất thủ. Vì là sinh viên trước năm 75 ông  bị chuyển đi dạy ở tận đảo Phú Quốc, nơi ông dạy môn Toán lớp 12. Năm 1979, ông lập gia đình và người con gái lớn của ông ra đời năm 1980 tại Phú  Quốc. Ông nói, cuộc sống thầy giáo của ông thật thiếu thốn và đói ăn đến độ phải sống nhờ vào sự giúp đỡ của phụ huynh và học sinh. 
 
Năm 1981, ông với vợ và con gái vượt biên bằng thuyền sang Thái Lan. Sau 3 tháng ở trại tỵ nạn Songkla và Panat Nikhom gia đình ông được phái  đoàn Úc nhận cho định cư. Ông và gia đình đến Melbourne vào tháng 9 năm 1981. Lúc ấy ông chỉ mới 27 tuổi. Chỉ hơn 2 tuần đến Úc, ông đã đi làm  farm tại Lilydale trong khi tiếp tục học tiếng Anh trong vòng 4 tháng tại Nunawading Migrant Hostel.
 
Sau 1 năm ở trong hostel, năm 1982, ông và gia đình xin được nhà chính phủ và dọn về ở khu Housing tại đường Elizabeth St, Richmond. Cũng trong  năm này người con gái thứ nhì của ông ra đời và ông xin được việc làm công nhân ở hảng xe Holden (từ năm 1982-1988). Tuy nhiên, vào cuối tuần ông  vẫn tiếp tục đi làm farm (từ năm 1982-1988). Ông cố gắng dành dụm tiền để hy vọng sẽ đi học lại thay vì đi làm hãng suốt đời.
 
Tuy nhiên, không may cho ông, cuộc hôn nhân của ông bị đổ vỡ vào cuối năm 1988. Lúc bấy giờ 2 con của ông chỉ mới có 7 và 5 tuổi đang theo học tại  trường Richmond West Primary School. Khi việc này xãy ra, ông chọn đi ra khỏi nhà của Bộ Gia Cư để cho vợ và 2 con của ông ở lại đó, nhưng hai  người con gái nhỏ của ông nhất quyết đòi theo ông, nên cả 3 cha con trở thành không nơi nương tựa. Sau khi ở nhà người em vợ qua đêm, ông và hai  con được một người bạn cho tạm tá túc 1 tuần lễ, trước khi được một người bạn khác cho share phòng tại vùng Richmond để ở.

Cuối năm 1989, ông bị đột quỵ tim trầm trọng, bị bán thân bất toại, mất trí nhớ và khả năng nói. Bác sĩ và nhà thương nghĩ rằng vì tình trạng của ông quá  nặng, ông có thể sẽ không sống quá 2 tháng và nếu sống sót ông sẽ trở thành tàn phế và không bao giờ đi lại được nữa. Khi hồi tỉnh lại, ông xin 2 con về  ở tạm với vợ cũ của ông trong khi ông còn phải nằm bệnh viện. Vì quá lo lắng cho tương lai và hoàn cảnh của hai con, ông quyết chí phải hồi phục càng  sớm càng tốt. Dưới sự kinh ngạc của bác sĩ và các nhân viên điều trị của bệnh viện, sáu tháng sau ngày nhập viện cấp cứu, ông đã đứng và đi được.  Ông xin xuất viện sớm để về với 2 người con nhỏ của ông tại căn flat mà Bộ Gia Cư, qua sự can thiệp của nhà thương St Vincent, đã cấp cho ông và hai  con tại Richmond.
 
Mất job, bị bán thân bất toại, nhưng vì số tiền ông đã dành dụm trong suốt 5 năm đi làm hãng và farm của ông, Bộ An Sinh Xã Hội chỉ cấp cho 3 cha  con ông $65/tuần để sống. Ông cắn răng chấp nhận tất cả miễn là con mình không trở thành con của chính phủ hay mất cả cha lẫn mẹ. Với sự giúp đỡ  của hai con, ông nhất quyết phải đi lại được không cần xe lăn, tập nói lại và tự chăm sóc lấy mình và nuôi con ăn học đến nơi đến chốn.

Với một cố gắng và một ý chí phi thường, ông đã không hề sử dụng đến xe lăn sau khi bị đột qụy mà bác sĩ cho rằng ông sẽ không bao giờ có thể đi lại  được nữa. Hơn thế nữa, chẳng những ông đã tự mình đi lại, mặc dù thật chậm chạp và vô cùng vất vã, ông còn tự học thêm tiếng Anh để có thể dạy  kèm Toán cho 2 con của mình cho đến hết lớp 12. Không có tiền cho con học thêm, ông tự dạy kèm con của ông, kết quả là người con gái lớn đã vào  được trường Camberwell High School và người con gái út đậu vào trường tuyển nữ Trung Học Mac Robertson. Nhưng vì muốn hai chị em học cùng  một nơi, con gái út của ông đã chọn đi học tại Camberwell High School thay vì Mac Robertson.

Kết quả, người cha tật nguyền bán thân bất toại này, một disability pensioner, đã một mình dạy dỗ, nuôi nấng, chăm sóc hai người con gái 7 và 5 tuổi  đạt được kết quả như sau:
 

  • Diana Phan - đậu VCE với số điểm 99.70 và tốt nghiệp Bác Sĩ Y Khoa tại Đại Học Melbourne năm 2003.
  • Mary Phan - đậu VCE với số điểm 99.40 và tốt nghiệp Bác sĩ Nha Khoa tại Đại Học Melbourne năm 2005.
 
Ngày nay, ông đã trở thành ông Ngoại của 2 người con của Bs. Diana Phan (5 tuổi và 9 tháng tuổi) và tình nguyện coi cháu cho con gái đi làm. Ông vẫn  còn một phần bán thân bất khiển dụng, nhưng nhất quyết không dùng xe lăn hay chống gậy, tự lo lấy mọi việc cho mình và chăm sóc, thương yêu con và  cháu như ông đã làm trong suốt 25 năm qua.
 
Được hỏi, động lực nào và bí quyết nào đã giúp ông thành công trong việc vượt qua những khó khăn và trở ngại to lớn để cho ông và con cái ông có  được ngày hôm nay. Ông nói:
 
“Vì tôi thương con tôi, tôi sợ mất con tôi và con tôi mất tôi. Tôi đã trải qua kinh nghiệm mất mẹ, mất cha, cực khổ vì thế tôi phải cố sống, cố phấn đấu  cho con tôi....bí quyết duy nhất tôi dùng để dạy con tôi là phải biết tự chủ, tự kỷ luật và cố gắng hết mình, không bao giờ bỏ cuộc hoặc chào thua trước  nghịch cảnh. Tôi là một người rất may mắn được sống sót và cưu mang bởi nước Úc giàu có và đầy lòng nhân đạo này. Tôi mong các con tôi sẽ tiếp tục  đóng góp khả năng của chúng nhiều hơn nữa cho nước Úc này” 


FOOTSCRAY – POSTCODE 3011
Bà Nguyễn Thụy Hồng Cúc, sinh năm 1956 tại Huế
 
Bà Cúc là người con cả trong một gia đình có 7 người con. Cha của bà là một người lính Địa Phương Quân trong Quân Lực VNCH. Sau khi tốt nghiệp  trung học và vừa vào Đại Học năm 1975 tại Sài Gòn thì miền Nam mất vào tay Cộng Sản Bắc Việt, bà bị đuổi ra khỏi đại học vì là người Công Giáo và  là gia đình “ngụy”. Bà ghi danh đi học về kế toán ban đêm. 
 
Năm 1975 bà bị nhà cầm quyền CS bắt giam với tội danh là gián điệp của CIA vì sử dụng morse và cemaphore trong một cuộc cắm trại của đoàn  Thiếu nhi thánh thể Giáo xứ Nhân Hoà. Cũng trong năm này, tài sản của gia đình bà bị CS tịch thu, bà bị bắt phải đi Thanh niên xung phong và toàn bộ  gia đình bị bắt đi về vùng Kinh tế mới Kà Tum ở Tây Ninh.
 
Năm 1977 gia đình bà phải bỏ chạy từ vùng kinh tế mới Kà Tum về Tây Ninh lánh nạn cáp duồn của Khmer Đỏ và sau đó về lại Sài Gòn sống lang  thang không hộ khẩu và nhờ cậy vào lòng hảo tâm của bạn bè. Không nghề nghiệp bà phải kiếm sống qua ngày bằng nghề bán củi, báng xăng lẻ và  thuốc lá.
 
Lúc còn ở Kà Tum, bà và gia đình đã liều mình giúp đỡ một số người tù VNCH trốn trại tập trung cải tạo về lại Sài Gòn. Năm 1982, một người bạn cho  bà một chổ đi không đóng tiền trên chiếc tàu vượt biên đi từ Hải Sơn, Vũng Tàu. Sau 6 ngày, 7 đêm và bị tàu của Hải Quân Mã Lai xua đuổi, chiếc tàu  chứa trên 100 người tỵ nạn của bà đã tới được dàn khoan của Tây Đức và đến trại tỵ nạn Ku-Ku, nơi bà ở 1 tháng trước khi sang trại Galang, nơi bà ở  1 năm trước khi được đi định cư tại Úc.
 
Tháng 3 năm 1983 bà đến Melbourne và ở tại Midway Hostel, Maribyrnong. Chỉ một tháng sau khi đến Melbourne, bà đã được nhận vào làm công  nhân của một hãng vớ ở Thomastown. Bà làm hãng này cho đến năm 1985.
 
Năm 1984 bà thành hôn với một cựu sĩ quan hải quân Quân lực VNCH, người bà đã quen biết tại VN và gặp lại khi đến Úc khi bà còn ở trong  Midway Hostel. Bà có được 3 người con trai và một người con gái: Nam (sinh 1985), Lam (sinh 1987), Vi (sinh 1989) và Tân (sinh 1992). Người con  thứ nhì của bà bị bệnh tự kỷ.
 
Từ năm 1985 đến 1990, bà nhận làm hàng may tại nhà ở Maidstone và chồng của bà thì đi làm công nhân cho một hãng làm foam ở Highpoint. 
 
Năm 1990, bà bảo lãnh được toàn thể cha mẹ và các em tổng cộng 6 người sang Úc đoàn tụ. Nhưng điều này cũng có nghĩa rằng bà phải ký giấy cam  kết bảo trợ, phải làm việc nhiều hơn và khó khăn hơn nữa để chu cấp và phụ cấp thêm cho cha mẹ và các em trong buổi ban đầu đến Úc.
 
Năm 1993, bà mở và một mình coi sóc một tiệm Take-away Food và một tiệm bán Second Hand Furniture ở Riverside, Footscray trong khi chồng của  bà vẫn đi làm hãng. Lúc ấy người con trai út của bà chưa được 1 tuổi. Bà vừa bồng con vừa bán hàng. Khách hàng thấy tội nghiệp nên ăn xong phần  lớn tự dẹp bàn và mang chén dĩa vào trong cho bà luôn!

Ngày 21 tháng 12 năm 1994, chồng bà đột ngột qua đời vì bị tai biến mạch máu não, hưởng dương 50 tuổi, để lại cho bà 4 đứa con thơ, đứa lớn nhất  chỉ mới có 9 tuổi. Vận xui tiếp tục xảy ra cho bà, chỉ một năm sau đó, năm 1995, Hội Đồng Thành phố Maribyrnong rút giấy phép của Riverside khiến  cho bà mất trắng cả hai thương vụ Take-away Food và Second Hand Furniture. 
 
Không nản chí, bà cương quyết không nhận tiền An Sinh Xã Hội, quyết chí tìm mọi cách tự mưu sinh và nuôi con. Bà ghi danh đi học về Hospitality và  tốt nghiệp chứng chỉ này năm 1997. Mỗi dịp Tết đến bà mở gian hàng bán thịt nướng tại mọi hội chợ tại Melbourne không bỏ bất cứ một hội chợ nào để  kiếm tiền thêm nuôi gia đình và các con.
 
Năm 2005, bà sang lại một tiệm Milkbar ở vùng West Footscray. Bà và người con trai út ở tại Milkbar này. Không may cho bà Milkbar nằm ở một nơi  không đông khách nên mỗi tuần bà không kiếm được quá $150 đồng tiền lời trong một năm đầu. Với bản tính kiên trì cố hữu, bà cố công gầy dựng  thương vụ này từ một nơi ế ẫm thành một cửa tiệm kiếm được từ 800 đến 1000 đồng tiền lời mỗi tuần vào năm 2010 trở đi. 
 
Năm 2011, chủ tiệm rao bán cửa tiệm Milkbar này của bà, tiếc thay bà không mua được nên đành phải bỏ thương vụ này. Vài tháng sau, trong lúc đang  kiểm hàng để khai thuế trước khi đóng cửa, bà bị té gãy xương vai và tay. Bà phải tự mình đi bộ đến bệnh viện Sunshine để chửa trị vì người con trai út  và các con của bà lúc ấy không ai biết lái xe. Từ đó đến nay, bà không còn làm việc được nữa, nhưng tập trung vào việc thiện nguyện giúp đỡ Cộng  Đồng và các em tỵ nạn người Việt tại Melbourne.

Mặc dù phải bận rộn với công việc sinh nhai và phải một mình nuôi dưỡng bốn người con, bà luôn đặt việc giáo dục của con cái lên hàng đầu. Mọi tiền  của làm được bà dành hết cho việc học hành của con cái. Ngoại trừ người con bị tự kỷ, hai người con trai của bà đã từng là học sinh của trường  Essendon Grammar và tất cả các con bà đều đã có nghề nghiệp và nhà cửa ổn định kể cả người con trai tự kỷ cũng đã tốt nghiệp trung học và có công  ăn việc làm.

Bà là một thiện nguyện viên tích cực và là một mạnh thường quân đóng góp thường xuyên và rộng tay cho các sinh hoạt phúc lợi xã hội và văn hoá của  Cộng Đồng Người Việt Tự Do Victoria và Đền Thờ Quốc Tổ. Bà cũng tham gia một cách hăng say các công tác vận động xin chử ký hay tranh đấu  cho nhân quyền, tự do và dân chủ cho Việt-Nam. Bà là một trong những thành viên âm thầm đóng góp tiền của cho Quỹ Tù Nhân Lương Tâm để hỗ  trợ cho gia đình của các nhà tranh đấu dân chủ đang bị cầm tù tại VN trong nhiều năm qua.
 
Năm 2014, khi biết có 13 em tỵ nạn VN cần nơi cư ngụ khi được chính phủ Úc cho ra từ các trại tạm giam tại Melbourne, bà lập tức tình nguyện dùng  nhà của mình để cho 13 em có chổ ở free. Từ đó cho đến nay 6 em vẫn còn ở free tại nhà của bà. Bà cung cấp cho các em đồ ăn, chăm lo sức khỏe,  chỉ dẫn và dạy bảo cho các em. Bà trở thành một người đưa đón các em đi đây đó, bà tự mình đi xin quần áo, đồ dùng và xe đạp cho các em v.v...  Không những thế, các con của bà cũng giúp các em tỵ nạn làm những giấy tờ cần thiết, đưa giấy tờ đi thị thực và tìm việc làm cho những em được phép  đi làm. Nhà của các con bà được sử dụng làm nơi mở các lớp dạy Anh văn cho các em, thiếu bàn ghế, bà và con gái bà bỏ tiền ra mua cho họ ngồi học.
 
Từ hai bàn tay trắng khi đến Úc, chồng mất sớm, một mình tảo tần nuôi con trong đó có một người con bệnh tự kỷ, hôm nay bà có trong tay một tài sản  lên đến hàng triệu đô-la và các con của bà cũng thế.

Được hỏi động lực nào đã giúp đỡ bà vượt qua những khó khăn trong cuộc đời của bà tại Úc và tại sao bà lại dùng tất cả những gì bà có được sau biết  bao nhiêu cực khổ khó khăn gầy dựng để làm việc xã hội, tranh đấu cho nhân quyền, đóng góp cho cộng đồng và chăm lo cho những người Việt tỵ nạn  như hiện nay, bà trả lời:
 
“Từ thuở nhỏ tôi đã được dạy dỗ, sinh hoạt và lớn lên trong tinh thần tập thể và phục vụ như Hướng Đạo, Du Ca, Thiếu Nhi Thánh Thể v.v... nên tôi  luôn coi những gì mình có được ngày hôm nay qua lăng kính đó. Tôi đã trải qua nhiều khổ cực, gian truân và ngay cả kém may mắn, điều đó đúng,  nhưng cuối ngày lại chỉ có chính tôi và hai bàn tay của tôi mới là câu trả lời cho những thử thách đó. Tôi không cho phép mình bỏ cuộc, cho phép mình  ích kỷ và cho phép mình tham lam. Tôi đến Úc với hai bàn tay trắng, ngày hôm nay tôi có nhà, có xe đi, con cái tôi tuy không quyền cao, chức trọng  nhưng chúng đều là những công dân tốt, hữu ích cho xã hội, ân nhân là nước Úc. Chúng có nhà, có công ăn việc làm ổn định. Tôi chỉ mong có thế. Tôi  cũng không quên mình là người tỵ nạn đã phải bỏ nước ra đi trốn chạy Cộng Sản. Tôi có bổn phận phải lên tiếng cho những đồng bào đau khổ của tôi  tại VN và giúp đỡ hết mình cho những người trốn chạy chế độ này hiện đang xin tỵ nạn tại Úc. Tôi ước gì tôi có thể làm được nhiều hơn nữa. Tất cả tài  sản và tiền bạc tôi tạo dựng được ở Úc, khi tôi qua đời, sẽ được hiến tặng toàn bộ cho các cơ quan và cộng đồng người Việt tỵ nạn ở Úc để giúp đỡ  những người kém may mắn trong xã hội như là một lời CÁM ƠN và TRI ÂN của cá nhân và gia đình tôi đối với nước Úc Đại Lợi. Một quốc gia đã  rộng tay đón nhận và cưu mang hàng trăm ngàn gia đình người Việt tỵ nạn cộng sản trong suốt 40 năm qua” 

Không có nhận xét nào: