Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2026

Giai Thoại Văn Chương : NHỮNG CÂU ĐỐI THÚ VỊ CỦA CÁC DANH LAM (1) - Đỗ Chiêu Đức


DANH LAM 名藍 : DANH 名 là Tên, là Nổi Tiếng; Như DANH TÍNH 名姓 là Tên Họ; DANH SƯ 名師 là Thầy giỏi; DANH CA 名歌 là Ca sĩ nổi tiếng... Còn LAM 藍 là do từ GIÀ LAM nói gọn lại. GIÀ LAM 伽藍 là Chùa Phật. § Phiên âm chữ Phạn "samgharama", gọi tắt là “LAM”, nghĩa là nơi thờ “Phật” 佛, là Chùa chiềng. Trong Truyện Kiều thì cụ Nguyễn Du lại gọi là "GIÀ", khi tả Thúy Kiều ở Chiêu Ẩn Am với sư Giác Duyên cụ đã viết : Gió quang mây tạnh thảnh thơi, Có người đàn-việt lên chơi cửa GIÀ.
<!>
Nên...
NHỮNG CÂU ĐỐI THÚ VỊ CỦA CÁC DANH LAM là "Những câu đối thú vị của những ngôi chùa nổi tiếng". Đó là những ngôi chùa nào và những câu đối thú vị ra sao; Ta sẽ lần lượt điểm qua các danh lam và câu đối sau đây :


1. Chùa Dũng Tuyền ở Phúc Châu 福州湧泉寺 PHÚC CHÂU DŨNG TUYỀN TỰ :
Chùa DŨNG TUYỀN trên Cổ Sơn của thành phố Phúc Châu (tỉnh Phúc Kiến), được xưng tụng là "Ngôi chùa hạng nhất của xứ Mân Nam". Chùa được xây dựng từ năm Kiến Trung thứ tư đời Đường Đức Tông (783); Lúc đầu có tên là Hoa Nghiêm Tự, sau được vua Tống Chân Tông (915) đổi tên thành "Dũng Tuyển Thiền Viện 涌泉禪院", đến năm 1699 vua Khang Hy mới ngự ban ba chữ vàng tên DŨNG TUYỀN TỰ 湧泉寺. Trước sơn môn (cổng tam quan) của chùa có một đôi câu đối rất hay như sau :

淨地何須掃; Tịnh địa hà tu tảo;
空門不用關. Không môn bất dụng quan.
Có nghĩa :
Đất Tịnh sao phải quét ?
Cửa Không chẳng đóng đâu !

TỊNH ĐỊA 淨地 hay TỊNH THỔ 淨土 chỉ "Đất Phật thanh tịnh". Tiếng Phạn gốc là Buddhakṣetra; Hai chữ "Thanh Tịnh 清淨" đều có 3 chấm Thuỷ 氵bên trái, nên THANH là Trong; TỊNH là Sạch; THANH TỊNH là rất trong sạch yên tĩnh. Còn...
KHÔNG MÔN 空門 là Cửa Không, tiếng Phạn là Śūnyatā-vumukhamsa, có nghĩa là "Cửa giải thoát bằng tính không", là Cửa của Phật Giáo, là Cửa của nhà Chùa.


Câu đối hay và thú vị ở chỗ...
* "淨地何須掃 Tịnh địa hà tu tảo" là đất Phật đã trong sạch lắm rồi, nên sao lại cần phải quét nữa ?
* "空門不用關 Không môn bất dụng quan" Cửa chùa là cửa của Tứ Đại Giai Không, là Không có gì cả rồi nên cũng không cần phải đóng mà chi !
Thực ra thì sau cổng chùa là một con đường lát đá xanh với hai hàng cây rậm rạp, đến mùa thu thì lá vàng rụng đầy, nhưng những trận gió núi của mùa thu rạt rào thổi bay tất cả những lá vàng xuống núi, nên không cần phải quét tước gì cả ! Và vì những trận gió núi rất mạnh đó thường thổi sập các cánh cửa chùa, nên cổng chùa cũng không có làm cửa mà chi. Hơn nữa đã bảo là KHÔNG MÔN rồi mà còn có gì sợ mất nữa đâu !
Vừa nêu được ý thiền và triết lý của nhà Phật, lại vừa hợp với hoàn cảnh thực tế, quả là một câu đối vừa giản dị, vừa sâu xa, vừa thú vị !

2. Chùa Phổ Tế ở Phổ Đà Sơn 普陀普濟寺 PHỔ ĐÀ PHỔ TẾ TỰ :


PHỔ TẾ TỰ 普濟寺 là chùa thờ Quan Thế Âm Bồ Tát lớn nhất ở trên núi Phổ Đà thuộc Thành phố Chu Sơn tỉnh Chiết Giang, là một trong ba chùa lớn nhất trên Phổ Đà Sơn. Chùa được xây dựng từ thời nhà Đường, trải qua các triều Tống, Nguyên, Minh, đến đời vua Khang Hy của triều Thanh mới chính thức có tên là "PHỔ TẾ THIỀN TỰ 普濟禪寺". Trong chùa có đôi câu đối nổi tiếng do môt nhà sư, nhà thơ (thi Tăng) Tô Mạn Thù 蘇曼殊 làm ra. Câu đối như sau :

乾坤容我靜, Càn khôn dung ngã tĩnh,
名利任人忙. Danh lợi nhậm nhân mang.
Có nghĩa :
Trời đất để ta yên,
Danh lợi mặc người bận.


CÀN KHÔN là Âm Dương, là Trời Đất; DUNG là Bao Dung che chở; TĨNH là Yên tịnh. Trời đất bao la luôn dung nạp cho ta được yên tĩnh, không bị dao động bởi thế giới xô bồ xô bộn bên ngoài.
DANH LỢI là Tiếng tăm và sự Giàu có thì mặc cho người đời tất bật bôn ba để mà giành giựt cầu mong, để tranh Danh đoạt Lợi.

Câu đối nhằm khuyên ta đừng qúa xem trọng lợi danh mà phải biết chừng mực giữ cho tâm hồn được thanh tịnh bình ổn; Không phải khuyên ta tiêu cực mà muốn thức tỉnh ta biết dừng đúng lúc, đừng cứ nhắm mắt nhắm mũi mà lao vào vòng danh lợi, rồi đến khi mất tất cả mới van vái cầu xin với Quan Thế Âm Bồ Tát để cứu khổ cứu nạn.


3. Chùa TUỆ TẾ ở Phổ Đà Sơn 普陀山慧濟寺 PHỔ ĐÀ SƠN TUỆ TẾ TỰ :

TUỆ TẾ TỰ 慧濟寺 cũng là một trong ba Đạo tràng thờ Quan Thế Âm Bồ Tát lớn nhất nằm trên Phổ Đà Sơn của tỉnh Chiết Giang. Chùa được khởi xây từ đời nhà Minh bởi tăng nhân Viên Tuệ; Lúc đầu chỉ là một cái am, đến đời Càn Long nhà Thanh (1793) mới phát triển thành tự, và chính thức mở rộng từ đời vua Quang Tự (1907) thành TUỆ TẾ TỰ. Trước điện thờ Phật Mẫu Quan Âm có một đôi câu đối như sau :

自在自觀觀自在; Tự tại tự quan quan tự tại;
如來如見見如來. Như lai như kiến kiến như lai.


QUAN TỰ TẠI BỒ TÁT 觀自在菩薩 và QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT 觀世音菩薩 là cùng một vị Bồ Tát, tên tiếng Phạn là Avalokiteśvara :
- QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT 觀世音菩薩 do Thiền sư người nước Thiên Trúc là Cưu Ma La Thập 鳩摩羅什 (Kumārajīva) dịch từ đời Đông Tấn, khi Phật giáo vừa truyền vào Trung Hoa chẳng bao lâu. QUAN THẾ ÂM có nghĩa : Quan sát và nghe ngóng những tiếng kêu thương khổ nạn của chúng sinh để mà cứu rổi, nên tên vị Bồ Tát nầy còn được gọi là : CỨU KHỔ CỨU NẠN QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT.
- QUAN TỰ TẠI BỒ TÁT 觀自在菩薩 là do sư Trần Huyền Trang pháp danh Tam Tạng đời Đường, căn cứ vào "Câu đầu tiên của Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh 般若波羅蜜多心經" là :"QUAN TỰ TẠI BỒ TÁT hành thâm bát nhã ba la mật đa thì...觀自在菩薩,行深般若波羅蜜多時... là phép tu tập về lục căn thông suốt với nhau, như có thể dùng tai để nhìn và dùng mắt để nghe được... gọi là ĐẠI TỰ TẠI 大自在. QUAN là quan sát, xem xét; TỰ TẠI là Thong dong tự tại, không bị gò bó trói buộc gì cả. Nên...
自在自觀觀自在; Tự tại tự quan quan tự tại;
... là :
Tự do tự tại mà tự thong dong quan sát lấy mình.

- NHƯ LAI 如來 là Như thực nhi lai, bất sanh bất diệt. Chỉ bản tánh vốn có của con người khi đến với thế gian nầy, là Phật tánh đó; Nên NHƯ LAI là Phật Đà, là Phật Như Lai. Khi con người buông bỏ được hết những lục dục thất tình, không còn chìm đắm trong mê muội nữa là sẽ...Kiến Như Lai, sẽ thành Phật đó. Nên...

如來如見見如來. Như lai như kiến kiến như lai.
... là :
Nếu được như lúc mới đến với thế gian nầy, thì là đã thấy Như Lai rồi.
( Nếu thấy được mình như lúc mới sinh ra là đã thành Phật rồi đó !)

Nói theo Nho giáo là : Nhân chi sơ, Tính bản thiện. Cái tính vốn Thiện của Nho gia chính là Phật tính trong Phật giáo đó.


4. Câu đối trước QUAN ÂM ĐỘNG ở Phòng Huyện của tỉnh Hồ Bắc 湖北房縣觀音洞對聯 :

QUAN ÂM ĐỘNG ở Phòng Huyện của tỉnh Hồ Bắc nằm cách huyện thành 3km dưới chân núi Phụng Hoàng Sơn. Chùa được xây dựng từ đới Đường Trung Tông (688) trước một động đá thiên nhiên, được trùng tu năm 1995 và được xếp vào Di tích Văn hóa cấp Quốc gia. Trước động chùa có câu đối đầy thiền ý như sau :

見見見,非見非見,見非見; Kiến kiến kiến, phi kiến phi kiến, Kiến phi kiến;
聞聞聞,不聞不聞,聞不聞. Văn văn văn, bất văm bất văn, văn bất văn.
Diễn Nôm :
- Thấy thấy thấy, không thấy không thấy, thấy cái không thấy;
- Nghe nghe nghe, Không nghe không nghe, nghe cái không nghe.


Có nghĩa :
- Thấy tất cả, cũng như không thấy gì cả, chỉ thấy những cái mà không đáng thấy, những cái mà người thường không thấy được : Cái lòng thành và tĩnh lặng, cái bản chất và chân như của sự vật sự việc.
- Nghe tất cả, cũng như không nghe gì cả, chỉ nghe những cái không đáng nghe, những cái mà người thường không nghe được : Những tạp âm và lời sáo rỗng, để buông bỏ và giữ cho nội tâm được thanh thản tĩnh lặng.


5. Chùa LINH ẨN ở Hàng Châu 杭州靈隱寺 Hàng Châu Linh Ẩn Tự :
HÀNG CHÂU LINH ẨN TỰ 杭州靈隱寺 nằm dưới cúi Linh Ẩn sơn của tỉnh Hồ Bắc ở mặt bắc của Tây Hồ, do nhà sư Tuệ Lý người Ấn Độ sáng lập nên từ Hàm Hòa nguyên niên (326) đời Đông Tấn. Đôi câu đối nổi tiếng nhất trong chùa là :

人生哪能多如意; Nhân sinh nả năng đa như ý;
萬事只求半稱心. Vạn sự chỉ cầu bán xứng tâm !
Có nghĩa :
- Người đời sao được đều như ý;
- Muôn việc chỉ cầu được nửa thôi !


Rất thực tế và rất nhân bản, không triết lý cao siêu xa vời mà khuyên răn thẳng với cuộc sống của con người...
Trong cuộc sống của người đời, làm sao có được tất cả mọi điều đều đúng như ý nguyện của mình cả cho được, nên phải biết có chừng mực mà đừng van vái đòi hỏi quá nhiều ở Thần Thánh phù hộ cho có được tất cả...
Muôn việc tính toán mong cầu, nếu tất cả đều được thành công và gặt hái được một nửa kết quả là đã "qúy hóa" lắm rồi. Lòng tham của con người không đáy, đòi hỏi tối đa thì Tiên Phật gì cũng khó mà đáp ứng cho nổi !


6. Chùa Đàm Chá ở Bắc Kinh 北京潭柘寺 BẮC KINH ĐÀM CHÁ TỰ :

ĐÀM CHÁ TỰ 潭柘寺 ở ngoài cửa đông nam của Bắc Kinh dưới chân núi Đàm Chá sơn, là chùa có niên đại kiến trúc lâu đời nhất của kinh thành Bắc Kinh, do Long ĐÀM là Đầm Rồng và CHÁ Thọ là một loại cây dâu tằm ăn ghép lại mà thành tên núi và tên chùa. Chùa Đàm Chá được xây dựng từ năm Vĩnh Gia nguyên niên (397) đời Tây Tấn. Trong chùa có điện thờ Phật Di Lặc, ông Phật mà trên vai luôn vác cái bao vải (Bố Đại Hòa Thượng 布袋和尚 là Hòa Thượng túi vải) và mặt thì luôn luôn có nụ cười toe toét, với đôi câu đối thú vị như sau :

布袋全空容甚物 ? Bố đại toàn không dung thậm vật ?
跏趺半坐笑何人 ? Gia phu bán tọa tiếu hà nhân ?
Có nghĩa :
- Túi vải trống không chứa thứ gì ?
- Xếp chân ngồi nửa cười ai đây ?


"Túi Vải trống không" và "Xếp chân ngồi cười" là buông bỏ tất cả, cỏi lòng thanh thản, tứ đại giai không nên lòng không còn vướng bận gì cả luôn nhìn đời với một nụ cười từ bi bác ái... Ta hãy đọc tiếp thêm một đôi câu đối sau để thấy được lòng bao dung hỉ xả của đức Tôn Phật Di Lặc :

大肚能容,容天下難容之事; Đại đổ năng dung, dung thiên hạ nan dung chi sự;
開口便笑,笑世間可笑之人. Khai khẩu tiện tiếu, tiếu thế gian khả tiếu chi nhân.
Có nghĩa :
- Bụng to nên chứa được, chứa được những điều mà thiên hạ không chứa được;
- Mở miệng bèn cười, cười những người đáng được cười trên thế gian nầy.

DUNG 容 là chứa đựng, là chịu đựng, nên cũng có nghĩa là BAO DUNG 包容, là tha thứ cho lỗi lầm của người khác. Bụng to nên chứa được hết những điều mà thiên hạ không thể chứa được, bao dung hết những điều mà thiên hạ không thể bao dung được.
TIẾU 笑 là cười vui, là cười cợt, nên cũng có nghĩa là cười châm biếm, cười mỉa mai, cười xí xóa hết thảy những người đáng "bị" cười trên thế gian nầy.
Ý thiền thật giản dị nhưng lại sâu sắc vô cùng !


7. Chùa Thiên Phật Tự ở Tế Nam 濟南千佛寺 TẾ NAM THIÊN PHẬT TỰ :


THIÊN PHẬT TỰ 千佛寺 còn được gọi là HƯNG QUỐC THIỀN TỰ 興國禪寺 nằm trên triền núi của Thiên Phật Sơn thuộc Thành phố Tế Nam của tỉnh Sơn Đông. Chùa được xây dựng trong những năm Khai Hoàng của đời nhà Tùy (581-600) lúc Phật giáo đang hưng thịnh, nên tín đồ khắc rất nhiều tượng Phật từ chân núi đến cửa chùa, nên mới gọi là Chùa Thiên Phật, là "Chùa có cả ngàn ông Phật", và cũng vì thế mà núi cũng có tên là Thiên Phật Sơn (Núi có hàng ngàn ông Phật).
Trước cổng sơn môn của nhà chùa có đôi câu đối nổi tiếng do Cử nhân Dương Triệu Khánh 楊兆慶 đời nhà Thanh làm ra như sau :


暮鼓晨鐘驚醒世間名利客; Mộ cổ thần chung, kinh tỉnh thế gian danh lợi khách;
經聲佛號喚回苦海夢迷人. Kinh thinh Phật hiệu, hoán hồi khổ hải mộng mê nhân.
Có nghĩa :
- Trống chiều và chuông sớm, làm giật mình thức tỉnh những khách danh lợi trong thế gian nầy;
- Tiếng kinh và tiếng niệm Phật, gọi những người còn mê đắm trong biển khổ hãy quay đầu về.


"MỘ CỔ THẦN CHUNG" ta quen nói thành "Mõ sớm chuông chiều". Tiếng mõ sớm và chuông chiều vang lên như những lời nhắc nhở thức tỉnh chúng sinh buông bỏ vòng lợi danh phiền não, trở về với chân tâm thanh tịnh không màng chen chúc trong danh lợi được thua phiền não nữa. Và...
"KINH THINH PHẬT HIỆU" ta thường nói là "Cầu kinh niệm Phật". Cầu kinh niệm Phật là một hình thức thực hành tâm linh trong Phật giáo nhằm giúp tâm trí an tịnh, chuyển hóa phiền não, cầu bình an cho bản thân và gia đình, đồng thời cũng giúp cho những người còn chìm đắm trong biển khổ sớm quay đầu giác ngộ.

Hai bên điện thờ Tôn Phật Di Lặc còn có một đôi câu đối bất hủ như sau :

笑到幾時方合口 ? Tiếu đáo kỷ thời phương hợp khẩu ?
坐來無日不開懷 ! Tọa lai vô nhật bất khai hoài !
Có nghĩa :
Cười đến bao giờ thì mới khép miệng lại ?
Ngồi đây thì không ngày nào là không vui lòng cả !


Phật Di Lặc là Tiếu Phật 笑佛, là ông Phật Cười. Còn KHAI HOÀI 開懷 là "Mở lòng ra", là để lòng rộng mở, cũng có nghĩa là rất "Vui Vẻ, Thoải Mái" nữa.
"Cười đến bao giờ thì mới khép miệng lại ?" Có nghĩa cười mãi không bao giờ khép miệng lại cả, với triết lý là "Nhân sinh thường lạc 人生常樂" Đời sống con người là vui vẻ, nên phải luôn vui vẻ mà sống và luôn luôn mở rộng tấm lòng với tất cả mọi người, mọi hoàn cảnh, mọi tình huống... để mà lạc quan vui sống.

Hẹn bài viết tới !
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức


     
  

Không có nhận xét nào: