Lời phi lộ
Trong hầu hết gia đình Việt Nam, nếu không trong thân thuộc họ hàng, hay trong bạn bè quen biết, thì ai cũng đã từng biết qua thảm trạng Biển Đông. Có người từng là nạn nhân chính, số lớn từng là nhân chứng sống…Riêng tôi muốn được chia sẻ tâm trạng của các bậc cha mẹ đã từng gởi con đi tìm đường sống trong nanh vuốt tử thần. Có người mất con nhưng không biết thật sự chuyện gì xảy ra. Nhưng ở đây, do một duyên cơ mà tôi được biết rõ ràng hoàn cảnh nào con tôi gặp nạn, tại đâu và xảy ra thế nào như chính mình được tận mắt chứng kiến…
<!>
Chính vì vậy mà cho đến nay chúng tôi vẫn còn tự trách mình, vẫn còn hối hận, vẫn còn ăn năn cho quyết định đã an bài định mệnh chính con của mình…
Lê Văn Y
Tôi ra tù tháng 4/82. Hoạt cảnh người dân Sài Gòn bấy giờ sáng suốt ra thêm nhờ sống với Cộng Sản, có nghe, có thấy tận mắt để họ tự hiểu là không thể ở chung được, không thể chịu đựng nổi sự hà khắc, tàn ác và thâm hiểm của chúng. Mọi người chỉ chờ chực, rắp tâm vào việc tìm đường vượt biên.
Vợ tôi trước là cô giáo, sau khi “đứt phim” cũng đành nấn ná với nghề gõ đầu trẻ để được thêm phần nhu yếu phẩm nuôi hai đứa con nhỏ và nhín nhút từng vắt mì khô gởi vào thăm chồng đang cải tạo. Sáng chạy đi bán quần áo chợ trời đến một giờ thì khòm lưng đạp xe về đi dạy học. Thân đàn ông, từng là người chủ gia đình, từng là sĩ quan quân lực mà nay phải ngồi bó gối, hay quanh quẩn đuổi gà cho vợ là một nỗi khổ tâm chung cho những người đồng cảnh ngộ.
Đứa con trai lớn là Thụy học xong lớp 12 nhưng không thể lọt qua rào cản để vào đại học, tôi đành cho cháu học thêm nghề điện tử. Đến tuổi 18 thì phường khóm lăm le bắt đi lính. Thời kỳ chiến trường Campuchia rất sôi động, tôi cứ nơm nớp trong lòng. Còn gì mỉa mai và đau lòng cho bằng thấy con mình lại cầm súng để bảo vệ chế độ mà chính chế độ này đã cầm tù, đày ải cha mình, đã gây bao đau thương thống khổ cho người dân vô tội!
Vợ chồng tôi cũng có nộp đơn đi ODP nhưng thời gian chờ đợi không biết đến bao giờ mới giải quyết, nên chúng tôi bàn với nhau để cho cháu Thụy trốn đi vượt biên trước, vì vậy chúng tôi rất cẩn thận nghe ngóng xem “tuyau” nào có người đi thành công, đến nơi chốn an toàn mới được.
Bán cạnh vợ tôi là vợ chồng chị Hữu có một đường dây đã từng đưa gia đình chị ấy đi mấy chuyến đến Thái Lan được cả, và họ viết thư về cho hay cách thức tổ chức khá chu đáo, không sợ bị gạt gẫm. Lần này thì gia đình bên đó sẽ vượt biên, gồm một ông chú tên Hiệp khoảng 47 tuổi, cô em gái út của chị Hữu tên Xuân 25 tuổi, và đứa con trai lớn của chị 12 tuổi. Thấy mọi việc có vẻ êm xuôi, tương đối an toàn, những người đi trước điện tín về cho hay ghe chạy cặp Vịnh Thái Lan vượt biên giới Campuchia khoảng 2 đêm 1 ngày là tới bờ, không bị sóng gió nhiều và đoạn đường lại ngắn nữa. Thế là vợ chồng tôi quyết định cho cháu Thụy đi chuyến này.
Lúc bàn tính thì vợ chồng tôi rất hăng hái. Vợ tôi hỏi ý: “Nếu cho con đi một mình thì anh tính sao?” Tôi thì đồng ý ngay vì thấy bao nhiêu chuyến đưa gia đình người ta đi gần hết và đều trót lọt, tiền bạc sòng phẳng thì có lẽ đây là cơ hội tốt nhất rồi. Thật sự là sau khi chồng tiền cọc xong thì cảm thấy nửa mừng, nửa lo lẫn lộn. Tối hôm đó tôi cứ trăn trở không ngủ được, đầu óc cứ nghĩ miên man đủ thứ chuyện, đến chừng quá mệt mới chợt thiếp đi lúc nào không hay.
Thời gian gấp rút, chỉ biết 48 giờ trước khi khởi hành nên việc chuẩn bị có phần vội vã. Tôi cũng hỏi cháu Thụy: “Này, nếu ba má gởi con đi một mình, con có sợ không? Con chịu đi không?” Cháu cũng tự biết nếu ở lại Việt Nam thì cũng không đời nào lên đại học được vì lý lịch gia đình, nên cháu gật đầu bằng lòng ngay. Tôi ghi lại các chi tiết lý lịch và số quân của tôi cũng như địa chỉ thân nhân bên Mỹ cho cháu học thuộc lòng gấp. Thảo ra câu mật hiệu để báo về khi đến nơi an toàn. Vợ tôi đeo cho con chiếc nhẫn một chỉ vào tay và may kẹp vào lưng quần hai chiếc nhẫn khác. Sáng hôm lên đường, tôi chở vợ ra chợ trước xong về đón con ra điểm hẹn sau. Tôi cỡi chiếc đồng hồ Seiko cho con đeo để xem giờ. Cháu Thụy ngồi phía sau xe Honda, tôi nói lại lần chót những chi tiết lý lịch hầu khai báo với phái đoàn khi đến được Thái Lan. Cháu Thụy vẻ mặt rất trầm tĩnh và vui. Gặp nhóm bên chị Hữu gồm ba người, trong đó có con trai của Hữu là Duy, cùng trạc tuổi thiếu niên nên chỉ ít phút sau là hai đứa thân nhau ngay. Gọi cho mỗi người một tô hủ tiếu Nam Vang rồi nhìn con ngồi ăn ngon lành mà thấy thương đứt ruột, tôi cố gắng dằn lòng để không làm bịn rịn cho chuyến đi.
Độ một chập sau thì ông Năm dẫn đường đến. Trước khi mọi người lên xe lam, tôi đến bắt tay ông Năm để có ý gởi gắm giúp đỡ dùm mọi sự, rồi ôm choàng vai cháu Thụy mà gượng cười vui chớ thật ra lòng đã tan nát, không biết dọc đường chuyện lành dữ thế nào… Ông Năm ngồi phía trước và mọi người lục đục leo lên phía trong xe. Không biết cháu Thụy có chủ tâm hay ngẫu nhiên lại ngồi phía sau đuôi xe lam như để cố níu kéo khoảnh khắc còn được gần, còn được thấy mặt người thân càng lâu chừng nào, càng tốt chừng ấy.
Mặc dù tôi cầm tay lái ngó phía trước nhưng vốn biết chắc rằng vợ tôi đang chậm nước mắt ở phía sau, còn tôi dù cố gắng lắm nhưng hình ảnh phía trước cũng cứ nhạt nhòe… Cháu Thụy cũng vậy, mắt đăm đăm nhìn về phía chúng tôi rồi chốc chốc lại ngoảnh mặt đi để dấu ngấn lệ… Cứ chừng một vài phút, hoặc là tôi hoặc là cháu lại vẫy tay nhau.
Xe chạy đến Ngã Sáu Phú Lâm thì cháu Thụy khoát tay, ý bảo chúng tôi đừng đưa nữa và gật đầu ra dấu như chừng muốn nói là cháu sẽ tự lo liệu được, để chúng tôi yên tâm. Sau lần vẫy tay dài, tôi nói với theo:
– Thụy! Con đi cẩn thận nghe con.
Vợ tôi lúc ấy quẹt nước mắt liên tục. Tôi bấm kèn xe Honda vài hồi rồi vẫy tay lần chót, xong cho xe quẹo trở về Sàigòn. Trước khi xe quẹo hẳn, tôi còn ngoái cổ nhìn lại lần chót nữa, vợ tôi chỉ còn biết gục đầu vào lưng tôi mà khóc. Tôi chạy được khoảng một phút thì lại bỗng bị ray rứt, dày vò, bồn chồn trong lòng nên quyết định quẹo tay lái và chạy ngược trở ra Phú Lâm rượt theo chiếc xe lam chở cháu Thụy. Có lẽ cu cậu bất ngờ khi chợt nhìn ngược trở lại thì thấy ba má vẫn còn chạy theo, mới chỉ vừa hai phút rời xa mà nhìn thấy lại sao tôi cứ có cảm giác như lâu rồi mới gặp lại người thân, cái cảm giác vui vui như mình vừa tình cờ tìm lại một vật quý giá không biết thất lạc ở đâu vậy. Nhìn ánh mắt con tôi cũng tin rằng cháu cũng có cùng cảm nhận như chính tôi, mắt cháu mở to hơn đầy ngạc nhiên và miệng hé ra nụ cười rạng rỡ. Chúng tôi lại vẫy tay nhau và chạy theo thêm khoảng một phút nữa thì tôi lại bấm mấy hồi kèn và vẫy tay chào hết mọi người, chúc con và mọi người được một chuyến đi thành công, suôn sẻ. Thà là như vậy để tôi không còn ấm ức, không còn tự trách mình nữa.
Chợ bữa đắt, bữa ế, những hôm bị quản lý chợ rượt đuổi, vợ tôi phải chạy trốn kẻo không thì bị tịch thu luôn giỏ hàng, có lần chạy vấp té lăn cù, quần áo đầu tóc dính sình đất bê bết. Vợ tôi ráng dành dụm chắt chiu mới đủ số ba cây vàng, chồng trước một và trả hết khi có điện tín về. Chiều hôm tiễn đưa về đến nhà ăn uống qua loa rồi vợ chồng ngã lăn lên giường, dù không ai nói với nhau một lời nhưng tâm trí đều cùng thả theo từng bước con đi. Đến tối thì chúng tôi lên chùa lễ Phật để cầu nguyện cho con được mọi sự bình an và may mắn. Bấy giờ cái buồn bỗng đâu biến mất mà chỉ còn nỗi lo canh cánh bên lòng. Cháu Thụy ra đi cũng vừa lúc 18 tuổi, trai trẻ, khỏe mạnh, chơi túc cầu và biết bơi lội. Vấn đề sức khỏe tốt cũng an tâm được phần nào, chỉ mong sao được mọi điều may mắn cho mọi người.
Theo như dự trù thì ông Năm sẽ đưa cả nhóm đi bằng xe đò xuống Châu Đốc rồi sẽ qua biên giới Campuchia, sau đó dùng ghe đi biển chạy dọc theo đường ven qua biên giới Thái để cặp vào bờ gần nhất. Hy vọng cả nhóm đi vào tháng 10 thì biển cũng êm một phần. Vợ chồng tôi vẫn đắn đo vì nhiều tổ chức nhắm hướng Mã Lai hay Nam Dương thì quá rủi ro với biển cả và hải trình lại quá dài. Duy chỉ còn đường tắt là chạy dọc theo Vịnh là tương đối ngắn và biển êm hơn. Những người đi trước điện tín về là sau hai đêm ghe cặp vào được bờ ở một xóm nhà dân, tất cả đều lo ngại không biết mình đã thoát chưa, chừng nhìn lên ánh đèn từ xa thấy đèn hiệu quảng cáo “Coca Cola” tổ bự thì ôm nhau mừng húm vì biết chắc mình đã ở đất Thái. Chỉ có trở ngại chính là tuyến này lại thường xuyên gặp hải tặc. Đâu có chọn lựa nào là chắc ăn 100% được. Nhưng cũng do nhờ tin gởi về báo đều êm xuôi, không bị cướp và tài công thông thuộc đường đi nước bước, do vậy mà chúng tôi cũng tạm lắng đọng nỗi lo âu canh cánh bên lòng.
Ba ngày sau vợ chồng tôi và vợ chồng chị Hữu kéo lên nhà ông Năm để hỏi thăm tin tức. Vợ ông Năm cho hay ông đi qua Miên chưa về. Thôi thì đành lũ lượt rút lui mà lòng thấp thỏm lo âu. Hai gia đình đành phải an ủi nhau, cầu mong điều lành cho cả nhóm vượt biên.
Chú Hiệp là người có tuổi nhưng da thịt rắn chắc, vừa đi tù về tiền bạc cũng hết, vừa bị chánh quyền cứ đòi lên hỏi xuống phường khóm dài dài. Là người từng trải chốn gian lao, chắc chắn sẽ biết thích ứng với mọi tình thế. Cô Xuân, em gái chị Hữu thì nhỏ người, khéo tay, may vá giỏi, lanh lợi, biết buôn bán, ứng xử, có lẽ cũng lanh lợi. Còn cháu Thụy thì trai trẻ, khỏe và biết bơi, tay chân chơi thể thao chắc nịch cũng có thể giúp ích được cho nhóm, chỉ có Duy là nhỏ tuổi nhất nhưng cháu cũng thông minh lanh lợi, cho nên có thể tin tưởng được là nhóm này hợp thành một đội có đủ nam, phụ, lão, ấu để giúp đỡ nhau.
Khoảng mười ngày sau, chúng tôi gặp ông Năm thì được ông cho biết là đã đến Nam Vang an toàn, và hiện tạm trú ở đó để chờ lên đường tiếp. Câu hỏi đặt ra thì thật nhiều nhưng ông Năm cũng chỉ là một đầu mối dẫn đường cho một đoạn hành trình đến khi bàn giao cho đường dây khác ở Miên, thành ra cũng không biết thêm điều gì hơn.
Đến hai tuần sau thì ông Năm nhắn chúng tôi đến và được ông giao lại cái nón kết, chiếc áo pull sọc xanh, trắng, và mảnh giấy báo của cháu Thụy: “Ba má yên lòng, con vẫn bình an”. Ký tên và đề ngày 2 tháng 10. Nhìn hàng chữ của con mình mà bỗng một nỗi niềm thương xót dâng lên nghẹn ngào, xen lẫn với nỗi xót xa như vò nát ruột gan mình. Cảm xúc lẫn lộn, ước gì con viết được nhiều hơn nữa để ba má biết thêm về tình trạng của con – mà có lẽ trong hoàn cảnh gấp rút bên đó, sắp đến giờ lên đường nên họ cho viết một dòng báo tin thôi chớ làm sao mà dài dòng văn tự được. Dù sao cũng được biết cho đến giờ phút ấy con cũng được bình an, và cũng nhờ đó đã trút bớt gánh lo âu nặng trĩu suốt mấy tuần. Nhìn nét chữ viết rõ ràng, mạch lạc như thấy con được mạnh giỏi và bình tĩnh nên tôi yên lòng hơn. Cầm lấy chiếc nón kết con đội và chiếc áo sơ-mi lúc con ngồi trên xe lam mà tôi tưởng chừng đang được Cầm lấy chiếc nón kết con đội và chiếc áo sơ-mi lúc con ngồi trên xe lam mà tôi tưởng chừng đang được ôm chầm lấy vai con và xoa tay lên đầu những khi con còn nhỏ xíu. Kỷ vật còn đây mà hình bóng biền biệt nơi nào…
Về đến nhà vợ tôi cẩn thận mở chiếc áo ra rồi bất chợt úp mặt vào lòng áo mà khóc nức nở! Tôi thì lấy ngón tay vuốt nhẹ lên chiếc nón, chiếc nón con thường đội đi học mỗi ngày… mà nước mắt cứ tuôn theo dòng, chảy dài xuống cằm mà nhỏ xuống. Cứ để cho nó lăn chảy như vậy để vơi bớt đi niềm thương nỗi nhớ. Sau đó vợ tôi không chịu mang đi giặt mà xếp chiếc áo ngay ngắn, để lại riêng một kệ trong tủ áo với chiếc nón nằm bên trên.
Lui tới hỏi thăm liên tiếp năm lần bảy lượt mà chúng tôi chẳng có tin gì thêm. Chị Hữu cũng điện qua người trong trại Thái Lan để hỏi xem có gặp ai chăng… Thời gian cứ lần lựa qua đi mà nỗi bồn chồn càng ngày càng bứt rứt… Nước mắt chúng tôi vẫn lăn dài dưới chân Đức Phật từ bi… Thầy trụ trì không kềm được trước sự nài nỉ của vợ chồng tôi mà thảo ra một quẻ. Thầy nói sợ với tuổi này mà đi nhằm ngày đó thì không được hạp cho lắm, nhưng cũng còn tùy phúc đức của cha mẹ thì có thể chước giảm được phần nào. Thôi thì cũng đành lấy đó làm an ủi cho nhau. Tôi không muốn tin dị đoan nhưng trong hoàn cảnh đó cũng đành phải liều vậy.
Rồi ngày này qua tháng nọ qua đi mà tin vẫn cứ bặt tăm. Chúng tôi không muốn nghĩ đến điềm chẳng lành nhưng rồi niềm tin vẫn cứ bị sói mòn. Cả nhà đều ngầm hiểu là có điều rủi nhiều hơn lành mà không ai mở miệng đả động tới vết thương lòng của nhau. Đôi khi giữa chợ bỗng có đứa em trai nào trạc tuổi như con mình chợt đi ngang qua, vợ tôi và chị Hữu lại ngồi thụp xuống sạp giấu mặt khóc thầm.
Vợ chồng chị Hữu vẫn đi lễ thường xuyên vào cuối tuần. Bỗng một chúa nhật kia, cha sở có làm một lễ cầu hồn cho một gia đình nọ có con em bị chết trên đường vượt biên. Qua sự tò mò và nôn nóng, chị liền đến dọ hỏi và biết rằng: Họ đi đường Campuchia rồi sang ghe chạy dọc theo biển qua Thái Lan nhưng chẳng may bị cướp, có người sống, kẻ chết, người sống thoát được vào bờ báo tin về nên gia đình làm lễ cầu hồn cho nạn nhân này. Tuy là ngày giờ đi thì đúng còn một vài chi tiết khác không khớp nhưng chị Hữu không ngần ngại xin địa chỉ của người sống sót trong trại tị nạn để may ra biết thêm tin tức gì chăng?
Tôi vội biên ngay lá thơ, ghi thêm đầy đủ những chi tiết về ngày giờ, lộ trình, xuất phát ở đâu, cũng như tổng số người trong ghe, nhất là không quên gởi kèm một tấm ảnh 4×6 của cháu Thụy để họ dễ nhận diện. Thơ gởi đi rồi tôi trông ngóng từng ngày, cầu mong biết đâu cả nhóm bị kẹt ở một hòn đảo nào đó hoặc thất lạc, trôi dạt vào một bờ bến nào hoang vắng không có sự tiếp cứu đành bặt tin luôn?
Thường khi tôi đưa vợ dọn hàng bán ở chợ xong thì đạp xe về nhà lo phụ cơm nước trong ngày. Ông Hai đưa thơ đã đến, cầm trên tay ba lá thơ trong đó có một lá dầy cộm. Liếc nhanh thấy gởi từ Thái Lan, tôi vội chụp ngay lá thơ, chạy vội lên gác mở ngay ra đọc.
Thuận, người còn sống sót, thuật lại chuyến đi của mình… Ngày rời Sàigòn sau một ngày so với toán của cháu Thụy. Đến Châu Đốc xong là theo người dẫn đường qua tới Nam Vang, ém quân ở đó khoảng bảy ngày rồi lên xe lửa đi về hướng biển. Lên ghe và rời Campuchia hôm 2-10-87. Khởi hành cũng khá thuận buồm xuôi gió. Tài công thường đưa đi, về như con thoi nên rất ngán ngại bị cảnh sát Thái bắt vì sẽ hết đường làm ăn về sau. Thời gian này ít gió nên biển khá êm, 27 người ở cái thế nửa nằm nửa ngồi dưới khoang gồm một số đàn ông, đàn bà và con nít. Và điều quan trọng mà chúng tôi trông ngóng bấy lâu để biết được chút tin tức về con là: Thuận xác nhận nhờ vào tấm hình tôi gởi qua mà Thuận nhớ rõ ràng chính là Thụy, vì đã đi cùng chuyến ghe với nhau, và chính Thụy đã ngồi đối diện với Thuận nên mới nhớ rõ như vậy!
Tôi bỗng dưng thấy một vật gì chận nghẽn ngay cổ họng, tay tôi bỗng run lên, những nét chữ không còn nằm ngay ngắn thẳng hàng nữa, phải khó lắm mới đọc tiếp những dòng chữ lấm tấm từ hàng lệ nhỏ xuống. Trời ơi! Số phận nào đã đẩy đưa con đi cùng một chuyến mà bây giờ người thì còn, kẻ đã mất như thế này? Tôi phải hít mạnh một hơi dài để trấn áp cảm xúc lại và lấy thêm bình tĩnh đọc tiếp lá thơ…
… Đi được một ngày thì chẳng may gặp ngay bọn cướp Thái Lan. Chúng vơ vét hết tiền bạc, tư trang! Ở đây Thuận không kể chi tiết diễn tiến của vụ cướp mà tôi tin chắc chúng cũng đã hành hạ, đánh đập mọi người, kể cả hãm hiếp nữa. Sau trận này mọi người cũng ngất ngư, rồi không biết còn bao nhiêu tai ương nào đang chờ chực nữa? Ghe vẫn tiếp tục chạy đến chiều 4/10 thì tài công thấy có tàu như của cảnh sát chớp đèn ra hiệu bắt ngừng lại. Thế chẳng đặng đừng, tài công sợ bị cảnh sát chặn lại thì lại kẹt, vì thời gian sau này chánh phủ Thái Lan đã có lệnh cấm không cho thuyền nhân vào bờ nữa, nếu bị bắt phải ở tù, và hơn thế nữa là đường dây làm ăn hái ra vàng của anh ta đành phải xếp xó. Cho nên tài công ra lệnh mọi người nằm sát xuống và anh mở hết tốc lực cho ghe vọt luôn may ra thoát được.
Thật ra đấy là hành động phản ứng cấp thời chứ làm sao một chiếc ghe nhỏ, bề ngang chỉ hai thước, có thể thoát cảnh sát được. Tàu cảnh sát tức giận rồ ga chạy rượt đuổi theo. Mọi người hú tim vì họ bắn theo phía sau vài loạt đạn cảnh cáo bắt ngừng lại. Thấy mọi việc không êm, tài công đành thúc thủ, bớt ga và ngừng ghe lại. Mọi người hồi hộp lo sợ không biết nếu cảnh sát bắt thì họ có cho mình lên đất liền không? Hay lại kéo ra khơi trở lại? Chừng chiếc tàu kia chạy đến gần hơn thì hỡi ơi! không phải là tàu cảnh sát! mà là của hải tặc! Bọn chúng tức giận vì ghe dám bỏ chạy nên tên nào cũng hầm hầm sát khí nhảy qua ghe gom đàn ông lại hành hạ, đánh đập. Tuy Thuận không kể lại rõ từng chi tiết nhưng dù thế nào thì mọi người trên ghe chắc chắn đã gặp đại nạn rồi. Xong, chúng vơ vét xem còn vàng bạc gì nữa không, nhưng khổ nỗi cả ghe đã bị đám cướp trước đó trấn lột cả rồi, thì họa hoằn chăng cũng chỉ còn vài chỉ vàng của ai đó khéo giấu lại thôi. Thế là bọn chúng nổi xung thiên lên, thòng dây kéo tàu ra khơi xa hơn rồi phá máy, chặt đứt dây. Đã thế chúng có chịu tha đâu, bọn chúng cho tàu chạy lui ra xa lấy trớn rồi đâm thẳng vào chiếc ghe vượt biên!
Chỉ đọc đến đây thôi tôi cũng hình dung được một thảm cảnh hãi hùng bày ra trước mắt: đàn bà, con nít khóc lóc, hoảng loạn, lặn hụp giữa biển cả mênh mông! Không biết con tôi ra sao? Không biết con có vớ được vật gì làm phao nổi không con?
Trong số 27 người trên ghe bị trôi dạt, hoặc đuối sức vì bị thương tích, chỉ còn 11 người sống sót nhờ bám vào vật nổi, may mắn đến sáng được một ghe đánh cá Thái thương tình vớt lên, cứu sống được!
Trong đầu tôi bỗng chợt hiện lên hàng chục câu hỏi: Liệu con có bị đánh đập gì hay không?
Vì tôi biết cháu Thụy rất cương trực, thấy chuyện gì bất bình là không ngồi yên, lại có thanh niên tính, có sức khỏe, nhiều khi không chịu nổi cảnh trái tai, bất nhẫn nên ra tay can thiệp rồi bị vạ lây? Hay trong cơn hoảng loan tàu đắm, người chết, kẻ sống, liệu con có vớ được một bình nước hay bám được miếng ván nào để làm vật nổi không?
Hay lại cố gắng bơi vào bờ nhưng sau cùng quá sức chịu đựng, bị vọp bẻ?
Hoặc bây giờ con đang trôi dạt về một nơi nào, một đảo hoang, một bến bờ không tìm được ai để báo tin.
Nhưng rồi cả nhóm bốn người sao lại không có ai tin tức gì? Trường hợp nào lại có thể có bốn người cùng biến mất một lúc được?
Những câu nghi vấn cứ lởn vởn trong đầu tôi mà không tìm được một lý giải nào ổn thỏa. Đến đây lá thơ rớt xuống bàn lúc nào tôi cũng chẳng biết. Tôi úp hai bàn tay lên mặt mà khóc ròng, tức tưởi, nấc lên từng hồi đứt đoạn. Vai run lên từng chập, tôi cứ mặc cho lệ tuôn trào, tôi khóc nghẹn điếng người có lúc không thành tiếng để gắng gọi tên con cho được, nhưng chỉ còn tiếng the thé đứt đoạn từ trong cổ họng…
Trời ơi! Vợ chồng tôi đã vô tình giết sống con của mình rồi! Con ơi, tội nghiệp cho con đã chống chọi với gian nan mà giờ lại bặt tăm nơi nào. Linh cảm cho tôi nỗi tuyệt vọng là cháu Thụy có lẽ không còn nữa. Con ơi, hãy về báo mộng cho ba má biết trường hợp của con thế nào nghe con! Rồi tôi lại nhủ thầm: Không biết con có bám được vật gì không, chớ đừng dại dột bơi vào bờ. Biển cả mênh mông thì chừng nào mới bơi đến bờ được! Nhưng có lẽ con không dại dột như vậy, hoặc rồi sau cùng bị vọp bẻ mà đành chịu thua số phận? Những điều dặn dò này lẽ ra tôi phải có trách nhiệm hướng dẫn trước cho con. Tôi quá hối hận vì đã đem con, một đứa trẻ mới lớn – ra để thử thách với tai ương, đương đầu với sóng gió. Làm sao một mạng người quá nhỏ nhoi lại có thể đương cự với biết bao hiểm nghèo đang rình rập trước mặt? Tôi đã sướt mướt khóc lớn hơn khi nghĩ đến lúc sóng gió và cận kề với cái chết chắc rằng con tôi đã gào lên cầu cứu: “Ba ơi! Cứu con ba ơi! Con đuối sức quá rồi!”… “Má ơi! Con gần chìm rồi má ơi, cứu con má ơi!”
Tôi quá đỗi hối hận! Tôi nắm tay lại, tự đấm vào mặt mình để hành phạt lấy thân tôi, rồi nằm vật xuống bàn…
***
Thụy là đứa bé mới lớn, rất ngoan, học hành chăm chỉ. Không la cà lén lút hút xách hay chơi với bạn bè xấu. Cháu rất thích túc cầu nên chiều cuối tuần thường kéo mấy đứa bạn đi chơi banh. Nhớ hồi tôi mới trở về từ trại tù cải tạo, một hôm vợ tôi chỉ vào một khối xi măng nhỏ chừng 5x10cm và dầy 3cm, có một lỗ nhỏ bằng mút đũa trên mặt mà hỏi tôi:
– Đố anh biết cục xi măng này là gì vậy?
– Có phải xây để tấn cột nhà trên gác không? Vợ tôi cười lớn:
– Không phải, khi anh đi tù thì Thụy rất thù Việt Cộng nên nó lấy xi măng lúc ông nội sửa nhà đắp thành một nấm mộ trù cho tụi Cộng Sản chết hết để ba được về đó!
Lúc tuổi nhỏ đang lớn mà tôi không có ở nhà cận kề dạy dỗ, hướng dẫn và đùa vui với con. Tôi đã đánh mất một khoảng thời gian quý báu lãng phí trong bảy năm đi tù, trong lúc con mình cần có một người cha ở bên cạnh nhất.
Khoảng năm 83, 84 là Sàigòn lần đầu tiên có rạp chiếu bóng chiếu bằng video. Hai đứa nhỏ nhảy cỡn lên khi tôi bảo: “Thay đồ đi, ba chở tụi con đi coi video phim Tarzan”. Thế là ba cha con đèo nhau bằng chiếc xe máy đầm, Thụy ngồi yên sau, còn phía trước tôi đóng một miếng kệ gỗ, gác dọc theo sườn xe, tạm làm ghế nhỏ cho Đoan ngồi phía trước, chân gác lên hai con chuồn chuồn mà cười nói huyên thuyên. Kỷ niệm thời gia đình mình còn nghèo, thiếu trước hụt sau, các con sống cực khổ quá, thiếu thốn đủ thứ, giờ gia đình mình có đủ mọi phương tiện thì con lại không còn với ba má nữa!
Bao nhiêu là kỷ niệm bỗng chợt quay về… Có hôm bạn bè rủ nhau ra ngoài sân Petrus Ký đá banh, vì đường xa và sợ xe cộ, tôi dặn Thụy khoảng 6 giờ thì về, đừng để quá trễ. Anh chàng ham vui mãi đến 8 giờ hơn mới về đến nhà. Cả nhà trông đứng trông ngồi, đến lúc chàng dắt xe đạp vào nhà, mới nhẹ nhõm, hết phập phồng. Thụy vừa bước đến nhà sau, tôi giận quá hét một tiếng lớn và sẵn trên tay cầm một ca nước, tôi liền hất cả vào mặt con. Thụy xanh cả mặt vừa sợ vừa kinh ngạc, không ngờ phản ứng của tôi dữ dằn như vậy, đành đứng im như trời trồng. Thấy tôi quá tức giận có thể bước tới xáng thêm một bạt tay nữa nên Đoan, em gái Thụy 7 tuổi, chụp vội tay tôi, nói:
– Ba ơi! Ba đừng đánh anh Hai nữa ba ơi!
Tôi như chợt tỉnh lại cơn thịnh nộ. Bao nhiêu tức giận bỗng chợt tiêu tan nhờ lời can ngăn của đứa con gái nhỏ biết thương xót, tội nghiệp cho anh mình.
Giờ nghĩ lại tôi thấy hối hận vô cùng. Bây giờ con còn đâu để ba trút giận dữ lên con nữa! Tôi ăn năn vì đã xử sự không phải với con, mà đáng ra con phải được nhận lời dạy dỗ ôn tồn hơn là những quát tháo khi nóng giận. Lời nói đã thoát ra từ cửa miệng rồi không thể lấy lại được, vì vậy tôi ôm oán hận lấy chính mình mà cho đến giờ nhớ lại thì đâu còn có cơ hội để chuộc lại lỗi lầm xưa.
Những chiều đạp xe ra chợ đón vợ tôi về, tôi đi sớm hơn một chút để rồi đạp loanh quanh qua những lối, ngõ mà thường xuyên Thụy vẫn đạp xe đi học về, để nhập vào cảm giác như có con đi cùng. Hoặc chiều chiều lúc chạng vạng tối, tôi ghé ra ngồi nơi bờ đá dọc theo sông để nhớ về con, về những dịp hè nóng bức, cha con cùng nhảy đùng xuống sông bởi tắm…
Ở mỗi góc nhà, ở mọi sinh hoạt gia đình, bỗng dưng thiếu vắng một hình bóng, một tiếng cười quen thuộc. Tối tối Thụy vẫn thường ôn bài cho em mà nay chỉ còn một mình Đoan bên bàn học. Căn nhà bỗng nhiên bị hụt hẫng đi. Một tối nọ, vợ chồng tôi và Đoan cùng nằm chung giường, khi chúng tôi đang nhắc đến vài sinh hoạt trong nhà, bỗng giật mình quay lại vì tiếng khóc của Đoan. Đoan đang nhớ về anh mình mà khóc tức tưởi, đôi vai run nấc lên từng hồi, khóc đến nấc cục, ướt cả gối… Thì ra Đoan cũng chất chứa tình thương anh mình nhiều hơn là chúng tôi nghĩ, và mới biết rằng trong thời gian này ít khi nhắc đến anh cũng chỉ vì sợ vô tình gợi lại nỗi buồn cho chúng tôi.
Để khỏa lấp khoảng trống mỗi tối sau giờ cơm, tôi đi mướn phim bộ Hồng Kông về để mẹ con xem cho khuây khỏa đôi chút. Đôi khi chợt có cảnh chiếu bờ biển sóng nhấp nhô bờ cát, là mỗi lần gợi nhớ thương, như khêu lại đống tro tàn vừa tạm nguội năm nào. Tôi vội bấm nút cho băng quay nhanh qua cảnh khác.
Mỗi lần những đứa bạn của Thụy trong đội banh lâu lâu ghé lại thăm thì vợ tôi lại gợi nhớ tới con mà mắt đỏ hoe, thành ra các cháu biết vậy sau này không còn dám đến chơi nữa.
****
Năm này tháng nọ rồi cũng qua đi, không ai nói ra, chỉ hiểu ngầm nhau mà sống. Đã lâu rồi, tôi có dành cho mỗi đứa con một quyển nhật ký, trong đó ghi lại tất cả những chi tiết lý lịch của từng đứa như ngày sanh, ở đâu, cân nặng bao nhiêu, cũng như diễn biến cuộc đời chúng từ lúc mới sanh đến lúc trưởng thành. Chúng tôi dự định sẽ trao lại cho các con đúng vào ngày mừng lễ thành hôn. Tôi phụ trách viết nhật ký cho Đoan và vợ tôi viết cho Thụy. Lúc đó buồn quá, tôi giở lại quyển nhật ký của Thụy, bất chợt thấy nét chữ của con ghi lại những thời gian nhàm chán, buồn tủi sau khi biết mình không thể lên đại học được, và tôi cũng khám phá Thụy cũng có để ý đến một cô con gái nào đó trong lớp học chung, nhưng vì chờ xuất cảnh nên Thụy không dám tiến tới xa hơn.
Rồi chợt đến phần cuối, từ khi tôi cho hay là sắp xếp ngày đi vượt biên. Thụy không còn đủ thời giờ để gặp lại tất cả bạn bè cũ, ôn lại những kỷ niệm thời niên thiếu học chung trường, chơi chung nhóm. Thụy tiếc nuối không có dịp để gần gũi bạn bè nữa và gởi lời chia tay để rồi muốn bạn bè chuyền nhau đọc. Với những lời lẽ chân thành, Thụy đã khóc để cho nước mắt tuôn ướt cả trang giấy lốm đốm mực, chữ nghĩa mộc mạc nhưng nét chữ mất bình tĩnh, giao động, càng về sau càng tháu, cho thấy rằng Thụy đã rất chân thành với những cảm xúc sau cùng với bạn bè. Tôi đọc những dòng chữ này mà cho đây phải chăng là những lời trối trăn sau cùng? Riêng đối với tôi, những nét chữ này là vô giá, là tất cả những gì thân thiết nhất của con để lại, mà thật ra bất cứ một di vật nào, dù cho một nét chữ hay một hình ảnh gì của con cũng đều là một báu vật ấp ủ mãi trong tận đáy lòng chúng tôi.
Rồi ngày phỏng vấn xuất cảnh cũng đến, và điều trớ trêu chua xót là tên Thụy vẫn còn trong hồ sơ của phái đoàn Mỹ. Việc ra đi theo diện H.O. hồi đó là rất mù mịt, không biết chừng nào mới xét cho đi mà tình trạng bắt lính lại cận kề, chính vì muốn con có được một cuộc đời tự do, được tiến thân và cả một thế hệ con cái sau này được thoát khỏi gông cùm Cộng Sản, nên chúng tôi đành quyết định cho con ra đi.
Người ta bước chân lên máy bay với lòng rộn rã hân hoan, môi cười hớn hở, còn tôi bước chân ra phi trường lại mang theo bao ray rứt, ngậm ngùi.
Rồi cuộc sống ở Mỹ cũng tạm ổn, cô con gái đã ra đại học, phải chi Thụy còn sống thì cũng được chắp cánh bay xa. Gia đình đơn chiếc chỉ có ba người, đôi khi làm cỏ, tỉa cây hay sửa nhà… ước chi có đứa con trai bên cạnh để phụ giúp lúc nặng nhọc. Có lúc Đoan cũng phụ chuyện lặt vặt nhưng chính vì vậy làm tôi càng nhớ Thụy nhiều hơn.
Hàng năm cứ đến ngày sinh của con, tôi thường theo dõi đài Little Saigon qua chương trình nhắn tin ba miền, để gởi lời nhắn qua làn sóng. Tôi biết là vô vọng nhưng biết đâu chừng còn có một phần trong số triệu triệu tia hy vọng mỏng manh hiu hắt nào đó… có thể len lỏi xuống cõi tối tăm này. Và ít ra là điều tôi còn có thể làm được. Có lần chỉ năm phút sau thì tôi được cú điện thoại hỏi rằng có phải tôi vừa nhắn tin trên đài không? Tim tôi hồi hộp quá, biết đâu chẳng là tin tức về con? Chừng nghe ra mới biết đó là một thính giả vừa nghe được mẩu nhắn tin nên cảm thông với nỗi mất mát của tôi, mà gọi lại an ủi, vì cô cũng vượt biên trong trường hợp tương tự qua Thái Lan. Cô thuật lại những hãi hùng bị giông bão và hải tặc, gian nguy… mới lên được tới bờ, làm cho tôi thêm ân hận vì đã đem con ra bỏ chợ, đem con ra mà thách đố với thiên nhiên, sóng gió nghìn trùng. con
Dù chỉ quen biết mới năm phút trước thôi nhưng chúng tôi cùng mối cảm thông sâu xa, và tôi cảm thấy gần gũi, vì là người từng cùng chia sớt chung một nỗi gian nan như con tôi, nên tôi khóc ngất kể lại hoàn cảnh của con đã từ lâu chất chứa bao ngày không dám tỏ cùng ai.
Những âm thầm chịu đựng càng đè nén xuống bao nhiêu thì càng dễ làm người ta ngây dại thêm bấy nhiêu. Cứ vào ngày giỗ của con (4/10), lúc 4 giờ chiều, thì tôi âm thầm đi làm về sớm hơn, nấu thêm chút cơm nóng, còn món canh thì tối qua tôi giả vờ nói với vợ là “Anh thèm nồi canh chua quá, mai em nấu rồi mình về cùng ăn”. Thịt hay món mặn thì còn từ hôm trước. Thế là tôi dọn lên bàn thờ nhỏ của con, thắp nhang khấn vái mà lệ nhỏ từng dòng, cầu mong vong hồn con được yên nghỉ nơi cõi xa xăm nào đó hãy về ăn bữa cơm với ba má. Trong khi chờ hương tàn, tôi lấy hộp đồ đựng tất cả di vật của con ra mà vuốt ve, ôm ấp, hôn chiếc nón kết ngày nào con ra đi, lật lại từng trang album hình ảnh của con từ hồi đầy tháng đến khoảng 17 tuổi mà hôn, mà khóc. như chưa từng bao giờ được khóc. Xin con tha lỗi cho ba má!
Thụy là đứa con rất ngoan, biết kính trên nhường dưới, thương yêu em gái, là một thanh niên giàu nghị lực phải sống cảnh thiếu thốn vật chất qua những năm tháng tôi đi tù. Nay cuộc sống đầy tràn tương lai hứa hẹn thì con không còn ở với ba má nữa. Có lúc tôi chợt oán ơn trên sao lại cho sinh ra một kiếp người vừa chợt lóe lên tia hy vọng, tâm hồn hoàn toàn trong sáng, chưa lầm lỗi gì với xã hội, với gia đình, vô tội với cuộc đời, thì sao không để cho được đi tiếp quãng đời trần thế mà thu hồi lại quá sớm như vậy? Trong khi hàng vạn kẻ ác độc, bất lương vẫn sống thảnh thơi đầy rẫy trên mặt đất này? Tạo hóa có bất công chăng?
Cũng may là tôi còn giữ được cuộn băng cassette thâu tiếng nói của hai đứa lúc còn nhỏ khoảng 2, 3 tuổi. Bây giờ tôi mới thấy quý vô vàn. Đối với tôi đó là cả một gia tài. Nghe lại những lời hát mộc mạc của bài ca thiếu nhi bằng giọng hát ngọng nghịu trẻ thơ làm tôi nấc lên, không cầm lại – không cách gì để cầm lòng lại được – tôi phải quơ vội chiếc khăn lau mặt ngậm lại trong miệng để chặn bớt tiếng nghẹn ngào tức tưởi của mình, cổ họng chợt cứng đơ tự bao giờ, tôi kêu lên: “Thụy ơi!” bằng tất cả những thương nhớ tột cùng, bằng tất cả sự thương tiếc thống khổ! Tôi gào tên con, vì chỉ có ngày này tôi mới được một mình kêu to lên tên con để trút cơn giận vào định mệnh mong manh.
Xin con tha thứ cho ba má! Cầu mong con được yên nghỉ nơi chốn vĩnh hằng, hoặc được đầu thai lại sống với một người cha tốt hơn là ba, và bên một người mẹ tốt hơn là má của con. Cầu xin những vong linh oan hồn chẳng may gặp nạn, tìm được nơi chốn bình yên, miên viễn, hoặc có một cuộc đời khác làm người được gặp nhiều hạnh phúc, không còn khổ lụy.
Ba vẫn ước nguyện, thỉnh thoảng, con tạt ngang nhà báo mộng cho ba má như một đứa con đi xa lâu lâu ghé thăm gia đình. Dù đã 16 năm qua, nhưng con vẫn là đứa trẻ ngày nào. Dù đã 16 năm qua, tình thương cho con vẫn đầy ắp như ngày nào con bập bẹ biết nói, biết đi… Nhớ nha, lâu lâu ghé về thăm ba má nghe Thụy!
_________________
Lời Cuối: Anh Y là anh bà con của tôi và trong niềm thương tiếc, tưởng nhớ về anh, tôi đã tìm quyển tuyển tập truyện ngắn được phát hành vào năm 2004, và được anh ưu ái gửi tặng khi anh đi nhận giải thưởng.
Tên cháu Thụy (Lê Châu Đoan Thụy) được khắc vào tấm bia của hằng trăm ngàn thuyền nhân bị cuốn trôi tại tường đài thuyền nhân ở Westminster, CA. Hằng năm, vào mùa Quốc Hận, chị em chúng tôi thường đến thắp nhang tưởng niệm cháu và những vong hồn đã bỏ mình trên biển cả trên đường vượt biên, tìm chút tự do…MP
Tốt nghiệp khóa 22 Thủ Đức, với cấp bậc sau cùng là Đại Úy. Bị giam trại tù Cộng Sản từ 1975 đến 1982. Được sang Mỹ định cư năm 1993 theo danh sách HO 17. Học ngành Kỹ Thuật Điện Lạnh tại Houston College.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét