Con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm không dài lắm, nhưng có tới ba địa danh nổi tiếng: đó là Thảo Cầm Viên Sài Gòn, và hai trường trung học công lập Trưng Vương và Võ trường Toản. Hai trường nam, nữ ở sát cạnh nhau, các cô tha hồ làm điệu, và các cậu say sưa ngắm nhìn, để rồi ngẩn ngơ… Cây si mọc lên như nấm, cao thấp đủ loại, có cây mới mọc, có cây đã trở thành cổ thụ… Vào giờ tan học, con đường xanh bóng cây đó, sáng rực những tà áo trắng nữ sinh Trưng Vương, và đồng phục quần xanh áo trắng của nam sinh Võ Trường Toản.
Học sinh của hai trường ùa ra như ong vỡ tổ, các cô nghiêng nón lá, che dấu những cặp má ửng hồng vì thẹn trước những ánh mắt si dại của các cậu trai đứng bên kia đường. Có những ánh mắt trao nhau vội vàng, rồi người thì quay đi, nhưng lòng xao xuyến bâng khuâng, kẻ thì bối rối trông theo, rồi đêm về tương tư… Tuổi mới lớn nên còn nhát lắm, yêu mà đâu dám ngỏ lời, chỉ dụt dè lẽo đẽo theo sau người yêu, rồi đêm về mộng mơ, rồi tập làm thơ, những vần thơ ngây ngô chép đầy trang vở học trò. Ôi đẹp làm sao là thuở mới vào đời!
Hạnh Dung năm đó mười sáu tuổi, chưa biết điệu, chỉ thích ăn quà. Con gái chúa là hay ăn quà, tan học, những gánh quà rong, những xe bò bía, xe nước đá nhận, đậu đỏ bánh lọc v…v… đông đặc toàn là nữ sinh. Thế mà một hôm có chàng trẻ tuổi lạc lõng lọt vào giữa đám nữ sinh đang ăn quà. Nhưng chàng đứng đó hình như không phải để ăn, mà để ngó đăm đăm vào cô bé Hạnh Dung, lúc đó đang ngồi trên yên xe đạp với đĩa đu đủ bò khô trên tay, tương ớt rau răm đủ cả, trông gợi thèm hết sức. Nhưng Hạnh Dung không dám ăn, vì cái nhìn của chàng khiếp quá, cứ như thôi mien, làm nhột nhạt cả người, Hạnh Dung quay đi trốn tia nhìn của chàng. Nhưng lính quýnh thế nào trợt tay, đĩa bò khô rơi xuống đất, nước mắm bắn tung toé lên cả vạt áo trắng tinh. Anh chàng vội vã chạy tới, rút khăn mùi xoa đưa cho nàng, giọng ân cần:
- Khăn đây, lau đi. Hay là… nếu cô chịu khó đợi một tí, tôi sẽ đi kiếm nước, gột áo dơ cho cô, nhé?
- Không ai khiến! Hạnh Dung giật mình, nhỏ bạn đứng bên tự dưng chõ miệng vào, nó háy anh chàng một cái, giọng đanh đá, đi chỗ khác chơi đi, không ăn đứng đây làm gì chật chỗ… Không thấy người ta đánh đổ à?
Hạnh Dung khẽ chớp mắt, ái ngại nhìn chàng, nhỏ bạn vô lý chưa, có phải lỗi của chàng đâu. Thế nhưng, chàng vẫn gật đầu, miệng cười tủm tỉm:
- Thấy chứ, thấy nên mới đưa khăn. Mà có phải việc của cô đâu?
Quê quá, nhỏ bạn vội kéo áo Dung:
- Mình đi thôi, đứng đây làm gì cho người ta trêu chọc.
Hạnh Dung đi theo bạn, nhưng lòng cảm thấy tiêng tiếc, nụ cười của chàng sao mà ấm áp dễ thương quá, và cặp mắt… Ôi chao, cặp mắt như biết nói của chàng sao có sức thu hút lạ lùng. Nàng đi đã khá xa mà còn có cảm tưởng đôi mắt đó vẫn dán theo sau lưng. Bỗng dưng, nàng cảm thấy hồi hộp kỳ lạ, tim đập nhanh một cách khác thường, Hạnh Dung vuốt tóc, sửa lại dáng đi, vì biết chắc chàng đang ngó theo…
Em đi chàng theo sau
Em không dám đi mau
Ngại chàng chê hấp tấp
Số gian nan không giàu…
Hai chân nàng cứ như vướng vào với nhau, kỳ quá… Lần đầu tiên Hạnh Dung bối rối vì một người khác phái. Nàng nhớ, đã vài lần trông thấy anh chàng đứng lấp ló dưới một gốc me, những chiều tan học, nhưng nàng không để ý. Cho tới hôm nay, anh chàng mới có can đảm xuất đầu lộ diện, nhưng không đúng lúc, và bị kỳ đà cản mũi.
Anh chàng sau vụ đó, thì lặn đâu mất tiêu, Hạnh Dung hụt hẫng, đâm ra tức nhỏ bạn vô duyên, không được ai tán tỉnh, nên thù ghét tất cả bọn con trai. Thật ra, cô nường chỉ làm bộ thù ghét thôi, để che dấu cái không may của mình, thật là tội nghiệp… Hạnh Dung ngẫm nghĩ, và mỉm cười một mình. Cả tuần lễ, cô bé không dám ăn quà, chỉ sợ anh chàng đang đứng nấp ở đâu đó nhìn thấy thì mắc cỡ chết được, thế nhưng chàng vẫn biệt dạng.
Giữa lúc Hạnh Dung đang thất vọng, thì anh chàng lại xuất hiện nơi góc phố, lặng lẽ đứng chờ… Phải nói, mắt chàng còn tinh hơn sáo sậu, nên mới có thể nhận ra nàng giữa một đám đông cả mấy trăm nữ sinh. Hạnh Dung vừa lên xe đạp được vài vòng, thì chàng đã hăm hở phóng xe theo sau. Chàng đạp dấn tới, nhưng khi đi ngang, lại không biết nói gì, chỉ ấp úng một câu nghe rất buồn cười:
- Áo đã giặt chưa? Cho tôi xin lỗi nhé?
Tội nghiệp chưa, đâu phải lỗi chàng, mà chỉ tại mình. Nghĩ vậy, nhưng Hạnh Dung vẫn nói giọng hờn dỗi:
- Cả tuần nay đi đâu mất biệt? Tưởng bỏ cuộc rồi…
- Đâu có, sợ cô giận nên đi trốn đó chứ. Mắt chàng sáng lên những tia vui mừng, vậy ra cô đâu có vô tình, nếu không, sao cô biết tôi vắng mặt?
Anh chàng tinh như ma, nói như soi thấu tim gan, Hạnh Dung đỏ mặt, nguẩy người không đáp. Chàng cười mơn:
- Thôi mà, đừng giận nữa, tôi đền cho cô nhé? Tôi mời cô đi ăn bánh tôm để bồi thường cho đĩa đu đủ bò khô của cô hôm nọ.
Hạnh Dung khẽ liếc trộm chàng, vẻ mặt chàng thành khẩn lắm, háo hức chờ đợi. Nhưng nghĩ đến tật hay ăn quà của mình, Hạnh Dung xấu hổ, không trả lời, nàng đạp xe vượt lên. Anh chàng tụt lại, nhưng vẫn lẽo đẽo theo sau. Đến ngã tư, nàng toan rẽ trái để về nhà, chàng ở phía sau nói với lên:
- Đừng quẹo, cứ đi thẳng, chúng ta đi ăn mà?
Không hiểu sao, Hạnh Dung cứ tăm tắp nghe lời, nàng đổi tay lái, và lần này thì đạp xe theo sau anh chàng. Buổi đầu gặp gỡ làm quen chỉ có thế, tiếp theo là những tháng ngày cùng đi học chung đường, hai chiếc xe đạp song song trên con đường đầy lá me rơi, những buổi trưa trốn học vào Thảo Cầm Viên, dắt tay nhau tung tăng khắp lối, hoặc ngồi trên cỏ ngắm lá thu rơi, xem hoa đua nở muôn màu sắc, nghe chim ca hót, và nghe lòng xôn xao… Tình yêu đã nảy nở giữa cậu học trò mười bẩy và cô nữ sinh mười sáu tuổi, tình yêu trong trắng của tuổi học trò, chưa baogiờ vượt quá những cái nắm tay, những cái nhìn say đắm...
Hè năm sau, cả hai cùng đậu Tú tài một. Tương lai như mở rộng trước mắt, nàng mơ sẽ trở thành cô dược sĩ, chàng mộng sẽ trở thành một giáo sư văn chương, nhưng mộng lón nhất của chàng là trở thành một văn sĩ có tên tuổi.
- Tình yêu của em sẽ là một động lực giúp anh tạo ra những tác phẩm bất hủ.
Chàng say sưa nói, mắt Hạnh Dung cũng sáng lên với một vẻ thích thú:
- Nếu thế em cũng sẽ nổi tiếng, vì em sẽ là nhân vật chính trong các tác phẩm của anh?
- Dĩ nhiên!
Cả hai cùng cười, chàng đưa mắt ngắm đôi chim đang rỉa lông cho nhau trên cành, thong thả nói:
- Em biết không, làm văn sĩ cũng có nhiều cái thú, chẳng hạn như mình là Thượng đế của những nhân vật do mình tạo ra, bắt xấu thì phải chịu xấu, cho đẹp mới được đẹp, cho sung sướng mới được sung sướng, bắt khổ thì phải chịu khổ, muốn xum họp hay ly tan, sống hay chết… đều tùy ở mình cả.
- Nếu vậy hãy cho họ xum hiệp hết đi anh! Tất cả những người yêu nhau đều được lấy nhau, đừng bắt họ xa nhau, buồn lắm.
- Vậy ra em muốn truyện nào cũng có hậu, truyện nào cũng đẹp đẽ như là trong mơ? Chàng cười, như thế đâu gọi là tiểu thuyết, bởi vì tiểu thuyết là phản ảnh của cuộc đời, mà cuộc đời thì có vui, có buồn, có xum họp thì cũng có ly tan, đâu phải lúc nào cũng suông sẻ cả?
Chàng chỉ nói chơi vậy thôi, ai dè lại trở thành sự thực, cuộc tình của chàng và nàng bắt đầu có sóng gió, mối tình thầm lén của hai người đã bị ông anh của nàng phát giác, khi anh ta bắt quả tang hai cô cậu vừa từ rạp chiếu bóng chui ra.
Bây giờ nói về Tấn, ông anh của Hạnh Dung, đó là một con người ích kỷ, hẹp hòi, và kiêu căng một cách quá đáng. Anh ta học thuốc không phải vì lý tưởng, mà vì quan niệm sinh viên trường thuốc là nhất, chỉ có sinh viên trường thuốc mới là người tình trong mộng của các cô thiếu nữ thời nay... Kiêu hãnh với địa vị của một ông bác sĩ tương lai, Tấn nhìn mọi người bằng nửa con mắt, và mặt mày luôn luôn vênh váo một cách buồn cười. Tấn còn tự hào là con nhà giàu và đẹp trai, nghĩa là cái gì cũng nhất, thế mà khi tán một cô nữ sinh Gia Long, lại bị cô này thẳng thừng từ chối. Bị cú này, anh chàng cay lắm, đâm ra thù tất cả đàn bà con gái, ganh ghét tất cả những ai có cặp, có đôi. Vì thế nên khi bắt gặp em gái đi chơi với bồ, câu đầu tiên anh ta hỏi Hạnh Dung là:
- Mày quen thằng đó ở đâu vậy? Nó học hành ra sao?
- Anh Nguyên là học trò trường Võ Trường Toản, đang sửa soạn thi Tú tài như em.
Tấn bĩu môi:
- Tưởng gì, mày đúng là đứa ngu. Sao lại chọn một thằng có con số không to tướng?
- Thế anh muốn em chọn một người như thế nào? Một anh chàng nhà giàu, đeo trước ngực một cái bằng to tổ bố? Hạnh Dung cãi, anh chỉ đánh giá con người qua cái bằng của họ? Em không nghĩ thế, em thích Nguyên, chỉ vì chính con người của anh ấy.
- Con người của nó có gì cho mày thích? Học hành đã dở, đã thế tướng tá trông lại cù lần thấy mẹ.
Hạnh Dung tức mình:
- Cù lần đối với anh, nhưng với em, anh ấy rất dễ mến. Không phải người con gái nào cũng ham bằng cấp cả đâu, thí dụ chị Ngọc chẳng hạn, anh là một ông bác sĩ tương lai, mà vẫn bị chị ấy đá văng lộn mèo đó, không thấy sao?
Thế là chạm nọc, Hạnh Dung biết mình vừa lỡ miệng thì đã muộn, Tấn nổi điên lên, hét lớn:
- Mày không phải dạy khôn tao! Giờ cái thần hồn đó, mày còn léng phéng đi lại với thằng đó, thì sẽ biết tay. Đừng tưởng tao không có cách.
Hạnh Dung hơi chột dạ, cách gì thì nàng đã biết rồi, anh Tấn hèn lắm, nhỏ mọn lắm, hơi một tí là mach. Gì chứ mách bố mẹ, thì Hạnh Dung sợ lắm vì bố mẹ, nhất là bố rất nghiêm. Hạnh Dung sợ, nên mấy tuần liền trốn không dám gặp chàng. Đây cũng là một dịp để thử lại lòng mình, Hạnh Dung vùi đầu vào sách vở, nhưng chữ nghĩa đâu chẳng thấy, trong đầu chỉ lởn vởn toàn hình bóng của chàng. Hạnh Dung tìm quên nơi bạn bè, nhưng bạn bè cũng trở nên xa lạ. Bơ vơ, lạc lõng giữa đám bạn, Hạnh Dung đâm tiếc những ngày hồn nhiên, ngây thơ khi xưa. Thời gian đi qua, có bao giờ trở lại, mọi việc đều biến chuyển theo sự xoay vần của tạo hoá, cô bé dại khờ ngày xưa, giờ đã biết yêu, đã biết thế nào là sầu tương tư. Hạnh Dung khổ sở lắm, vì cứ phải chiến đấu với con tim của mình, càng muốn quên lại càng nhớ nhiều. Sau cùng, nàng chịu thua, sau một tháng, họ gặp nhau trở lại, anh chàng trông phờ phạc, thú nhận cũng đau khổ hết sức, và hoang mang không hiểu tại sao nàng lại trốn lánh?
- Anh Tấn dọa mách bố mẹ. Hạnh Dung nói, từ nay chúng mình phải cẩn thận mới được.
Tuy họ đề phòng hết sức, nhưng cũng bị anh Tấn bắt gặp lần nữa, thế là có chuyện, ba má biết liền sau đó. Anh Tấn làm như có thù ba đời với Nguyên, chẳng hiểu anh nói gì, mà ba má có vẻ giận dữ ghê lắm. Đầu tiên là có cuộc họp gia đình, sau đó Nguyên được “mời” đến để thẩm vấn. Ông Trung sửa lại gọng kính, nhướng mắt ngó chàng từ đầu tới chân, lạnh nhạt hỏi:
- Cậu đi lại với con gái tôi là có ý đồ gì?
- Thưa bác, cháu biết nói ra bây giờ còn sớm quá, nhưng cháu có ý muốn xây dựng.
- Cậu muốn lấy con gái tôi? Ha ha ha... Ông Trung bật lên một tràng cười chế giễu, tôi nghĩ rằng cậu hồ đồ rồi đó, cậu chưa đủ điều kiện để kết hôn đâu. Cậu không biết lượng sức mình, cậu sẽ làm gì để bảo bọc cho con Hạnh Dung?
- Cháu yêu Hạnh Dung và Hạnh Dung cũng yêu cháu, cháu sẽ làm hết sức để đem lại hạnh phúc cho cô ấy.
- Làm hết sức là làm cách nào? Ông Trung mai mỉa, câu trả lời của cậu mơ hồ quá, hay cậu cố tình muốn tránh né câu hỏi của tôi? Điều kiện mà tôi muốn nói đây, là công danh, sự nghiệp để bảo đảm cho cuộc sống.
- Bây giờ thì cháu chưa có, nhưng tương lai nhất định sẽ có. Xin bác cho cháu một thời gian.
- Hãy đợi đến lúc đó hãy nói.
- Nếy vậy bác đã hứa?
- Tôi không hứa hẹn gì cả. Tôi phải giữ gìn cho con gái tôi, từ nay tôi cấm cậu không được lai vãng đến nhà tôi, hoặc lén lút gặp con gái tôi ở ngoài đường, tôi không muốn nó bị mang tiếng.
Nói xong, ông Trung đứng dậy, bỏ vô nhà trong. Tấn cười đắc ý, nói với em gái:
- Tao đã bảo mà, đừng có trêu vào tay tao!
Rồi quay sang Nguyên, hắn hất hàm:
- Còn chờ gì mà chưa chịu rút lui đi, thằng nhóc? Mới nứt mắt ra. đã bày đặt yêu với đương… Em gái tao có mù thì mới chọn mày, nhưng nó mù thì đã có tao, tao sẽ mở mắt cho nó.
- Chính anh mới là người cần phải mở mắt. Nguyên nói, mắt đỏ ngầu, anh đã biết thế nào là tình yêu chưa? Đừng tưởng cứ phải ôm một mớ bằng cấp thì mới có quyền yêu. Tôi tưởng anh đã có kinh nghiệm rồi chứ?
Hạnh Dung hết hồn, nhưng không ngăn kịp. Tấn gầm lên như một con thú dữ:
- Đồ xỏ lá, hãy cút ngay cho khuất mắt tao!
Nhưng Nguyên không cút, đâu có thể cút dễ dàng như thế sau khi bị xỉ nhục. Hai tên đàn ông xông vào nhau … Hạnh Dung đầm đìa nước mắt nhìn Nguyên như van lơn, lòng Nguyên dịu lại, chàng hạ tay xuống, sau khi trừng mắt với Tấn:
- Vì Hạnh Dung, tôi bỏ qua cho anh lần này. Nhưng coi chừng đó, anh sẽ chịu hậu quả những việc anh làm.
Nguyên ra về, lòng buồn vô hạn. Chiều hôm đó, ngồi một mình trong căn nhà trọ, Nguyên chán nản, buồn bực với chính mình, chàng hối hận đã nóng nảy làm hỏng hết mọi việc, không còn dường cứu vãn. Nhưng cứ nghĩ đến cái thái độ của Tấn, và sự khinh miệt của gia đình Hạnh Dung, là lòng chàng lại sôi lên những những cảm giác tức giận.
Hôm sau, Hạnh Dung tới tìm chàng sau khi tan trường, trông nàng bơ phờ và mắt có quầng thâm, chắc đêm qua nàng không ngủ được, và khóc hơi nhiều.
- Anh phải tin em, anh Nguyên! Dù có thế nào em cũng chỉ yêu một mình anh thôi.
- Anh biết… Nguyên nhìn sâu vào mắt người yêu dỗ dành, anh sẽ vượt qua mọi trở ngại để cưới em, chúng ta sẽ sum họp, nhưng chưa phải bây giờ. Em chờ anh nhé?
Hạnh Dung gật đầu:
- Chúng mình phải cố gắng, em muốn học xong mới lập gia đình, chờ dăm ba năm nữa cũng đâu có muộn gì?
Hè năm đó, Hạnh Dung đậu Tú tài toàn phần rồi đậu luôn vào trường Dược, còn Nguyên thi rớt, rớt luôn năm sau nữa. Mộng nhỏ không thành, nhưng mộng lớn lại đạt, Nguyên không may trong vấn đề thi cử, nhưng thành công trên con đường văn nghiệp. Chàng sáng tác rất nhiều, những sáng tác của chàng bắt đầu được mọi người chú ý, được báo chí ca ngợi, nhất là khi một thiên tiểu thuyết của chàng được giải thưởng Văn chương toàn quốc, chàng bắt đầu nổi tiếng. Hạnh Dung vẫn thường hãnh diện khoe với bạn bè rằng nàng có người yêu là một văn sĩ tên tuổi. Mặc dù gia đình phản đối, tình yêu của hai người vẫn càng ngày càng khắn khít. Qua năm sau nữa, Nguyên mới đậu, chàng ghi tên học Văn khoa. Thời gian đi học bao giờ cũng là thời gian sung sướng nhất, những buổi trưa giờ nghỉ, những buổi chiều tan học, Nguyên thường qua bên trường Dược, hẹn hò với nàng, họ tìm một chỗ có bóng mát, ngồi thủ thỉ chuyện tương lai. Tình yêu thời sinh viên cũng đẹp lắm, thơ mộng lắm, sân trường Dược in đầy dấu chân của cặp tình nhân đẹp đôi. Các bạn bè của chàng và nàng đều biết, dĩ nhiên gia đình Hạnh Dung cũng biết. Không thể ngăn cấm nổi, nhưng mẹ Hạnh Dung vẫn không bỏ cuộc, bà ngày đêm nhắc nhở:
- Con dại lắm, không thấy là thằng đó kém quá hay sao? Có cái bằng Tú tài, mà khó khăn lắm mới đậu nổi, thì sau này còn làm nên trò trống gì?
- Anh ấy bây giờ là một văn sĩ nổi tiếng, có sự nghiệp đàng hoàng rồi chớ bộ?
Bà Trung cười khẩy:
- Sự nghiệp gì cái nghề bán chữ? Thầy chẳng ra thầy, thợ chẳng ra thợ, phải nặn óc ra mới có cái ăn, mà óc thì có bao lớn, vắt hoài riết cũng cạn. Con xem cả nước mình, có người văn sĩ nào giàu có đâu? Cuộc đời bấp bênh, lúc nổi lúc chìm, lo cơm áo cho mình còn vất vả, vợ con hòng gì nhờ cậy? Mày không thực tế chút nào, hãy tỉnh ra đi con, đừng mơ mộng nữa. Lớn rồi phải biết suy nghĩ, làm việc gì cũng phải tính toán, mày mà lấy nó là mày lỗ vốn.
- Trời! Hạnh Dung kêu lên bất bình, hôn nhân mà mẹ bảo phải tính toán, làm như buôn bán mà lời với lỗ?
Mẹ nàng thản nhiên đáp:
- Chứ không à, mày sắp là một cô dược sĩ, còn nó, học thua mày xa… Mày đâu đến nỗi ế ẩm, đến nỗi phải lấy một người chồng kém hơn mình?
- Biết thế nào là hơn, là kém? Văn nghệ sĩ cũng có cái cao quí của văn nghệ sĩ, cái nghề tinh thần đó không phải ai muốn đều làm được, mà phải có thiên khiếu trời cho. Mẹ thử nghĩ xem, nếu cuộc sống chỉ toàn vật chất, mà không có những món ăn tinh thần thì cuộc sống sẽ mất đi một nửa. Văn nghệ sĩ chính là những người đã đem tươi vui đến cho cuộc đời.
- Mày chỉ giỏi tài ngụy biện.
- Những lời con nói đều là sự thực. Ở các nước văn minh Âu Mỹ, họ nhận ra giá trị của các văn nghệ sĩ trước chúng ta, và người nghệ sĩ được hưởng những quyền lợi xứng đáng với tài năng của họ. Con hy vọng mai này…
- Cái ngày mai đó sẽ lâu lắm, hoặc không bao giờ có. Bà Trung ngắt lời, nhưng sự nghèo nàn, thì mẹ đã thấy trước mắt.
- Xin mẹ hãy nghĩ đến tình yêu của con, mà đừng nói đến chuyện giàu nghèo được không? Hạnh Dung van nài.
- Tình yêu của mày là mù quáng. Tao không bao giờ chấp nhận có một thằng con rể là văn sĩ, mày liệu sao đó thì liệu, đừng để tao xấu hổ với họ hàng. Con người ta lấy chồng bác sĩ, kỹ sư, còn mày đòi lấy một tên áo rách, có đẹp mặt không?
Chưa nói hết câu, bà đã đứng phắt dậy, hầm hầm bỏ vào phòng, đóng sập cửa lại. Hạnh Dung chỉ biết thở dài, lòng nàng rối như tơ vò, cuộc tình của hai người bế tắc, không có lối thoát. Đôi lúc, Hạnh Dung cũng đã nghĩ đến việc cùng Nguyên trốn đi xây tổ ấm, nhưng rồi nàng lại sợ hãi không dám. Ở một xã hội mà nền luân lý còn khắt khe, thì việc bỏ nhà trốn theo trai là một điều đáng xấu hổ, một sự nhục nhã cho gia đình, cha mẹ nàng làm sao chịu nổi dư luận đàm tiếu? Không, Hạnh Dung không có can đảm đâu, dù sao, thì sự giáo dục mà nàng hấp thụ từ tấm bé, cũng ảnh hưởng đến sự quyết định của nàng. Phải giữ thể diện cho cha mẹ, Hạnh Dung nghĩ, nhưng phải xa Nguyên thật là một điều đau khổ quá sức chịu đựng của nàng.
Giữa lúc Hạnh Dung còn đang bối rối chưa biết tính sao, thì xảy ra một việc bất ngờ, cha Nguyên bị thương nặng trong một tai nạn lao động, ông nhờ người đánh điện tín, gọi Nguyên về gấp. Nguyên vội vã mua vé máy bay đi Khánh Hoà thăm cha. Thời gian này là thời gian Hạnh Dung đang chuẩn bị thi cử. Ngày Nguyên lên máy bay, cũng là ngày Hạnh Dung thi ra trường. Bà Trung đến tìm chàng nơi gác trọ, không dài dòng, bà vào đề ngay:
- Tôi biết thế này là không nên, nhưng cậu hiểu cho, tôi chỉ vì lòng thương con… Hạnh Dung đã có người đi hỏi, đó là ông dược sĩ Tiến, giảng viên phụ trách thực tập tại phòng thí nghiệm. Chắc cậu cũng đã nghe phong phanh biết rồi? Ông ta vừa học thức, vừa giàu có, hơn cậu đủ mọi phương diện. Làm vợ ông ta, bảo đảm con tôi sẽ có một cuộc sống giàu sang sung sướng, hơn là lấy một người trắng tay như cậu... Tôi tới đây, van xin cậu hãy buông tha con tôi, để nó yên tâm đi lấy chồng. Nếu quả thật cậu thương nó, cậu hãy suy nghĩ kỹ, lấy cậu, nó không có tương lai, cậu không có nghề nghiệp vững chắc, lại chẳng chịu khó học hành, cứ thi rớt hoài, đố khỏi sẽ bị đi lính. Tôi không muốn con tôi già héo vì chờ đợi, hoặc trở thành bà goá. Yêu nó, cậu nên hy sinh cho nó…
Từ nãy chỉ mình bà ta nói, Nguyên ngồi im lặng, lòng ngổn ngang trăm mối, bây giờ chàng mới ngẩng lên, cặp mắt nổi vằn những tia đỏ:
- Tôi hiểu cả, bà khỏi phải nói nhiều, tôi chỉ muốn hỏi bà một câu thôi?
- Cậu cứ nói!
- Bà có chắc Hạnh Dung sẽ sung sướng, khi phải sống suốt đời bên một người chồng, cô ta không hề yêu thương? Bà có chắc danh vọng và tiền bạc sẽ đem lại hạnh phúc cho cô ấy? Hay bà chỉ tính toán hơn thiệt, không cần đếm xỉa đến những đau khổ của con bà?
Bà Trung cúi mặt xuống tránh tia nhìn của chàng, đôi môi mỏng hơi mím lại, nghĩ ngợi một lúc, bà thở ra:
- Rồi nó sẽ quên đi, thời gian sẽ hàn gắn hết mọi thứ.
- Tôi cũng mong thế.
Chàng chỉ tay ra cửa, nói như quát:
- Thôi đủ rồi, bây giờ bà yên tâm về đi, tôi hứa sẽ biến mất khỏi cuộc đời của con gái bà.
Bà ta đi rồi, Nguyên ngồi im, thẫn thờ như người mất hồn. Thế là hết, sợi dây tình cảm gắn bó giữa hai người đã bị mẹ nàng chặt dứt, người con gái chàng yêu với tất cả tâm hồn, sẽ không bao giờ thuộc về chàng cả. Đã đến bước đường cùng rồi, không có lối thoát, không còn con đường nào khác ngoài con đường rút lui. Tự ái khiến chàng quyết định phải dứt khoát, nhưng trong thâm tâm đau đớn hết sức, vì mối tình đầu đã để lại một vết thương nơi tim chàng. Nguyên hình dung ra những nỗi khổ của người yêu, mà ruột gan như thắt lại, nhưng không thể tiếp tục được nữa, đeo đuổi mãi một mối tình mà kết quả chẳng đi tới đâu… Thôi thì, nếu không xum họp, thì đành lòng phải chia tay, để nàng có thể đi trọn con đường do cha mẹ nàng chọn… Nguyên cương quyết đứng dậy, xách túi hành lý bước ra cửa, sau khi nói vài lời giã biệt với vợ chồng người chủ nhà, chàng gọi xe ra thẳng phi trường.
Tới nơi, Nguyên vội vã vào ngay bệnh viện, chàng đau đớn nhìn cha đang thoi thóp trên giường bệnh. Cha Nguyên làm nghề kiểm lâm, trong lúc đang làm việc, ông bị một súc gỗ rơi trúng lưng, làm dập một bên phổi, thương tích rất nặng, khiến ông qua đời ba tuần sau đó. Lo tang ma cho cha xong, Nguyên bỏ đi xa dể tìm quên. Không ai biết chàng đi đâu, vì Nguyên không để lại địa chỉ, chàng cắt đứt liên lạc với tất cả mọi người, kể cả bạn bè. Chàng đi biền biệt, nay nơi này, mai nơi khác, làm đủ mọi nghề để kiếm sống. Hành trang chỉ là một cái va ly nhỏ, đựng vài bộ quần áo, và những tập bản thảo viết dang dở. Sau cùng, chàng cũng tạm dừng gót giang hồ, sau khi được mời làm chủ bút một tờ báo nhỏ, nhưng có uy tín ở miền Trung. Đời sống vật chất tuy đầy đủ, nhưng tinh thần vẫn chưa ổn định, tâm tư luôn luôn khắc khoải,vì không sao quên được chuyện cũ.
Năm năm sau, nhân một lần nghỉ phép, Nguyên về thăm chốn cũ, bàng hoàng nhận được tin người yêu đã tự tử chết, việc xảy ra cũng mới đây thôi, vì mộ nàng chưa xanh cỏ. Nguyên rùng mình không tin đây là sự thật, chàng tìm đến ngôi nhà cũ khi xưa của cha mẹ nàng. Chính mẹ của Hạnh Dung ra tiếp chàng, bà đưa chàng vào nhà trong. Căn phòng hơi tối, vì các cửa sổ đều đóng kín, tim Nguyên thắt lại khi nhìn thấy ảnh nàng trên bàn thờ. Nguyên lại gần, run rẩy đưa tay sờ lên mặt kính, trong ảnh, Hạnh Dung cũng nhìn lại chàng đăm đăm. Mắt Nguyên đỏ hoe, tấm ảnh này chàng cũng có một cái, Hạnh Dung tặng chàng năm xưa, hồi mới quen nhau, chàng vẫn cất giữ trong ví, nay đã trở thành nhàu nát. Ở đây, cũng tấm ảnh đó, nhưng được phóng lớn, đặt trong một cái khung màu đen có lộng kiếng. Ảnh trông linh động như người sống, cô nữ sinh Trưng Vương trong đồng phục áo dài trắng, nét mặt rạng rỡ tươi cười, đầy vẻ yêu đời. Ai dè bây giờ đã ra người thiên cổ.
Mắt Nguyên mờ đi, không hiểu vì khói nhang hay nước mắt, chàng đứng lặng rất lâu trước bàn thờ, không nói được lời nào. Tiếng mẹ nàng vang lên như mơ hồ, thoang thoảng môt bên tai:
- Tôi đã làm một điều lầm lẫn không thể tha thứ… Bà Trung vừa sụt sùi khóc vừa nói, tôi đã hại đời con gái tôi. Hạnh Dung không hề có hạnh phúc, nó về nhà chồng như một cái xác không hồn. Tiến biết được dĩ vãng của nó, nên ghen tuông, đánh đập nó không tiếc tay, mặc dù dĩ vãng của Tiến cũng chẳng ra gì, hắn chơi bời, vợ nọ, vợ kia, và có cả con riêng. Khi khám phá ra sự thật, Hạnh Dung đau khổ vô cùng, không phải vì ghen tuông, nhưng nó đau cái đau của một người đã mất tất cả, lại vừa mất thêm một thứ cuối cùng, đó là niềm tin vào cuộc đời. Hạnh Dung trở nên lầm lì, không nói không cười, nó oán hận tất cả mọi người, hận luôn cả bản thân nó. Sau cùng, phần vì hoàn cảnh trớ trêu, phần vì đau khổ không được tin tức gì của cậu, tưởng cậu đã chết, Hạnh Dung tuyệt vọng uống thuốc ngủ tự tử. Nó để lại một lá thơ tuyệt mạng, thú nhận rằng nó muốn cắt đứt quan hệ mẹ con với tôi, vì nó biết tôi là người đã chia rẽ cậu và nó. Nhưng sau cùng, nó đã đổi ý, và tha thứ cho tôi. Hạnh Dung nói, nó không muốn kéo dài cuộc sống địa ngục với người chồng nó không hề yêu thương, người đã lừa dối, và luôn luôn hành hạ nó.
Bà Trung ngừng lại để lau nước mắt, Nguyên nghẹn ngào, cảm thấy cổ họng như tắc lại, phải cố gắng lắm chàng mới mở miệng hỏi được một câu:
- Sao cô ấy không xin ly dị?
- Nó chán sống, cuộc đời đối với nó không có ý nghĩa gì nữa, nó muốn tạ tội đã không trọn lời thề với cậu. Hạnh Dung uống nguyên cả một ống thuốc ngủ ... Khi phát hiện được thì đã quá trễ, Hạnh Dung đã sùi bọt mép rồi. Chúng tôi cấp tốc chở nó vô bệnh viện, tại đây, người ta bơm, rửa ruột cho nó, nhưng không cứu kịp. Kinh khủng quá, nó ngắc ngoải tới hai ngày mới chết, mắt vẫn mở trừng trừng, không sao khép lại được, chắc nó oán hận tôi lắm. Tôi có cảm tưởng như chính tôi đã giết nó, tôi không bao giờ có thể tha thứ cho tôi được, đời đã dạy cho tôi một bài học cay đắng quá… Bây giờ, mọi sự hối tiếc của tôi đều đã muộn màng. Trời ơi, tôi đã mất con, đó là cái giá mà tôi phải trả.
LƯU - PHƯƠNG - LAN

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét