16.04.2016, WESTMINSTER (NV) - Trong chuyến đi vận động tự do cho chồng là Luật Sư Nguyễn Văn Đài, vừa bị nhà cầm quyền Hà Nội bắt lại ngày 16 tháng 12, 2015, bà Vũ Minh Khánh đã đến Little Saigon và được thân hữu tổ chức một cuộc gặp gỡ cộng đồng người Việt ở Nam California tại nhật báo Việt Báo vào trưa 16 Tháng Tư.

Dân biểu Alan Lowenthal (đứng, phát biểu) tại cuộc gặp gỡ cộng đồng của bà Vũ Minh Khánh (ngồi, bên phải). (Hình: Tiêu Sơn)<!>
Trong phòng sinh hoạt của nhật báo Việt Báo, số người đến tham dự gần kín phòng, gồm giới truyền thông báo chí, các đảng phái như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Tân, các đại diện cộng đồng, nhân sĩ trí thức cùng các tổ chức tranh đấu.
Mở đầu, bà Vũ Minh Khánh tỏ bày sự cảm tạ đến quan khách tham dự. Hai người bạn, cũng là đồng hành cùng bà Vũ Minh Khánh, là ông Hà Nguyễn và cô Nancy Nguyễn, cho biết mục đích cuộc gặp gỡ là để bà Vũ Minh Khánh có dịp gặp gỡ cộng đồng, trình bày về hoạt động tranh đấu dân chủ trong nước của Luật Sư Nguyễn Văn Đài, nay vừa bị nhà cầm quyền cộng sản bắt lại.
Ngay sau đó, rất nhiều người xin được phát biểu. Điều trước hết được nêu ra là xin bà Khánh cho biết những hành vi mà nhà cầm quyền Hà Nội đối xử với gia đình bà sau khi bắt lại Luật Sư Nguyễn văn Đài.
Với một giọng cố nén xúc động, bà Khánh cho biết “họ” đã dùng mọi thủ đoạn để gia đình bà phải gặp khó khăn, không thể làm ăn gì được, cuộc sống luôn luôn lo âu, không biết việc gì sẽ xảy đến. Nhờ những tiếng nói của các tổ chức nhân quyền quốc tế làm áp lực bà mới có dịp xuất ngoại để được gặp gỡ cộng đồng người Việt hôm nay. Bà Khánh kể lại những khó khăn, những âm mưu của chính quyền địa phương áp chế tinh thần cũng như vật chất lên gia đình của bà.
Hai chủ tịch cộng đồng người Việt ở Nam California, kỹ sư Trương Ngãi Vinh và Phát Bùi, trong dịp này đã bày tỏ sự kính phục đối với cuộc đấu tranh của Luật Sư Nguyễn Văn Đài.
Ông Đỗ Hoàng Điềm, Chủ Tịch Đảng Việt Tân, ngỏ lời thăm hỏi, kính phục các hoạt động tranh đấu của Luật Sư Nguyễn Văn Đài và cho biết Việt Tân sẽ làm mọi việc trong cố gắng của mình để yểm trợ cho công cuộc tranh đấu ấy.
Ông Nguyễn Văn Mai thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng bày tỏ sự ngưỡng vọng công cuộc tranh đấu của tuổi trẻ trong nước và sẽ vận động cộng đồng hải ngoại yểm trợ tích cực cho công cuộc tranh đấu này. Nhân đây ông cũng kêu gọi tuổi trẻ ngoài nước theo gương Luật Sư Nguyễn Văn Đài và tuổi trẻ trong nước cùng đứng lên tham gia công việc chung.
Về phần yểm trợ cụ thể như phóng viên của Radio Bolsa đặt ra, bà Khánh trả lời xin được yểm trợ cả về vật chất lẫn tinh thần, như giúp đỡ tài chánh và ngoại giao tới các chính phủ để có ảnh hưởng trực tiếp đến nhà cầm quyền Hà Nội.
Vào gần cuối buổi gặp gỡ, dân biểu liên bang Alan Lowenthal, thành viên Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện Hoa Kỳ, xuất hiện. Ông bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với Luật Sư Nguyễn Văn Đài và cam kết cùng Quốc Hội xem xét và buộc chính quyền Cộng Sản phải trả tự do cho Luật Sư Nguyễn văn Đài. Ông cũng cho biết sẽ có một buổi gặp riêng với bà Vũ Minh Khánh để có sự yểm trợ, giúp đỡ cụ thể hơn.
Một câu trả lời nhận được nhiều tiếng vỗ tay nồng nhiệt nhất là bà Vũ Minh Khánh xác định “sẽ không xin ra nước ngoài khi ra khỏi tù, vẫn ở lại trong nước để tiếp tục công việc tranh đấu cho Dân Chủ và Nhân Quyền.”
Nhìn chung, tất cả những lời phát biểu của người tham dự trong suốt hai tiếng đồng hồ gặp gỡ đểu là những chia sẻ thân thiết và những bày tỏ cụ thể về sự yểm trợ giúp đỡ trong tương lai khiến bà Vũ Minh Khánh đã không dấu được sự cảm động trong lời tri ân vào phút chia tay.
Luật Sư Nguyễn Văn Đài là nhân vật bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền CSVN. Ông từng bảo vệ nhiều vụ án nhân quyền và tôn giáo như vụ xử Mục Sư Nguyễn Hồng Quang hay vụ nhà truyền giáo Phạm Ngọc Thạch.
Ông từng thành lập nhóm “Luật Sư Vì Công Lý” cùng 11 luật sư khác. Ông cũng từng viết nhiều bài về luật học và giải thích Hiến Pháp Việt Nam (của Cộng Sản) để dẫn chứng người dân Việt có quyền thành lập đảng mới như các đảng Dân Chủ Việt Nam và đảng Xã hội Việt Nam trước đây. Ông cũng đã góp phần đáng kể trong việc thành lập Khối 8406.
Luật Sư Nguyễn Văn Đài bị nhà cầm quyền Hà Nội bắt lần thứ nhất cùng Luật Sư Lê Thị Công Nhân. Ông bị Tòa Án CSVN kêu án 5 năm tù về nhiều tội, “chống phá nhà nước, bội nhọ chế độ XHCN, xuyên tạc lịch sử và tham gia nhiều lần với các tổ chức ngoài nước chống chế độ XHCN Việt Nam...”
Sau 4 năm giam giữ, Hà Nội thả ông sớm hơn một năm. Ra tù, ông tiếp tục công việc của mình, quyết không để cho Cộng Sản dập tắt tiếng nói của người dân Việt yêu nước.
Ngày 16 tháng 12, 2015, Luật Sư Nguyễn Văn Đài bị chính quyền bắt lại với tội danh “âm mưu lật đổ chính quyền.”
Ngay khi tin tức được loan ra, các tổ chức Nhân Quyền Quốc Tế như Human Rights Watch, Ân Xá Quốc Tế và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã lên tiếng, bày tỏ quan ngại về nhân quyền ở Việt Nam và phản đối sự bắt giữ Luật Sư Nguyễn Văn Đài.
Chế độ Hồ Ly Tinh
Blogger Người Buôn Gió - 17.04.2016

Ngày 14 tháng 4 năm 2016 trên mạng xã hội xuất hiện một clip công an tấn công một người bán rong.
Người bán rong đã vi phạm giao thông khi đậu xe lòng đường, ở Việt Nam chuyện này xảy ra thường xuyên. Lỗi như vậy không lớn, thường khi công an bắt được sẽ kéo phương tiện về trụ sở. Người vi phạm đến trụ sở công an nộp phạt. Sau đó mọi việc lại diễn như cũ.
Công an Nguyễn Việt Hà đánh anh Nguyễn Thiện Minh Phong người bán hàng rong bị xuất huyết não. hình
Thông thường người bán rong khi nhác thấy bóng công an sẽ bỏ chạy, bởi thế chúng ta thấy nhiều hình ảnh công an và dân phòng giằng kéo xe, quang gánh của những người bán rong.
Người thanh niên bán rong trong clip ngày 14 cũng vậy, anh ta định nhảy lên xe và tránh đi. Nhưng viên thượng sĩ công an đã kéo lại, trong lúc người bán rong giằng co để đi, anh bị viên thượng sĩ dùng một thế võ Judo hất ngã đột ngột xuống nền đất cứng. Những người học judo đều hiểu khi sử dụng thế võ này trên nền đất cứng, đối phương bị nguy hiểm.
Và đúng như vậy, người bán rong đã nhập viện và xuất huyết não, đang trong tình trạng hôn mê.
Một số ý kiến cho rằng người bán rong đã chống đối. Đây là ý kiến nguỵ biện để bao che cho hành vi bạo lực của công an. Hành vi của người bán rong là không chấp hành mệnh lệnh. Anh ta chủ định bỏ đi chứ không phải là có ý định chống đối gây hại đến sức khoẻ, thân thể của viên công an. Hành vi của anh ta là không nghiêm trọng.
Nhưng chủ đích của viên công an dùng vũ thuật triệt hạ gây tổn thương cho người bán rong chỉ vì anh ta định bỏ chạy, là vi phạm pháp luật mức độ nghiêm trọng.
Từ hành động này, có được clip ghi lại diễn biến cụ thể. Chúng ta có thể hình dung tại sao có nhiều người gặp công an hay bị ngã chết, đột tử chết. Nếu không có clip này, mặc dù nhiều người trông thấy tận mắt. Công an có thể nói rằng do xô đẩy và anh bán rong trượt chân ngã. Cái chết hoặc chấn thương là ngoài ý muốn, không phải là chủ đích. Như bao nhiêu vụ khác đã từng xảy ra.
Thay vì phải làm rõ việc công an đánh chết người, cơ quan công an lại đi theo hướng làm sao để xoá dấu vết, để chối tội, để buộc trách nhiệm vào người bị chết. Hành xử pháp luật theo cách vậy không khác gì khuyến khích công an tiếp tục đánh chết người vì cái giá phải trả quá nhẹ. Chủ ý reo rắc sợ hãi cho người dân rằng, chống lại hoặc không chấp hành công an chỉ có thiệt thân. Dân chết còn công an chẳng làm sao cả. Tâm lý sợ hãi sẽ lan trong dân khi làm việc với công an, đấy là cái được của chế độ, trong những vụ công an giết người mà không bị làm sao, hoặc bị xử lý nhẹ. Đồng thời nó cũng làm cho công an thi hành nhiệm vụ cảm thấy mạnh tay hơn vì được che chở bởi hệ thống pháp luật.
Chế độ này đang cần những mạng người dân chết như vậy để reo rắc sợ hãi. Cần máu người dân đổ theo cách vậy, để tạo ra sự sợ hãi, và sự sợ hãi đấy là nguồn bảo vệ chế độ tồn tại. Cho nên hết năm này sang năm khác, không có năm nào không có chuyện công an giết người dân và che đậy, đổ lỗi tại người dân.
Có thể đầu tiên chỉ là sự quá tay của một viên công an, hệ thống pháp luật vì uy tín chế độ phải bao che . Đâm lao theo lao, một vài vụ sau cũng phải bao che. Thế rồi quan sát thực tế, chế độ nhận ra rằng việc bao che cho công an giết người như thế, cũng đem lại cái lợi là nỗi sợ hãi trong dân chúng. Làm dân chúng tê liệt và luôn khiếp sợ. Từ đó họ chủ trương ngầm dung túng cho công an làm. Họ không ra chính sách, phương án, văn bản. Nhưng cái cách họ bao che là thông điệp ngầm để các công an hiểu rằng chế độ ủng hộ và tán thành việc giết người như thế.
Đến nay thì càng rõ ràng hơn khi chứng kiến những vụ công an tấn công ngày càng lan rộng nhằm vào những người đấu tranh trên khắp cả nước từ Hà Nội, Vinh, Sài Gòn và Tây Nguyên….
Chẳng khác nào Hồ Ly Tinh trong chuyện cổ cần máu người dân vô tội để tồn tại. Chế độ công an trị ngày nay cũng vậy. Chúng như những con ác thú luôn cần đến máu người, mạng người để tồn tại. Chúng cần sự sợ hãi của người dân trước chúng, và không cách nào gây sợ hãi hơn là cách giết người.
Những người dân Việt Nam đang phải sống dưới chế độ công an trị, một chế độ hành xử không khác nào giống Hồ Ly Tinh uống máu người. Chỉ khác nhau là Hồ Ly Tinh cần máu người để trở thành người, còn chế độ công trị thì cần máu người để chúng được trở thành Hồ Ly Tinh, khiến thiên hạ phải sợ hãi chúng.
Hiện nay tên công an thượng sĩ Lương Việt Hà trong clip trên chỉ tạm thời bị đình chỉ công tác. Nếu đúng ra với hành vi và hậu quả mà hắn gây ra phải bị bắt giam khẩn cấp vì hành vi cố ý gây thương tích, hậu quả nghiêm trọng. Nhưng hắn vẫn được tự do để theo dõi tình hình nạn nhân. Tự do cung cấp thông tin cho báo chí để hướng dư luận có lợi cho mình.
Tương tự như thiếu uý cảnh sát Trần Minh Trung ở Hải Dương đánh bạn gái tàn bạo, gây chấn thương sọ não. Nhưng không bị bắt giữ, tên Trung tha hồ đến thăm hỏi bệnh nhân, thực chất là đe doạ nạn nhân không được đơn từ khiếu kiện hắn.
Đấy là những bao dung ngầm của chế độ, tạo điều kiện cho thủ phạm công an có điều kiện tác động vụ án theo hướng có lợi cho thủ phạm và bất lợi cho nạn nhân.
Và lại một lần nữa, sau nhiều vụ án mạng công an giết người, đánh người. Đến vụ án này, cách hành xử vẫn mang màu sắc bao che của chế độ. Nó chứng tỏ muốn đưa thông điệp rõ ràng hơn đến người dân. Ở chế độ công an trị này, việc công an giết người là điều mà người dân nên cảm thấy đáng sợ chứ không phải là lên án việc đó.
Như trong chuyện cổ, người dân thường sợ Hồ Ly Tinh hơn là lên án đấu tranh với nó!?
Nếu không có rượu mới
Huy Đức

Con số cơ cấu 35-40% đại biểu chuyên trách trong Quốc hội khóa tới là một bước đi đúng. Nhưng việc những người như Nguyễn Quang A, Nguyễn Cảnh Bình... bị loại bỏ bằng những công cụ hết sức võ biền cho thấy Đảng vẫn chỉ muốn, ngay cả những người tự ứng cử, cũng phải chắc chắn là người của họ.
Cho dù cách hành xử đó là "truyền thống" hay chỉ từ các mệnh lệnh địa phương, để hệ thống ứng xử như vậy, cho thấy Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chưa chuẩn bị tâm thế và chưa có bước đi quan trọng nào được coi là cải cách.
Khi ông Nguyễn Tấn Dũng bị loại bỏ, số người vui chẳng nhiều hơn bao nhiêu số người bị hụt hẫng. Không ai nghĩ Nguyễn Tấn Dũng là một nhà lãnh đạo anh minh nhưng nhiều người hy vọng nếu ông Dũng toàn quyền, ông sẽ giải tán hoặc làm cho Đảng này sụp đổ.
Không có bất cứ một bằng chứng khoa học nào cho thấy ông Dũng sẽ làm điều đó ngoài những bài viết vu vơ trên những trang mạng nặc danh.
Chỉ vì quá chán ngán cái thể chế đã kìm hãm sự phát triển của dân tộc này suốt hơn 70 năm người ta sẵn sàng đặt niềm tin vào một con người đang trục lợi nhiều nhất từ thể chế cả về châu báu và chức tước.
Không có ai đáng trách
Khát vọng thoát cộng lớn đến nỗi làm lú lẫn không chỉ những cái nicks vô danh mà còn cả với nhiều trí thức.
Là người đứng đầu một Đảng đang cầm quyền nếu ông Nguyễn Phú Trọng không nhận thức đầy đủ khát vọng này của những người dân có học, để thúc đẩy cải cách chính trị, thì chiến thắng của ông trước Nguyễn Tấn Dũng sẽ bị coi là chiến thắng của một người tham vọng quyền lực chứ không phải của một người vì đất nước.
Năm nay, ông Nguyễn Phú Trọng sẽ là người chủ trì những hoạt động kỷ niệm 30 năm đổi mới. Đừng cắt lát miếng nạc từ năm 1986 mà hãy quay về khúc xương khởi đầu từ khi Hồ Chí Minh mang chủ nghĩa Marx - Lenin đến Việt Nam. Để thấy, đổi mới đơn giản chỉ là một tiến trình Đảng gỡ bỏ dần dần những gông cùm mà Đảng từng áp đặt.
Từ "Chính sách kinh tế nhiều thành phần" đến "Kinh tế thị trường" là một bước tiến chưa đủ nhưng khá dài. Và khi, Đại hội XI bãi bỏ nguyên tắc "sở hữu công là chủ yếu", thì các "đặc trưng của chủ nghĩa xã hội" ghi trong Cương lĩnh không còn dấu hiệu nào của chủ nghĩa cộng sản theo mô hình mà Marx và các cộng sự của ông thiết lập trong Tuyên Ngôn Cộng Sản.
Hiến pháp 1992, tuy còn dùng dằng giữa "hai con đường" đã vẽ cho Việt Nam một nền cộng hòa trên giấy. Ngay cả những tổng bí thư bị coi là bảo thủ nhất như Đỗ Mười hay Lê Khả Phiêu, sau Hiến pháp 1992, cũng đã phải chuyển dần từ một chế độ đảng trực trị sang một chế độ đảng cầm quyền thông qua nhà nước.
Việc tái lập các ban Đảng thời ông Nguyễn Phú Trọng là một bước lùi về chính trị
Sinh thời, Nguyễn Bá Thanh là một người rất được công chúng tung hô nhưng nếu những người am hiểu nhà nước pháp quyền biết cách ông Trưởng ban Nội chính Nguyễn Bá Thanh ngồi sau cánh gà các phiên tòa "lãnh đạo án" như thế nào chắc chắn họ sẽ vô cùng thất vọng.

- Hình: Wired.uk
Chống tham nhũng bằng Ban Nội chính thay vì gỡ bỏ "vòng kim cô nội chính" cho các cơ quan tư pháp, để họ tiến hành tố tụng theo các nguyên tắc dân chủ, pháp quyền, thì không chóng thì chày sẽ có Ba X tân thời thay cho Ba X cũ.
Dân chủ đơn giản chỉ là một phương thức cầm quyền theo nguyên tắc không để ai có quyền lực tuyệt đối. Dân chủ không phải là đích đến mà là một phương tiện được lựa chọn để tránh sự tha hóa tuyệt đối của những người cầm quyền. Dân chủ không phải là một cây gậy thần để quốc gia nào cầm nó trong tay cũng trở nên thịnh vượng. Nhưng, chưa có phương thức quản trị quốc gia nào ít rủi ro hơn dân chủ.
Vấn đề là đi tới dân chủ như thế nào
Những người kỳ vọng Nguyễn Tấn Dũng "giải tán đảng" không chỉ là những nhà dân chủ nôn nóng mà còn là những người suy nghĩ đơn giản. Họ chờ đợi dân chủ theo cách của Đại Lãn. Họ nghĩ có ai đó sẽ dọn sẵn mâm cỗ dân chủ cho mình mà không thấy rằng dân chủ là một hành trình của chính mình.
Không thể có dân chủ trong một thể chế độc tài đảng trị. Nhưng, nếu như độc tài sụp đổ sau một đêm chúng ta có thể có đa đảng ngay thì tự do chính trị mà ta có đó chỉ mới là một tiền đề cần nhưng chưa đủ.
Chúng ta có thể buộc các nhà cộng sản phải chịu trách nhiệm về những gì đã làm trong quá khứ. Nhưng tôi không nghĩ là con đường đi đến dân chủ dứt khoát phải loại bỏ những người cộng sản đang nắm quyền. Thay vì đẩy họ về phía đối địch, dân chúng cần tạo áp lực đủ để họ thay đổi và nhận thức được rằng, dân chủ hóa là một tiến trình kiến tạo tương lai cho chính cả những người cộng sản.
Trong lộ trình đó, cần phải có những bước đi vững chắc để sao cho "nền cộng hòa trên giấy" hiện nay từng bước có thể vận hành. Hãy để Quốc hội tập dượt vai trò giám sát của mình và chuẩn bị để các cơ quan tư pháp thoát dần ra khỏi tình trạng bị địa phương cát cứ. Trước mắt, không để nhánh quyền lực nào, cơ quan nào nắm giữ quá nhiều quyền lực, mũi đột phá cần được chọn ngay là Bộ Công an.

- Trụ sở Bộ công an
Giờ đây, tuy đứng vị trí cao hơn nhưng chắc chắn sẽ có khi đại tướng Trần Đại Quang cảm thấy mình lơ lửng. Bộ Công an hiện đang có đủ quyền để biến, thậm chí, cả những người trong bộ tứ trở thành con tin. Do quyền lực của Bộ bao trùm lên các cơ quan tố tụng, không dễ để chống tham nhũng, rất khó để tránh oan sai.
Đây là lúc, Tổng bí thư có thể đánh thức vai trò đồng minh từ ông Quang để tách Bộ Công an thành các cơ quan độc lập: Tình báo; Phản gián; Cảnh sát quốc gia - Cảnh sát địa phương - Cảnh sát giao thông; trả Trại giam về cho Tư pháp; lập Cơ quan Điều tra quốc gia.
Chức năng, nhiệm vụ của tình báo và phản gián không có gì tương thích với lực lượng cảnh sát. Đừng để lực lượng tình báo - phản gián tham gia quá sâu vào các cuộc chơi chính trị nội bộ mà sự "màu mỡ" của nó rất dễ làm họ sao nhãng nhiệm vụ chính là cảnh giác thù ngoài.
Cần có một Tư lệnh cảnh sát quốc gia để duy trì sự thống nhất quyền lực trung ương nhưng việc gìn giữ an ninh trật tự chủ yếu do cảnh sát địa phương đảm trách. Cảnh sát công lộ cũng nên là một lực lượng độc lập (vì điều tra không cùng một nhà họ sẽ không dám nhận mãi lộ phổ biến như hiện nay).
Nếu để điều tra trong Bộ Công an rất khó chống tiêu cực trong các cơ quan cảnh sát. Nên lập cơ quan điều tra quốc gia. Cảnh sát địa phương có thể điều tra các vụ án, trộm cướp... nhưng đã là án liên quan đến chức vụ, quyền hạn, liên quan đến tham nhũng phải do cơ quan điều tra quốc gia tiến hành [Tòa cũng lập thành tòa sơ thẩm, phúc thẩm... bố trí ở các khu vực; địa phương có tòa nhưng chỉ xử hình sự thường].
Điều mà nền kinh tế cần Chính phủ làm ngay là chấm dứt sự can thiệp bằng các công cụ hành chánh vào các quan hệ kinh tế, dân sự của người dân và doanh nghiệp.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nên ra ngay một quyết định yêu cầu các bộ ngưng ban hành các điều kiện kinh doanh mới (giấy phép con). Đồng thời, yêu cầu Tổ thi hành luật doanh nghiệp phối hợp với VCCI đưa ra một danh sách các giấy phép (trong số hơn 6000 giấy phép con ban hành dưới thời Nguyễn Tấn Dũng) có dấu hiệu lạm quyền, đình chỉ thi hành chúng cho đến khi Chính phủ có thời gian rà soát lại.
Để làm được việc này, Chính phủ của ông Nguyễn Xuân Phúc phải đủ dũng cảm để từ bỏ các bổng lộc mang lại do sự lạm quyền (hành chánh hóa các quan hệ dân sự, kinh tế) bằng cách tách ngay chức năng hành pháp chính trị và hành chính công vụ. Lập các vụ tham mưu chính sách bên cạnh các cục thực thi chính sách. Quan chức nào, vụ nào đã tham gia vào tiến trình ban hành chính sách thì không được dính vào quy trình thi hành (cấp phép, thanh tra, giám sát...).

- Đại biểu Nguyễn Minh Thuyết là người đề xuất lập Ủy ban điều tra trách nhiệm của ông Nguyễn Tấn Dũng trong vụ Vinashin.
Nếu chưa đủ sự ủng hộ chính trị để tư nhân hóa đất đai, Chính phủ cần sửa luật để đảm bảo đối xử với quyền sử dụng đất của người dân như quyền về tài sản. Bãi bỏ các điều luật cho phép chính quyền thu hồi đất (không thể dùng quyền hành chính để can thiệp vào quyền về tài sản). Chỉ khi thật cần thiết, chính quyền mới áp dụng quyền trưng mua, trưng dụng.
Mặc dù, đã từng có nhiều đại biểu ăn nói rất được lòng dân, nhưng Quốc hội không chỉ là một diễn đàn. Kể từ sau Hiến pháp 1959, lịch sử Quốc hội Việt Nam chỉ ghi nhận hai sự kiện đại biểu thực thi quyền: 1985, bà Đào Thị Biểu, đoàn Cửu Long, đòi quy trách nhiệm những người quyết định chính sách Giá - Lương - Tiền; 2010, đại biểu Nguyễn Minh Thuyết đòi lập Ủy ban điều tra độc lập, đình chỉ chức vụ và điều tra ông Nguyễn Tấn Dũng.
Tham nhũng sẽ không lúc nhúc như hiện nay, Chính phủ sẽ không thao túng như thời Nguyễn Tấn Dũng nếu có nhiều đại biểu như Nguyễn Minh Thuyết, Đào Thị Biểu...; Những người như Đào Ngọc Dung sẽ khó trở thành bộ trưởng nếu tuần trước ông ta phải điều trần ở các ủy ban cho báo chí tham gia và nếu Bộ chính trị không chỉ muốn Quốc hội hợp thức hóa quyết định của mình mà còn là nơi giúp loại bỏ những người tai tiếng.
Muốn như thế, không chỉ nâng số đại biểu chuyên trách lên 35 hay 40% mà phải mở cửa cho 15-20% những người thực sự tự ứng cử vào trong quốc hội.
Cần bãi bỏ ngay quy chế dân chủ ở cơ sở. Việc để các nhân viên trong một bộ bỏ phiếu tín nhiệm cho bộ trưởng là một việc làm lố bịch [bộ trưởng phải chịu trách nhiệm trước dân, chính sách của ông nếu có lợi cho dân có thể làm cho nhân viên khó chịu].

- Hội nghị cử tri ở tổ dân phố nơi Ls. Phạm Văn Việt ứng cử. Hình: Vận Động Ứng Cử Đại Biểu Quốc Hội 2016.
Để tổ dân phố bỏ phiếu quyết định một người có thể trở thành ứng cử viên đại biểu quốc hội hay không lại càng phản khoa học và phi dân chủ. Tử tế với nơi mình sống là cần thiết, nhưng đánh giá họ là phải dựa trên khả năng tham gia của họ trong các chính sách ở tầm quốc gia chứ không chỉ chuyện cản con mèo ăn vụng cá nhà hàng xóm.
Hoặc Đảng cứ nắm toàn quyền Đảng cử. Hoặc sửa luật, để theo đó, ứng cử viên gồm những người có thể do đảng chính trị đề cử hoặc tự ứng cử (nếu thu thập đủ số chữ ký bằng một tỷ lệ luật định trên số cử tri).
Dân trí đã thay đổi, quan trí cũng phải theo; đừng tiếp diễn các trò hề dân chủ nữa.
Những người biết chuyện cung đình đánh giá cao sự giữ gìn của ông Nguyễn Phú Trọng và vợ con ông (ít nhất là cho đến nay). Nhưng, quản trị quốc gia (trong đó có chống tham nhũng) phải bằng thể chế chứ không thể trông chờ vào "tấm gương đạo đức" của một vài cá nhân hay việc bắt bớ, loại bỏ một vài con sâu chúa.
Tuy cảm phục mức độ liêm chính, về mặt vật chất, của ông Nguyễn Phú Trọng, dân chúng vẫn chưa thấy các dấu hiệu chứng tỏ sẽ có "đổi mới II" trong nhiệm kỳ cuối của ông. Nếu cho đến ngày nghỉ hưu, ông không đưa ra được một lộ trình chính trị để đất nước dân chủ hơn, sự sạch sẽ của ông sẽ là vô nghĩa.
Nguồn: Facebook Truong Huy San
Đài Loan « chọc tức » Trung Quốc, thả nghi can được Malaysia trả về
RFI Đăng ngày 17-04-2016
Các nghi phạm người Đài Loan bị Kenya cho dẫn độ về Bắc Kinh ngày 13/04/2016.REUTERS/Yin Gang/Xinhua
Vào hôm qua, 16/04/2016, chính quyền Đài Bắc đã có một động thái khiến Trung Quốc tức giận. Ngay sau khi tiếp nhận 20 người Đài Loan bị Malaysia trục xuất vì bị tình nghi tham gia vào một vụ lừa đảo qua mạng viễn thông, Đài Loan đã thả toàn bộ số nghi phạm trên.
Theo hãng tin Anh Reuters, phát ngôn viên chính quyền Đài Loan Tôn Lập Quần ( Sun lih-chyun) giải thích rằng không có lý do hợp pháp nào để giam giữ số người vừa bị Malaysia trục xuất.
Ngay lập tức Bắc Kinh đã có phản ứng. Phát ngôn văn phòng phụ trách Đài Loan của chính phủ Trung Quốc An Phong Sơn tuyên bố : « Với việc thả những nghi phạm, chính quyền Đài Loan đã coi nhẹ quyền lợi của người bị hại… và làm tổn hại đến hợp tác hai bên trong lĩnh vực tấn công tội phạm ».
Bộ Tư Pháp Đài Loan đã gửi thư chính thức đề nghị công an Trung Quốc cung cấp thông tin liên quan đến 20 nghi phạm vừa được Malaysia trao trả cho Đài Loan để tiếp tục điều tra. Hành động này được coi là một động thái để Đài Loan chứng tỏ tính chất độc lập của minh trong việc xét xử người dân của mình.
Trong tháng trước, chính quyền Malaysia đã bắt giữ 53 đối tượng người Đài Loan vì hoạt động lừa đảo qua mạng viễn thông. Kuala Lupur quyết định trục xuất 20 người và Trung Quốc đã đề nghị dẫn độ số nghi phạm trên về Trung Quốc điều tra xét xử với ngầm ý khẳng định những công dân Đài Loan cũng là người Trung Quốc.
Nhưng bộ Ngoại Giao Đài Loan đã can thiệp để chính quyền Malaysia trục xuất số đối tượng trên về Đài Loan nhằm khẳng định chủ quyền độc lập đối với công dân của mình.
Tuần trước, Đài Loan đã lên tiếng phản đối gay gắt việc Kenya trục xuất về Trung Quốc 45 người Đài Loan, cũng bị tình nghi can dự vào một vụ lừa đảo qua mạng điện thoại.
Phía Trung Quốc lập luận rằng những người Đài loan nói trên tham gia vào một đường dây lừa đảo qua điện thoại, liên quan đến nhiều nạn nhân người Trung Quốc, và vụ việc cũng xảy ra ra tại Trung Quốc.
Panama, « Ổ gián điệp »
Thụy My Đăng ngày 15-04-2016

Chưởng lý Javier Caraballo phát biểu trước báo chí sau khi khám xét văn phòng Mossack Fonseca tại Panama, 13/04/2016.REUTERS/Carlos Jasso
Không chỉ giới doanh nhân mới cần đến bí mật tài chính, mà các điệp viên cũng rất cần để xóa dấu vết. Tổ hợp luật sư Mossack Fonseca đã thành lập khoảng vài chục công ty offshore cho những người này, mà đôi khi không biết họ là nhân viên tình báo.
Werner Mauss còn là « điệp viên 008 », được một bài viết của trường đại học Delaware, Mỹ phong tặng là « điệp viên hàng đầu của nước Đức ». Văn phòng luật sư Mossack Fonseca hoàn toàn bất ngờ khi đọc được bài viết hồi tháng 3/2015. Bài báo tiết lộ tên thật của Werner Mauss là Claus Möllner, mà đây là khách hàng thân thiết của Fonseca từ ba chục năm qua.
Luật sư của ông Mauss nói rằng các công ty offshore của ông được dùng cho « các hoạt động nhân đạo », trong các cuộc thương lượng để thả con tin hoặc cung cấp thiết bị y tế. Một nhiệm vụ đôi khi bị hiểu lầm : chính quyền Columbia từng bắt giữ Werner Mauss một thời gian ngắn năm 1996, cáo buộc ông cùng với phe du kích đã tổ chức bắt cóc và giữ lại một phần tiền chuộc. Ông chỉ được minh oan sau đó.
Werner Mauss không phải là điệp viên duy nhất sử dụng dịch vụ của Mossack Fonseca. Còn có thể kể tỉ phú Hy Lạp Sokratis Kokkalis, có biệt danh là « điệp viên Rocco », trước đây bị tố cáo là làm gián điệp cho Stasi, cơ quan tình báo Đông Đức cũ.
Một ngạc nhiên khác : năm 2005 Mossack Fonseca bất ngờ phát hiện bảy trong số các công ty mà văn phòng này lập ra có giám đốc mang tên Francisco Paesa Sanchez, một gián điệp Tây Ban Nha nổi tiếng. Ông này làm giàu nhờ truy lùng các nhà ly khai và làm mất ghế một chỉ huy cảnh sát tham nhũng, rồi bỏ trốn với vài triệu đô la trong túi.
Trong số các khách hàng của Fonseca còn có lãnh tụ Hồi giáo Kamal Adham, người đứng đầu ngành tình báo Ả Rập Xê Út, được một ủy ban Thượng viện Mỹ coi là « nhà trung gian chính của CIA cho toàn vùng Trung Đông, từ giữa thập niên 60 cho đến năm 1979 ». Hoặc trung tướng Ricardo Rubiano Groot, cựu giám đốc tình báo Không quân Colombia ; tướng Emmanuel Ndahiro, giám đốc cơ quan tình báo của tổng thống Rwanda Paul Kagamé…
Một nhân vật khác có liên quan đến CIA là doanh nhân giàu có Loftur Johannesson, từng hợp tác với Mỹ trong thập niên 70 và 80 trong việc cung cấp vũ khí cho Afghanistan.
Còn Farhad Azima, người Mỹ gốc Iran, mạnh thường quân hào hiệp cho các chiến dịch bầu cử ở Hoa Kỳ, từng nằm trong tâm bão xì-căng-đan lớn được gọi là « Contra ». Vào giữa thập niên 80, chính quyền Reagan đã bí mật bán vũ khí cho Iran để đổi lấy việc thả bảy con tin Mỹ, và số tiền này được dùng để tài trợ cho phe nổi dậy Contra chống chính quyền Nicaragua. Đến năm 2013, Mossack Fonseca tình cờ đọc được một bài viết cho biết quan hệ giữa Farhad Azima với CIA, và một bài báo khác dẫn lời một nhân viên FBI khẳng định được CIA báo cho biết Azima là nhân vật « bất khả xâm phạm ».
Đàn áp nhân quyền: Nguyễn Xuân Phúc có khác Nguyễn Tấn Dũng?
Cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chúc mừng tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sau khi ông Phúc tuyên thệ nhậm chức tại Hà Nội, ngày 7/4/2016.
17.04.2016
Phía sau ánh mắt long lanh và cái cười tươi rói quá hồn nhiên của Nguyễn Xuân Phúc vào ngày nhậm chức đứng đầu chính phủ, ông lại là thủ tướng nặng nợ nhất trong lịch sử Việt Nam - kế thừa bởi núi thừa kế ghê rợn từ thời cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng chế độ đảng trị: tham nhũng kinh hoàng, kinh tế lụn bại và bị cột chặt bởi Trung Quốc, nợ công và nợ xấu ngập đầu, phản kháng xã hội tràn ngập cùng một nền đạo đức tiệm cận đáy, và đương nhiên không thể thiếu thực tiễn quá nhiều quyền con người bị chính thể đạp tận bùn đen.
Nhân quyền!
Ngay cả những nhà báo nhà nước cũng phải khẳng định: chỉ có thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mới có chuyện bắt nhà báo.
Dẫn chứng: hai phóng viên của báo Thanh Niên là Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải đã bị Bộ Công an bắt vào năm 2008 liên quan đến những bài viết của họ về vụ tham nhũng “tắm bia và chơi gái” PMU 18 ăn chặn vốn ODA. Sau đó là nhiều nhà báo và blogger khác…
Trắng màu nhân cách
Năm 2006, Nguyễn Tấn Dũng chính thức ngồi vào ghế thủ tướng Việt Nam với tự bạch “Tôi yêu nhất sự trung thực” và cam kết “Tôi sẽ từ chức nếu không chống được tham nhũng”.
Những năm sau đó và cho tới cuối đời thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng, quốc nạn tham nhũng không những không giảm mà qua từng năm còn luôn được “nâng lên một tầm cao mới”, còn giới viết báo nhà nước lẫn “lề trái” thì tăng trưởng “nhập kho”: từ Hoàng Khương của báo Tuổi Trẻ đến Trần Huỳnh Duy Thức, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phạm Chí Dũng Phạm Viết Đào, Trương Duy Nhất, Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Quang Lập, Hồng Lê Thọ…
Nếu hệ thống hóa và phân tích các bài viết chính của những tác giả trên, có thể kết luận: hầu như các chủ đề lớn đều xoáy vào quốc nạn tham nhũng của chế độ và truy buộc trách nhiệm điều hành của cá nhân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Bất chấp đội ngũ dư luận viên từ thấp đến cao của Nguyễn Tấn Dũng là khá đông đảo và thậm chí còn “ngoại vận” được cả vài chuyên gia phân tích quốc tế, về sau này trong dư luận xã hội và giới dân chủ nhân quyền đã ồn lên tin tức về việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp liên quan đến những vụ bắt bớ nhà báo và giới blogger chỉ trích Dũng cùng gia đình ông ta.
Vào năm 2012, đã bắt đầu xuất hiện một nhận định đặc biệt từ giới quan sát: chưa bao giờ có một thủ tướng nào đàn áp giới viết lách mà có thể tại vị và thoái vị an toàn.
2012 cũng là năm xảy ra thử thách lớn đầu tiên đối với sự nghiệp chính trị của Nguyễn Tấn Dũng: do những “thành tích” dung dưỡng cho các nhóm lợi ích và nạn tham nhũng hoành hành quá nhanh và tàn phá quá lớn đối với Tổ quốc, Dũng đã suýt bị loạt khỏi Bộ Chính trị khi Tổng Bí thư Trọng, Chủ tịch nước Sang liên kết quyết liệt với nhau tại Hội nghị Trung ương 6 nhằm “kỷ luật đồng chí X”.
Dù thoát trọng án sau Hội nghị Trung ương 6, ba năm sau đó, Nguyễn Tấn Dũng đã thậm chí không còn giữ nổi một chân Trung ương ủy viên tại Đại hội XII. Bối cảnh này lại xuất hiện trong tư thế tưởng như ông Dũng đã nắm chắc chức tổng bí thư. Đến tháng 4/2016, sự nghiệp chính trị của Nguyễn Tấn Dũng chìm hẳn vào đêm tối: ông trắng tay quyền lực sau khi đã trắng màu nhân cách.
Kế nhiệm chức thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng là Nguyễn Xuân Phúc - người vốn là “phó hờ” của Dũng nhưng lại được lòng bên đảng.
Khác Nguyễn Tấn Dũng?
Công tâm mà xét, Nguyễn Xuân Phúc chỉ bị mang tiếng bởi vấn đề tài sản cá nhân - một hiện tượng không hiếm và thường mặc định cho giới lãnh đạo Việt Nam - cả đã nghỉ hưu lẫn còn tại chức. Nhưng thủ tướng mới của chế độ vẫn còn một đảng ở Việt Nam chưa từng bị dư luận dị nghị hay lên án về thành tích đàn áp giới đấu tranh dân chủ và nhân quyền. Lý do đơn giản là khi còn là phó thủ tướng thường trực, ông Phúc chủ yếu lo điều hành khâu Văn phòng chính phủ, còn công tác nội chính của ông chủ yếu tập trung vào “phòng tham nhũng”.
Sau một số năm lận đận, giờ đây Nguyễn Xuân Phúc đã có quá nhiều thứ trong tay, kể cả… Bộ Công an. Không chỉ phải tiếp nhận những hậu quả khổng lồ thời Nguyễn Tấn Dũng để lại, Thủ tướng Phúc còn ngay lập tức phải căng đầu trước xu thế đối ngoại đang biến chuyển và lắt léo khôn lường theo cách “mình thay đổi khi đời thay đổi”.
Khác với thời Thủ tướng Dũng mà Việt Nam còn tạm ung dung đu dây giữa Trung Quốc và Mỹ, quá nhiều thử thách về chủ quyền Biển Đông và bức bách kinh tế đang khiến thế đu dây của chế độ phải sớm chấm dứt, nếu không kẻ muốn làm xiếc sẽ gãy cổ.
Ít tháng trước khi Nguyễn Xuân Phúc ngồi vào cái ghế do Nguyễn Tấn Dũng để lại, đảng đã bắt đầu lộ ra vài dấu hiệu “thoát Trung”. Nghe nói đây là một chủ trương của đảng, cho dù với quán tính ậm ạch và đặc tính “muốn làm bạn với tất cả các nước” trong quá nhiều năm trời của tổ chức này, giữa chủ trương và thực tiễn là cả một hố sâu thăm thẳm.
Nhưng muốn “thoát Trung” lại phải tìm ra một chỗ dựa. Một điểm tựa nếu không được ấm êm thì cũng không đến nỗi lá mặt lá trái chẳng biết “đi tàu suốt” lúc nào như cuộc chơi với Trung Nam Hải. Không được tháp tùng trong đoàn Tổng Bí thư Trọng đi Washington vào tháng 7/2015, nhưng có lẽ Nguyễn Xuân Phúc là người thừa hiểu rằng Nguyễn Phú Trọng và những người bên đảng đã đi một nước cờ quyết định: không những xoay ngược thế cờ đấu đá nội bộ, lần đầu tiên từ năm 1975 đảng còn chấp nhận cả định chế “diễn biến hòa bình” Công đoàn độc lập, cùng một loại hình không kém diễn biến là Xã hội dân sự.
Công đoàn độc lập và Xã hội dân sự lại gắn liền với những định chế về luật pháp như luật Lập hội, luật Biểu tình, và nói chung là về nhân quyền - được “đảng lãnh đạo toàn diện” hứa hẹn từ Hiến pháp năm 1992 nhưng đến nay vẫn chẳng thấy tăm hơi nào. Nhân quyền lại là một trong những nhân tố tiên quyết để Hoa Kỳ xem xét có thể tiến hành “đối tác chiến lược” - điều mà Hà Nội đặc biệt cần đến trong thời gian này và có thể liên quan trực tiếp đến chuyến công du Việt Nam của Tổng thống Obama vào tháng 5/2016 - hay không.
TRÒN hay MÉO?
Mang tính cách một chính khách mê làm ăn, xu thời và có ưu điểm nổi bật là ít quan tâm đến ý thức hệ “không biết đến cuối thế kỷ này có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay không”, tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có lẽ sẽ ít nhiều rút ra được những bài học kinh nghiệm đắt giá từ thời thủ tướng bị miễn nhiệm Nguyễn Tấn Dũng, trong đó đặc biệt là cách hành xử và chỉ đạo Bộ Công an, Công an Hà Nội và đương nhiên không thể thiếu “gương điển hình tiên tiến” là TP.HCM, về những hành vi đàn áp nhân quyền và đối xử thô bạo với tự do ngôn luận cùng tự do báo chí.
6/4/2016 có thể được xem là một thời điểm mang tính cách lịch sử: không chỉ chính thức kết thúc cuộc xung đột quyền lực giữa cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với các ủy viên khác trong Bộ Chính trị đảng, mà còn dẫn đến khả năng trong thời gian một vài năm tới, giới bất đồng chính kiến ở Việt Nam sẽ ít bị lôi ra làm vật hy sinh như trước đây bởi những cuộc xung đột quyền lực triền miên liên quan đến hoạt động đối ngoại của các phe phái chính trị, cho dù chưa phải vì lý do “ngả hơn về phương Tây” mà chính quyền và Bộ Công an bỏ qua thói quen nhốt quyền làm người vào rọ.
Bằng chứng nhốt rọ mới nhất là ngay tại thời điểm Nguyễn Xuân Phúc nhậm chức thủ tướng, tự do tôn giáo đã bị đàn áp khắp nơi: Phật giáo Hòa Hảo ở An Giang, Công giáo ở Quảng Bình, Tin Lành ở Gia Lai và Bình Định…
Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc - cơ quan đã tham gia vào Công ước chống tra tấn quốc tế - liệu có “làm án” với những quan chức công an ở thành phố Pleiku, Gia Lai - những kẻ hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp phải chịu trách nhiệm về hành vi tra tấn gây thương tích trầm trọng cho bà Trần Thị Hồng - vợ của mục sư bị tù Nguyễn Công Chính, vì bà Hồng đã không chịu trình báo việc bà gặp phái đoàn nhân quyền Hoa Kỳ vào ngày 30/3/2016?
Sẽ là quá khó để Nguyễn Xuân Phúc dọn dẹp đống đổ nát thời Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng lại dễ hơn đôi chút để một thủ tướng với niềm đam mê chính trị ngùn ngụt cùng thể diện đối ngoại phải có nương theo xu thế dân chủ hóa Miến Điện cùng hình ảnh tiêu biểu về từ tâm của Thein Sein, thay vì tìm cách bắt bớ Sự Thật ở Việt Nam.
Đoạn cuối đời người luôn luôn mang một chút khí sắc tâm linh. Cuộc đời ông Phúc không chỉ có “Méo” mà còn có ”Tròn”. Nhưng cũng là một hình ảnh Tròn - Méo hỗn hợp, luân chuyển. Tựu chrung, cách ông Phúc ăn ở với dân ra sao sẽ quyết định hậu vận và lối thoát cuối đời của ông - không nhất thiết tại đất nước này.
Mười năm qua gió thổi đồi tây
Nguyễn Quốc Toàn
Hoang Dinh Nam AFP Image caption 'Lợi ích nhóm' giành đặc quyền đặc lợi để khai thác các nguồn lực quốc gia
Năm 2016 là năm đặc biệt với tôi vì nó đánh dấu 10 năm tôi trở về Việt Nam sau hơn mười mấy năm sống ở nước ngoài và cũng là năm tôi qua tuổi 40, tuổi không còn trẻ nữa.
Bài viết này là quan sát rất cá nhân của tôi, (và không có tính khoa học) về Việt Nam trong 10 năm qua dưới con mắt của một người trở về, từ dân nghiên cứu chuyển sang làm kinh doanh, nhân dịp sau đại hội Đảng và kết thúc một nhiệm kỳ của chính phủ.
Với tôi, Việt Nam của thập kỷ 2006-2015 được khái quát bằng những điểm chính sau:
1) Sự lũng đoạn trầm trọng của các công ty tư nhân trong việc cấu kết với các quan chức nhà nước, cái mà tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng gọi là “lợi ích nhóm”, còn kinh tế học thì gọi là “chủ nghĩa tư bản thân hữu” (cronysm);
2) Về phía khu vực công, sự “đục khoét ngân sách” hay “đào mỏ ngân sách” được đẩy lên đến đỉnh điểm;
3) Thập kỷ này đánh dấu sự khủng hoảng toàn diện của nền giáo dục của nước nhà.
4) Mạng xã hội và truyền thông đã có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống chính trị Việt Nam.
5) Và cuối cùng, làn sóng người có tiền và kiến thức ra đi ào ạt, lại một cuộc di cư nữa.
Vấn đề đầu tiên là sự lũng đoạn trầm trọng của các tập đoàn tư nhân. Chưa bao giờ mà chủ nghĩa tư bản thân hữu “cronyism” ở Việt Nam lại biểu hiện rõ như thế.
Chủ nghĩa tư bản thân hữu hay “nhóm lợi ích” ở đây là sự kết hợp giữa công ty tư nhân và quan chức nhà nước trong việc giành những đặc quyền đặc lợi để khai thác một nguồn lực gì đó trên cơ chế bất bình đẳng, không cạnh tranh lành mạnh.
Câu nói mà bạn sẽ nghe nhiều nhất trong 10 năm vừa qua sẽ là “chỗ này là của anh A, chỗ kia là của chị B”.
Dường như không có cuộc chơi kinh doanh lớn nào ở Việt Nam mà lại không có sự “bảo kê” của một quan chức nào đó. Mọi quan hệ kinh tế sẽ được thay bởi các quan hệ chằng chịt giữa chính trị và doanh nghiệp.
Điểm nguy hiểm nhất của chủ nghĩa tư bản thân hữu là việc nó tạo ra một cuộc chơi bất bình đẳng mà các công ty tư nhân khác không được cơ hội tham gia.
Qua đó các công ty “nhóm lợi ích” được độc quyền khai thác nguồn tài nguyên hay một hoạt động nào đó, và thường là gây thiệt hại cho người dùng.
Image copyright Reuters Image caption Quan hệ chính trị trở thành một 'ưu thế' để lấy các hợp đồng thầu và công trình lớn
Trong tài chính, đây là cuộc chơi sử dụng quyền lực để mua lại các doanh nghiệp theo ý của mình. Trong giáo dục, đó là việc trao cho một công ty giáo dục độc quyền cung cấp một dịch vụ, thiết bị mà học sinh, phụ huynh phải mua mà không có sự lựa chọn khác.
Trong xây dựng cơ sở hạ tầng, thì sử dụng quan hệ chính trị để lấy các hợp đồng thầu lớn mà không thông qua đấu thầu công bằng và minh bạch.
Trong bất động sản, đó là việc thay đổi quy hoạch tạo lợi thế cho doanh nghiệp hoặc việc lấy các vị trí đắc địa qua những mối quan hệ bất bình đẳng.
Thay vì phát triển theo một hướng minh bạch có lợi về dài hạn, Việt Nam dường như đang trượt ngã trên con đường phát triển của những nước mà chủ nghĩa tư bản thân hữu đang lũng đoạn mà chưa có lối ra như Philippines, các nước Mỹ Latin, Liên bang Nga, Trung Quốc.
Và rồi sẽ có lúc nếu không kiểm soát sớm thì doanh nghiệp sẽ là người điều khiển cuộc chơi chính trị kinh tế, là kẻ tống người tiêu dùng vào tù, là kẻ bịt mồm nhà báo, v.v , và cuối cùng là thế lực thực sự lũng đoạn nền chính trị, đưa người này lên, đưa kẻ khác xuống.
Khi chính trị bị định đoạt bằng đồng tiền và quan hệ thì chính trị đã trở thành “công cụ” của những tay chơi tư bản lớn.
Và khi đó, nền kinh tế tại Việt Nam sẽ trở thành hiện thân “chủ nghĩa tư bản” thời kỳ “mông muội” và đáng “ghê tởm”nhất chứ không phải là chủ nghĩa xã hội như ước vọng của các lãnh đạo Đảng Cộng sản.
'Đào mỏ ngân sách'
Vấn đề thứ hai, với tôi, là việc “đào mỏ ngân sách” (budget mining) (mượn lời của Tiến sĩ Trần Vinh Dự). Thập kỷ vừa qua tại Việt Nam được đánh dấu bằng việc “vung tay quá trán” của chính quyền địa phương.
Chưa có thời kỳ nào mà Việt Nam lại lắm công trình chùa chiền, công trình kỷ niệm, các dự án khu hành chính ngốn hàng trăm, hàng ngàn tỷ như những năm vừa qua.
Các địa phương thi nhau đục khoét ngân sách thông qua các dự án công. Không có cách nào rút tiền ngân sách dễ dàng như rút tiền qua dự án công.
Một công trình, khu tượng đài có giá trị đầu tư hàng trăm tỷ sẽ được giao cho một công ty xây dựng “thân hữu”. Công ty xây dựng đó sẽ trở thành nhà thầu chính và qua đó có thể chia sẻ lại quyền lợi cho những người có quyết định.
Điểm đáng kinh ngạc và phẫn nộ là trong khi ai cũng biết mười mươi sự lãng phí và sự rút tiền trắng trợn qua những dự án này thì chính quyền trung ương dường như lại không thể áp đặt và quyết đoán ngăn chặn những quyết định này.
Tại sao các địa phương lại có thể xin ngân sách nhà nước một cách tùy tiện như vậy. Sự nghịch lý này hoàn toàn có thể giải thích được.
Chính quyền trung ương sẽ được đánh giá tín nhiệm từ hai nguồn:
a) Các ủy viên trung ương, mà đại diện là lãnh đạo các tỉnh/chính quyền địa phương
b) Đánh giá tín nhiệm từ Quốc hội
Tuy nhiên, ủy viên trung ương mới là người thực sự bầu ra bộ chính trị, thủ tướng, và thực tế nội các. Trong khi đó, lá phiếu tín nhiệm của quốc hội chỉ có ý nghĩa tượng trưng mà không có hình phạt.
Do đó, dường như phải có sự thỏa hiệp giữa chính quyền địa phương và chính quyền trung ương trong việc đổi lấy lá phiểu ủng hộ, đặc biệt là giữa nhiệm kỳ.
Do vậy, để tránh việc đầu tư vung vãi như trên thì cần phải thiết kế một cơ chế quy trách nhiệm cho người lãnh đạo chính quyền địa phương và bảo đảm được tính độc lập trong việc ra quyết định chi ngân sách của người đứng đầu chính quyền trung ương.
Mạng xã hội để xả uất ức?
Từ những năm qua, mạng xã hội và truyền thông đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế chính trị ở Việt Nam.
Xã hội Việt Nam 10 năm qua đã không còn là xã hội thụ động về truyền thông nữa. Sự phát triển của mạng xã hội đã cho phép người dân tham gia vào đời sống chính trị kinh tế xã hội một cách chủ động hơn rất nhiều.
Mạng xã hội đã chính thức trở thành nơi để xả những uất ức phẫn nộ và bức bối của dân chúng. Nếu như ở nước ngoài, người dân phản ứng với thay đổi bằng cách biểu tình thì ở Việt Nam, người ta sẽ phản ứng bằng cách “biểu tình trên mạng”.
Mỗi một sự kiện có ảnh hưởng lớn đến đời sống đều được đem ra bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội. Ảnh hưởng của mạng xã hội lớn đến mức có rất nhiều vụ việc sau đó bị thay đổi do dư luận trên mạng xã hội đã dẫn dắt truyền thông chính thống, ví dụ như vụ chặt cây xanh, máy tính bảng, tiếng Anh tích hợp, thực phẩm bẩn .v.v.
Quay lại chuyện chính trị và truyền thông, dường như truyền thông và mạng xã hội đã loại thẳng tay các lãnh đạo đương nhiệm của Bộ Giáo dục và Bộ Y tế, trong khi trái tim của công luận dường như “tình trong như đã” với nguyên Bộ trưởng Bộ Giao Thông Đinh La Thăng.
Xét công bằng mà nói thì hai Bộ Y tế và Bộ Giáo dục - Đào tạo có những nỗ lực không hề nhỏ trong 5 năm vừa qua. Tuy nhiên nhìn cách họ ứng xử với truyền thông thì thấy hai bộ này còn phải thay đổi rất nhiều.
Bộ Y tế ứng xử với truyền thông thì hết sức vụng về, luôn đi chậm một bước, tuyên bố rất ngô nghê. Còn Bộ Giáo dục thì luôn có vẻ ngạo mạn, hành xử đầy “cha chú” với truyền thông và công luận với những chính sách và phát ngôn gây sốc như dự án 35 nghìn tỷ, cuộc thi đại học như “đánh bạc”, và chẳng bao giờ có lời giải thích cầu thị đến nơi đến chốn cả.
Trong khi đó, chỉ một hình ảnh ông Đinh La Thăng đu dây xuống thị sát vụ tai nạn cũng đã đủ đốn ngã hàng triệu con tim của người dân, và kế đó là việc ông là người duy nhất được bầu thẳng vào Bộ Chính trị mà không có sự giới thiệu từ Bộ Chính trị trước đó.
'Hộ chiếu một đất nước khác'
Đối với tôi, người từng tham gia rất sâu vào giáo dục và cũng là người có hai đứa con đang độ tuổi đi học cấp 1 và cấp 2 ở Việt Nam, giáo dục là điều tôi quan tâm nhất.
Với tôi, 10 năm qua chứng kiến sự khủng hoảng toàn diện của nền giáo dục Việt Nam. Sang thế kỷ 21 rồi mà giáo trình phổ thông và đại học của Việt Nam vẫn vô cùng lạc hậu hàng chục năm so với nước ngoài.
Hàng trăm vụ scandal liên quan đến nội dung giáo trình phổ thông đã xảy ra. Những gì con tôi được học không khác gì những gì cha tôi và tôi đã từng được học cách đây hơn 30-50 năm.
Người thầy vẫn phải dạy một cách giáo điều, khuôn mẫu, ngăn cản sáng tạo. Vẫn những câu chuyện lịch sử áp đặt hoặc không được nhắc đến. Những cuộc cải cách giáo trình mãi không biết đến bao giờ mới xong (trong khi đó nếu Bộ Giáo dục - Đào tạo trao quyền cho khối tư nhân thì có khi chỉ một năm đã có tất cả giáo trình đầy đủ). Và vẫn những loay hoay không lối thoát về chiến lược giáo dục.
Sắp hội nhập AEC và TPP đến nơi rồi mà hơn 80% học sinh thi tốt nghiệp phổ thông trung học có điểm tiếng Anh dưới 5 điểm trung bình.
Ấy thế mà những nhà quản lý giáo dục vẫn “bình chân như vại”. Giáo dục song ngữ, cụ thể là tiếng Anh, vẫn chưa bao giờ được coi là quan trọng nhất.
Việc dạy Toán và Khoa học, nền tảng giáo dục cơ bản cho một đất nước “sáng tạo” lại luôn được dạy một cách vô cùng lý thuyết và thiếu tính ứng dụng cao.
Cuộc khủng hoảng năm 2008 kéo dài với những bấp bênh bất ổn của nền kinh tế đã dẫn đến một làn sóng ngầm nhưng rất rõ ràng là những ai có điều kiện đều cảm thấy cần phải mua “bảo hiểm” cho gia đình mình bằng tấm hộ chiếu của một đất nước khác.
Nếu như năm 2006 khi tôi trở về, câu chuyện trong giới doanh nghiệp và tài chính là đầu tư vào đâu, thì những năm gần đây, câu chuyện thường trực mà tôi nghe là họ sẽ di cư đi đâu, chuyển tiền ra nước ngoài thế nào.
Tại sau người ta lại bỏ nước ra đi?
Người ta bỏ nước ra đi vì họ thấy quá nhiều bất ổn: kinh tế bấp bênh, ô nhiêm môi trường trầm trọng, thực phẩm độc hại tràn lan, và đặc biệt, là một nền giáo dục quá lạc hậu không thể chuẩn bị cho con cái họ một tương lai trước một thế giới đầy bất định.
Cứ 10 chủ doanh nghiệp mà tôi gặp thì ít nhất 3-4 người đã có thẻ thường trú nhân ở một nước tư bản, số còn lại thì hơn một nửa cũng đang ngấp nghé chuẩn bị.
Sự khác biệt lớn nhất của cuộc di cư lần này so với những cuộc di cư khác là cuộc di cư lần này không hề vì ý thức hệ. Cuộc di cư lần này được những người tinh hoa nhất, thành đạt nhất dẫn đầu, và được chuẩn bị vô cùng bài bản và công khai.
Họ ra đi mang theo số lượng tiền bạc, trí tuệ khổng lồ. Một cuộc chảy máu chất xám và tiền lớn hơn tất cả những cuộc di cư trước cộng lại.
(Còn với tôi, nếu tôi có phải bỏ nước ra đi, thì lý do duy nhất là tôi không muốn con tôi sống với những điều dối trá đang diễn ra.)
Sang năm 2016, tôi thấy hơi lạc quan với những động thái mà Đảng Cộng sản đưa ra. Dường như những nhà lãnh đạo đã cảm thấy một phần sức nóng bức xúc của công luận.
Tham nhũng được coi là quốc nạn, những vụ bổ nhiệm lãnh đạo cao cấp dường như khá tích cực.
Những vụ luân chuyển cán bộ cấp thành ủy đã mang hơi hướng của việc cải cách.
Một điểm tích cực khác là dàn lãnh đạo khá trẻ của Đảng cho dù họ có là con ông cháu cha hay chăng nữa.
Truyền thông và mạng xã hội được coi trọng hơn rất nhiều. Quan chức giờ đã biết nhìn và hành động theo phản ứng của dư luận, cho dù những việc đó có là “giả tạo” thì việc biết để ý đến phản ứng của công luận đã là một bước tiến bộ rất đáng kể.
Tôi mong rằng sang thập kỷ mới, chính phủ Việt Nam sẽ giải quyết được triệt để những vấn đề nêu trên.
Hãy trở thành một chính phủ quyết đoán hơn, dùng được tầng lớp kỹ trị. Các quan chức phải chịu trách nhiệm cá nhân cho các quyết sách của mình. Hãy biến Việt Nam trong những năm tới thành một “Quốc gia Giáo dục – Education Nation” nơi mà việc học tiếng Anh, Toán, Khoa học được coi trọng hàng đầu.
Chính phủ Việt Nam cũng nên cởi mở hơn với những phản biện xã hội. Hãy coi phản biện xã hội là những tấm gương lớn để soi lại mình.
Đừng chụp mũ và áp đặt cho các phản biện xã hội là “diễn biến hòa bình” hay “các thế lực phản động”.
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tự làm mới mình trong mỗi lần sinh tử. Vậy hãy làm mới mình, hãy chấp nhận thay đổi cho một đất nước tốt đẹp hơn.
Anh bạn thân của tôi, một nhà kinh tế học nổi tiếng Việt Nam đã từng nói đầy cay đắng: Bi kịch và nghịch lý lớn nhất của thể chế chính trị hiện giờ là nó biến những người hiền hòa, những trí thức và doanh nhân an phận có trách nhiệm (như tính cách của dân tộc Việt Nam) thành những người bất đồng.
Chúng tôi yêu tha thiết đất nước này, và một cách nào đó, chúng tôi được hưởng lợi từ chế độ này. Tuy nhiên, mong thể chế này hãy thay đổi tích cực để đừng biến những người yêu nước (như chúng tôi), một ngày nào đó lại phải trở thành những người “bất đồng chính kiến”.
* (Đầu đề mượn lời thơ của Phạm Công Thiện. Bài viết có sử dụng các ý trao đổi của Vũ Thành Tự Anh và Trần Vinh Dự).


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét