Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

Lá Thư Úc Châu Trang Thơ Nhạc tháng 6-2015


Dương Thiệu Tước - Hồ Dzếnh: Chiều
Phạm Ký : 
Vài dòng về cố nhạc sĩ Dương Thiệu Tước (1915-1995)
 Những năm đầu của thập niên 1930 văn hóa Âu Châu, nhất là của Pháp ồ ạt xâm nhập Việt Nam. Các nhà văn hóa, văn nghệ Việt Nam cũng bắt đầu chuyển hướng. Về lãnh vực văn chương có nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Về mỹ thuật có trường Cao Đẳng Mỹ Thuật được mở năm 1926. Về âm nhạc thì các nhạc sĩ VN thời đó một phần chịu ảnh hưởng của âm nhạc Pháp nhưng mặt khác họ cố tìm một đường hường mới để không bị nhạc Tây „nuốt“. Dòng âm nhạc mới này được gọi là TÂN NHẠC, NHẠC CẢI CÁCH, sau này còn được gọi là NHẠC TIỀN CHIẾN .
 
Năm 1938 báo Ngày Nay kêu gọi các nhạc sĩ Việt Nam khi viết nhạc Cải Cách nên cố gắng giữ hồn Việt Nam. Trước đó ở Việt Nam có hát Ả Đào, hát Ca Trù, hát Xẩm do các ca sĩ mù hát rong ngoài đường phố. Năm 1927 Pháp mở Viện Âm Nhạc Viễn Đông (Conservatoires de musique Francaise d´extrême orient) tại Hà Nội chuyên dậy nhạc cổ điển Âu Châu. Chịu ảnh hưởng này các nhạc sĩ Việt Nam bắt đầu học "son phe". Thanh niên Việt Nam lúc đó, nhất là giới sinh viên, học sinh, ưa chuộng nhạc phổ thông của Pháp qua các bài hát của các ca sĩ Tino Rossi, Josephine Becker.... Họ cũng học các điệu vũ Tango, Foxtrott, Valse..Một số học dương cầm, vĩ cầm, lục huyền cầm/Tây Ban Cầm (guitar), banjo, mandoline. Một trong các thanh niên thời đó chọn học đàn Piano và Guitar chính là nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.
Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước sinh ngày 14.01.1915. Quê ông ở làng Vân Đình, quận Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây). Xuất thân từ một giòng họ khoa bảng. Ông là cháu nội cụ Dương Khuê (1836-1898). Cụ đỗ Tiến Sĩ và làm quan dưới triều Nguyễn. Cụ cũng là một nhà thơ có tiếng trong văn học Việt Nam. Thân phụ ông là cụ Dương Tự Nhu làm bố chánh tỉnh Hưng Yên. Mang máu nghệ sĩ trong người, ông chọn con đường âm nhạc ngay từ lúc ấu thơ. Có cái may là cụ Dương Tụ Nhu là người trọng văn học, không coi âm nhạc là "xướng ca vô loại", nên ông đã được khuyến khích học nhạc từ lúc còn nhỏ. Cụ Nhu mua cho ông Đàn Nguyệt lúc ông 7 tuổi. Ngoài Đàn Nguyệt ông còn học thêm Đàn Tranh tại các bậc thầy miền Trung. Đến lúc 14 tuổi, ông bắt đầu chú ý đến nhạc Tây phương và chuyển qua học đàn dương cầm với một thầy người Pháp. Lúc 16 tuổi ông học thêm lục huyền cầm/Tây Ban Cầm, nhạc cụ sở trường của ông. Sau này ông trở thành một cây đàn guitar có hạng tại Việt Nam và đồng thời là giáo sư tại Viện Quốc Gia Âm Nhạc Việt Nam dạy đàn này cho vô số các nhạc sĩ của thế hệ sau. Ngoài lục huyền cầm/Tây Ban Cầm ông còn tự học thêm lục huyền cầm/Guitar Hạ Uy Di. Cũng như ông, các nhạc sĩ Việt Nam cùng thời đều tự học, mua sách của Pháp về rồi tự học hay học hỏi lẫn nhau. Họ đều không có cơ hội theo học tại trường âm nhạc nào.
Mặc dù học nhạc, kỹ thuật sáng tác nhạc Tây Phương, nhưng các tác phẩm của ông vẫn đượm hồn dân tộc, đúng như báo Thời Nay lúc đó kêu gọi. Trong một ấn phẩm viết tay, ông ngỏ ý: "Theo tôi tân nhạc Việt Nam phải thể hiện rõ cá tính Việt Nam. Để đạt được điều này, người sáng tác phải hiểu rõ nhạc Việt qua cách học nhạc cụ cổ truyền cũng như hát được các điệu hát cổ truyền".
Các nhà phê bình nhạc cho rằng ý nghĩ này đã được thể hiện rõ trong các tác phẩm Tiếng Xưa (Stimme der Vergangenheit), Đêm Tàn Bến Ngự (Die Nacht endet an königlicher Anlegestelle). Theo các nhà khoa học nghiên cứu âm nhạc thì bài Đêm Tàn Bến Ngự được viết dựa theo các điệu Nam Bình, Nam Ai nổi bật cá tính của Huế. Những sáng tác khác của ông trong những năm cuối thập niên 1940, đầu thập niên 1950 phải kể Kiếp hoa, Áng mây chiều, Nhạc ngày xanh, Dưới nắng hồng, Xuân mới, Thiếu niên xuân khúc ca, Thuyền mơ...
Theo Phùng Quốc Thụy nhận xét, Dương Thiệu Tước „là người có dáng vẻ rụt rè ít nói, không ưa sự phô trương ầm ỹ, nhưng lại là người sốt sắng nhất trong việc xây dựng, cổ động, phổ biến nền tân nhạc mọi hình thành, với mọi hình thức: sáng tác, biểu diễn, xuất bản, đào tạo, lý luận, phê bình“. Ông cũng viết các bài tham khảo cho tập san VIỆT NHẠC. Ông thành lập hội KHUYẾN NHẠC cùng với nhạc sĩ Thẩm Oánh để cổ động và phổ biến nền Tân Nhạc Việt Nam. Cũng cùng với Thẩm Oánh ông thành lập ban nhạc đặt tên là MYOSOTIS (hoa Vergiß mein nicht). Ban nhạc thường chỉ chơi tại nhà riêng, rất ít khi trình diễn nơi công cộng.
Năm 19 tuổi ông lập gia đình với bà Lưong Thị Thuần, cũng xuất thân từ một giòng họ khoa bảng. Thời đó việc kết hôn thường được các cụ dàn xếp theo truyền thống „môn đăng hậu đối“. Ông bà sinh hạ được 3 con gái và 2 con trai . Một trong 2 ngưòi con trai là anh Dương Hồng Ân.
Năm 1940, lúc đó ông 25 tuổi, ông mở cửa hiệu bán và sửa chữa đàn tại 57 Hàng Gai, Hà Nội. Cửa hàng sau đó phải đóng vì chiến tranh. Đầu thập niên 1950 ông rời Hà Nội vào Huế và Sàigòn. Tại Huế ông quen với Minh Trang, một ca sĩ có tiếng tại Huế lúc đó, đánh dấu cho một chuyện tình giữa người nhạc sĩ thành Hà và cô ca sĩ miền Trung. Những sáng tác của Dương Thiệu Tước trong thời điểm này phải kể ngoài Đêm Tàn Bến Ngự, còn có Ngọc Lan, Chiều, Bóng Chiều Xưa....
Năm 1954 lúc đất nước chia đôi, ông vào Sàigòn sinh sống. Tại Sàigòn ông sống chung với ca sĩ Minh Trang và có thêm với bà 4 gái và 1 trai. Bà Lương Thị Thuần và các con cũng vào Nam tháng 7 năm 1954.
Tại Sàigòn ông làm chủ sự phòng văn nghệ tại đài Phát Thanh Sàigòn đồng thời được mời làm giáo sư dạy lục huyền cầm/Tây Ban Cầm tại trường Quốc Gia Âm Nhạc. Đã cả chục năm trôi qua nhưng vẫn ấp ủ ý nguyện hội nhập cá tính và hồn Việt Nam vào tân nhạc, ông cho ra đời một chương trình có tên là CỔ KIM HÒA ĐIỆU, phát thanh thường xuyên tại đài Phát Thanh Sàigòn những năm cuối thập niên 1950. Trong chương trình này ông xử dụng cả hai nhạc cụ Tây phương và cổ truyền Việt Nam để trình diễn tân nhạc Việt.
Biến cố 30.04.1975 đánh dấu một khúc quanh trọng đại trong sự nghiệp của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Các tác phẩm của ông bị coi là nhạc lãng mạn, ủy mị nên nhà nước Cộng Sản cấm, không cho ai trình diễn nhạc của ông. Ông cũng ngưng dậy học tai trường Quốc Gia Âm Nhạc. Ít lâu sau đó ca sĩ Minh Trang cùng con cái ra đi qua Mỹ. Ông ở lại Saigon. Bà Lương Thị Thuần, sau biến cố 75, năm 1979 đã qua CHLB Đức đoàn tụ với gia đình người con trai cả của bà là anh Dương Hồng Ân.
Phải nói là từ lúc này ông sống rất chật vật, nhờ vào sự tiếp tế của các con ở ngoại quốc và sự chăm sóc của 2 người con gái con bà Luơng Thị Thuần lúc đó còn sống tại Sàigòn. Đầu thập niên 1980 ông về chung sống với bà Nguyễn Thị Nga tại quận Bình Thạnh, nguyên là một học trò giỏi của ông lúc bà theo học đàn lục huyền câm/Guitar tại trường Quốc Gia Âm Nhạc. Bà Nga, một phụ nữ có tư cách, đứng đắn, mẫu mực, đảm đang, hết lòng lo lắng, chăm sóc cho ông lúc tuổi xế chiều. Không những là một danh cầm về đàn lục huyền cầm Guitar, bà còn là một giáo sư dậy Anh ngữ tại Sàigòn. Năm 1983 ông có thêm một con trai với bà Nga.
Những năm tháng cuối cùng cuộc đời ông, ông sống rất đạm bạc. Đến ngày 01.08.1995 ông đã vĩnh viễn ra đi, hưởng thọ 80 tuổi.

Tiếng hát:  Khắc Triệu

Tình thân,
NNS
...........................................................................................................................................
(1) Chuyện Thời sự
(i) Ls Nguyễn Xuân Phước: Thân Thanh Triều nên mất nước
Luật sư Nguyễn Xuân Phước từ Texas viết về bài học Triều Nguyễn và xu hướng thân Trung Hoa đưa tới chỗ mất nước và so sánh với tình trạng lệ thuộc tư tưởng ngày nay:
Năm 1802 Nguyễn Ánh diệt được nhà Tây Sơn, lên ngôi lấy hiệu là Gia Long và chọn Phú Xuân làm kinh đô. Đến đời Minh Mạng cố đô Thăng Long đổi thành Hà Nội. Nhưng quá trình thống nhất và sự sai lầm trong việc chọn lựa con đuờng phát triển đất nước ở các triều đại nhà Nguyễn đã đánh mất cơ hội phục hưng tổ quốc, làm tiêu tán nội lực dân tộc, dẫn đưa đất nước đến giai đoạn đánh mất nền độc lập.
Khi Nguyễn Ánh phát động chiến tranh chống lại nhà Tây Sơn, ngài đã dựa vào hai thế lực ở nước ngoài. Ðó là lực lượng của người Tây phương và lực lượng người Trung Hoa.
Đứng đầu lực lượng Tây phương phò Nguyễn Ánh là đức giám mục Bá Ða Lộc. Nguyễn Ánh gặp giám mục Bá Ða Lộc khi ngài bôn tẩu ở Vọng Các, kinh đô của Xiêm La, tức Thái Lan. Từ đó, mối quan hệ của hai nguời trở nên mật thiết. Ðể vận động sự trợ giúp của Pháp quốc, Nguyễn Ánh đã giao hoàng tử Cảnh lúc mới lên bốn cho giám mục Bá Ða Lộc. Đồng thời giám mục có toàn quyền ký hiệp định với hoàng đế Pháp để giúp cho Nguyễn Ánh đánh nhà Tây Sơn. Sau đó ông trở về Pháp để vận động viện trợ cho Nguyễn Ánh. Ngài đã thay mặt Nguyễn Ánh ký hiệp ước 1787 dùng các đảo Côn Sơn và các đảo ngoài khơi Đà Nẵng (là Hoàng Sa) để đổi lấy viện trợ quân sự. Nhưng việc thi hành hiệp ước 1787 với Pháp thất bại.
Sau đó giám mục Bá Ða Lộc đã bỏ tiền túi cũng như vận động tài chánh riêng để mua khí giới và đưa sĩ quan Pháp về huấn luyện cho quân Nguyễn Ánh. Những người Pháp giúp cho Nguyễn Ánh như Sạc Ne (Charner) và Sai Nhô (Chaigneau) đều được tham dự triều chính của vua Gia Long khi ngài lên ngôi. Chúng ta có thể khẳng định rằng vua Gia Long là vị vua Á Châu đầu tiên biết xử dụng nhân tài Tây Phương để phục vụ cho đất nước.
Hai phe đấu đá
Người đầu tiên chịu ảnh hưởng Tây phương trong triều đình Gia Long là hoàng tử Cảnh. Hoàng tử Cảnh được vua cha Gia Long cho theo đức giám mục Bá Ða Lộc từ lúc ông mới 4 tuổi. Ở tuổi thơ ấu này, hoàng tử Cảnh rất dễ tiếp thu văn hoá và ngôn ngữ Tây phương. Có lẽ hoàng tử Cảnh là vị hoàng tử Á Châu đầu tiên được theo Tây học ở cuối thế kỷ thứ 18. Tuy lịch sử không nói nhiều đến cuộc đời của hoàng tử Cảnh, ngày nay chúng ta có thể suy luận được rằng hoàng tử Cảnh là người tiếp cận văn hoá tây phương rất sớm, thông thạo Pháp ngữ, Latin và có quan hệ rất tốt với Tây phương. Ngoài ra, cánh quân sự trong triều đình Gia Long là thành phần chịu ảnh hưởng của Tây phương. Họ là những người trực tiếp xử dụng vũ khí của Tây phương. Đứng đầu cánh thân Tây phương này là tả quân Lê Văn Duyệt cùng các tướng lãnh như tiền quân Nguyễn Thành.
Phe thân Trung Hoa là những người Minh Hương đã gia nhập lực lượng của Nguyẽn Ánh để chống Tây Sơn. Người Minh Hương là những người Trung Hoa phục vụ cho nhà Minh xin tỵ nạn chính trị tại Đại Việt khi nhà Thanh diệt nhà Minh. Những người Minh Hương thoạt đầu là những người của tổ chức Thiên Địa Hội có ý chí phản Thanh phục Minh. Tuy nhiên từ thời Khang Hy trở đi, nhà Thanh đã bắt đầu bị đồng hoá vào Trung Hoa và Khang Hy bắt đầu những chính sách kinh tế, chính trị làm cho Trung Hoa càng ngày càng phồn thịnh và phát huy văn hoá Trung Hoa lên cao độ. Do đó, ý chí phục Minh của những người Minh Hương không còn nữa. Sau hơn 100 năm sống ở Đại Việt, những người Hoa kiều nầy trở thành một bộ phận của dân tộc nhưng họ vẫn có những mối quan hệ chặt chẽ với mẫu quốc Trung Hoa. Tại Việt Nam lúc bấy giờ người Minh Hương trở thành một lực lượng có xu huớng thân Trung Hoa trong triều Gia Long. Ðứng đầu lực lượng nầy là Trịnh Hoài Ðức, Lê Quang Ðịnh và Ngô Nhơn Tịnh. Ba ngưòi nầy là học trò xuất sắc của một nhà thâm nho gốc Minh Hương là Võ Trường Toản và cả ba được người đương thời gọi là Gia Định Tam Hùng. Cả ba đều tham gia hoạt động phò Nguyễn Ánh từ năm 1788. Khi Gia Long lên ngôi, Trịnh Hoài Ðức được bổ nhiệm làm thượng thư bộ lại kiêm bộ hình và phó tổng tài Quốc Sử Quán. Lê Quang Ðịnh được làm Binh Bộ thượng thư, tương đương với bộ trưởng quốc phòng ngày nay. Ngô Nhơn Tịnh sau được thăng Công Bộ thượng thư. Cả ba ông đều dóng những vai trò quan trọng trong mối quan hệ ngoại giao với Trung Hoa. Nhưng vai trò quan trọng nhất của Trịnh Hoài Ðức là được vua Gia Long ủy thác để dạy dỗ cho hoàng tử Ðảm. Hoàng tử Ðảm sau lên ngôi lấy hiệu là Minh Mạng.
Hai xu hướng thân Tây phương và thân Trung Hoa trong triều Gia Long xung đột gay gắt về vấn đề kế vị hoàng tử Cảnh sau khi hoàng tử qua đời. Khi Trịnh Hoài Đức thuyết phục được Gia Long phế dòng trưởng lập dòng thứ, vua Gia Long đã chọn Minh Mạng làm người kế vị. Khi Minh Mạng lên ngôi, dưới ảnh hưởng của Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tịnh, Việt Nam đã nghiêng hẳn theo mô hình Nho giáo của Thanh triều (Thanh Nho) để phát triển đất nước.
Sau khi phe thân Trung Hoa tạo được ưu thế trong triều đình thì thanh trừng bắt đầu xuất hiện. Tiền quân Nguyễn Thành, tổng trấn Bắc Thành, đã bị gièm pha đến phải uống thuốc độc tự vẫn thời Gia Long. Sau khi lên ngôi, Minh Mạng (1820-1840) triệt hạ dòng dõi của hoàng tử Cảnh bằng cách xử tử vợ và người con trưởng của hoàng tử Cảnh, giáng ngưòi con thứ làm thường dân.
Đối với Lê Văn Duyệt, Minh Mạng chưa dám làm gì và vẫn cho làm tổng trấn Gia Định Thành. Khi Minh Mạng ban hành lệnh cấm đạo thì Lê Văn Duyệt tại Gia Định vẫn chủ trương thân Tây phương và không thực hiện lệnh cấm đạo. Khi Lê Văn Duyệt qua đời, con nuôi là Lê Văn Khôi nổi dậy chống triều đình với sự giúp đỡ của một số người Tây phương trong đó có một linh mục Công giáo. Khi cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi bị dẹp tan thì Minh Mạng mới kết án Lê Văn Duyệt, tước hết các chức vụ và cho xiềng lăng của ông bằng xích sắt.
Về phương diện ngoại giao, Minh Mạng cho giảm dần quan hệ với Tây phương. Những ngườì Pháp làm việc với Gia Long chán nản bỏ về nước. Với những người Minh Hương thân Trung Hoa cầm nắm vận mạng của triều đình, Minh Mạng đã thi hành một loạt các chính sách ngoại giao đi ngược với đưòng lối của Gia Long. Từ một nền chính trị ngoại giao khai phóng của Gia Long với những quan hệ rộng rãi với các quốc gia trên thế giới, Minh Mạng và các vua kế vị Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Đức (1848-1883) cùng triều đình thân Trung Hoa đã bắt đầu một nền chính trị cục bộ, thiển cận với chính sách bế môn toả cảng, đoạn tuyệt với Tây phương, ban hành lệnh cấm đạo.
Mê văn chương xao nhãng quân sự
Do ảnh hưởng của Thanh Nho, triều đình nhà Nguyễn từ Minh Mạng trở đi chỉ chú trọng đến văn chương thi phú biền ngẫu, đi theo con đường trọng văn và xao lãng vấn đề quân sự và quốc phòng. Ðây là lý do, sau khi Gia Long băng hà, sức mạnh quân sự của triều Nguyễn suy giảm hẳn. Khi các tướng lãnh thuộc thế hệ Gia Long qua đời, các tướng lãnh thế hệ kế thừa không đủ tài thao lược để thực hiện chính sách quốc phòng hữu hiệu. Lực lượng quân sự của Trương Minh Giảng không đủ khả năng duy trì guồng máy cai trị ở Nam Vang. Và Trương Minh Giảng đã bị người Miên đánh đuổi về nước dưới triều Thiệu Trị.
Đến thời kỳ Tự Đức, xu hướng thân Trung Hoa hoàn toàn nắm trọn quyền trong triều đình. Sự kiện này được xác định khi triều đình họp nhau bác bỏ bản điều trần canh tân đất nước của Nguyẽn Trường Tộ. Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) là một nho sĩ theo đạo Thiên Chúa. Ông nổi tiếng thông minh và hay chữ, được người đời gọi là Trạng Tộ. Ông cũng thông thạo nhiều ngôn ngữ Tây phương. Ông làm thông ngôn cho các giáo sĩ Thiên Chuá trong việc truyền đạo tại Việt Nam. Sau một thời gian đi chu du thế giới, đặc biệt là Pháp và Ý, ông trở về Việt Nam dành mấy năm trời đem tâm huyết của một người yêu nước viết nhiều bản điều trần cải cách và canh tân đất nước dâng lên Tự Đức. Nhưng triều đình Tự Đức với đầu óc cổ hủ của Thanh Nho không đủ tầm nhìn để hiểu được những thế lớn đang bùng ra trong thiên hạ thời bấy giờ. Sau hoàng tử Cảnh năm mươi năm, Việt Nam đã mất đi cơ hội phát triển một lần nữa khi triều đình nhà Nguyễn quay mặt trưóc những yêu cầu canh tân của Nguyễn Trường Tộ.
Điều bất hạnh hơn cho dân tộc là lúc ấy giáo điều Thanh Nho đã bắt đầu rã mục. Triều đình nhà Thanh đang trên đà phá sản. Năm 1839 chiến tranh Nha Phiến bùng nổ, nhà Thanh phải ký các hiệp ước biên giới nhượng đất cho Anh và Pháp. Với hiệp ước Nam Kinh, Anh chính thức chiếm đóng HongKong năm 1842.
Với hiệp ước Hoàng Phố 1844, Pháp chính thức đặt chân lên lãnh địa Trung Hoa. Ở mạn bắc, năm 1850 quân đội của Nga Hoàng tràn xuống Hắc Long Giang chiếm đóng Mãn Châu, quê hương của nhà Thanh. Từ 1854 đến 1860, Hồng Tú Toàn và phong trào Thái Bình Thiên Quốc đã chiếm gần một nửa Trung Hoa. Cuối cùng, cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 của phong trào cách mạng Quốc Dân Đảng dưới sự lãnh đạo của Tôn Văn đã lật đổ triều đình phong kiến Mãn Thanh để xây dựng chế độ Cộng Hoà.
Trong khi đó, triều đình nhà Nguyễn vẫn còn như mơ ngủ. Sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ năm 1860, tức là 20 năm sau khi nhà Thanh bị liệt cường xâu xé và đang dãy chết, triều đình Tự Đức vẫn còn cho người sang Trung Hoa cầu viện. Những tiếng nói đòi cải cách của các sĩ phu yêu nước như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch trở thành nổi trăn trở kéo dài hàng thế kỷ của nhiều thế hệ. Ý hệ Thanh Nho làm triều đình nhà Nguyễn u mê đến nổi không thấy được một thế giới mới đang ra đời với cuộc cách mạng kỹ nghệ đang đẩy xã hội Tây phương lên đỉnh cao của sự phát triển. Và cuộc cách mạng kỹ nghệ đó làm thay đổi cục diện thế giới, cùng lúc làm thay đổi lịch sử nước Việt.
Khi Pháp tấn công Nam Kỳ thì triều đình hoàn toàn không có đủ năng lực quân sự và chiến lược quốc phòng để đối phó. Những võ tướng uy tín trong triều như Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản (cũng gốc người Minh Hương) dù thừa khí phách của nho gia nhưng không đủ tài thao lược quân sự để lãnh đạo cuộc chiến tranh chống xâm lược. Khi Pháp chiếm Sài Gòn thì súng ống và đạn dược của quan quân Triều đình có rất nhiều nhưng quân đội ô hợp không có khả năng chống trả quân xâm lăng. Hậu quả tất nhiên là đất nước đã mất vào tay thực dân.
Với Hoà Ước Nhâm Tuất 1862 và hoà ước Patenôtre 1884, công cuộc thống nhất đất nước của Gia Long được coi như cáo chung. Việt Nam bước qua trang sử mới, đó là trang sử nô lệ. Và sau 1000 năm giành được độc lập từ Trung Hoa thời Ngô Quyền, nước Đại Việt lại một lần nữa mất quyền tự chủ. Cái nhục mất nước, tụt hậu của dân tộc Đại Việt ở thế kỷ 19 phát xuất từ nhiều yếu tố lịch sử khác nhau. Thế nhưng sự chọn lựa mô hình phát triển đất nước, sự ỷ dốc vào Thanh triều trên mặt trận ngoại giao và văn hoá thời kỳ hậu Gia Long, chính sách giao thương phụ thuộc kinh tế Trung Hoa và sự tin tưởng mù quáng vào giáo điều Thanh Nho bất chấp các bản điều trần yêu cầu canh tân của các sĩ phu tiến bộ, là những yếu tố quyết định đưa đất nước vào giai đoạn nô lệ.
Ngày nay, nếu thay giao điều Thanh Nho bằng giáo điều Cộng sản, thì tình trạng Việt Nam gần như tương tự. (Source: Tuần san Trẻ Dallas, Texas, Hoa Kỳ)
(ii)Ts Nguyễn Văn Tuấn: Thời đại nào là rực rỡ nhất trong lịch sử Dân tộc?
Nếu được hỏi thời đại hay triều đại nào là huy hoàng nhất trong lịch sử dân tộc, bạn sẽ trả lời ra sao? Trả lời câu hỏi này hơi khó, vì đòi hỏi kiến thức lịch sử tốt và đánh giá khách quan. Thế nhưng đối với ngài Tổng Trọng thì câu trả lời đã dứt khoát: Thời đại Hồ Chí Minh.
Trong bài diễn văn kỉ niệm 125 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngài tổng bí thư nói “Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam,” rồi hình như chưa đủ, nên ngài thêm: “là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội” (1). Ông giải thích rằng sở dĩ thời đại HCM là vàng son nhất vì VN từ một nước thuộc địa trở thành độc lập, tự do; vì phát triển theo xã hội chủ nghĩa; vì nhân dân từ nô lệ thành người làm chủ đất nước; vân vân.
Cố nhiên, đó là nhận xét và quan điểm của ngài. Có người đồng tình, nhưng tôi nghĩ số người không đồng tình chắc cũng ngang ngửa thậm chí cao hơn số người đồng ý. Những người không đồng tình chắc chắn xem xét đến những sự thật sau đây trong cách nhìn của họ:
Có ai dám chắc là nước ta đã độc lập, khi khái niệm này còn rất mơ hồ. Trong thực tế, VN lệ thuộc vào Tàu một cách đáng sợ về kinh tế và chính trị. Nước ta vẫn theo cái chủ nghĩa đã hết sức sống, mà chỉ cần đọc cái tên của chủ nghĩa đó là làm thế giới nhăn mặt. Khi mà người dân chưa được quyền đi bầu để chọn người xứng đáng thay mặt mình quản lí đất nước thì rất khó nói rằng người dân đã thật sự làm chủ đất nước.
Còn tự do thì chắc chắn nhiều người không đồng ý. Các tổ chức thế giới xếp VN vào những nước có hạn chế tự do báo chí nhất thế giới. Các nước cứ liên tục nhắc nhở VN nên tôn trọng quyền con người của công dân. Còn về kinh tế, cho đến nay, VN vẫn là một trong những nước nghèo trên thế giới, và đang bị rớt vào cái bẫy thu nhập trung bình. Chẳng những nghèo, mà khoảng cách giữa người giàu và nghèo càng gia tăng. Người dân hiện đang gánh trên vai hàng trăm loại thuế và chi phí, khổ hơn cả thời VN còn là thuộc địa của Pháp. Một vị thiếu tướng QĐND mới đây phát biểu rằng “Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa” (2).
Vị thế của VN vẫn còn rất thấp. Người VN cầm hộ chiếu VN ra nước ngoài không được chào đón thân thiện như người Nhật, Singapore, Hàn, Thái, Mã Lai, v.v. Hiện nay, VN đứng hạng 81 về hộ chiếu được chấp nhận trên thế giới, tức miễn visa, và thứ hạng này còn thấp hơn cả Lào (hạng 80) và Campuchea (hạng 79). VN đang ở thế bất lợi trên trường quốc tế và không được cộng đồng quốc tế kính trọng. Ngay cả nước láng giếng nhỏ là Kampuchea đã bắt đầu khinh thường và lên lớp VN! VN còn bị xếp hạng vào nước bủn xỉn nhất nhì trên thế giới, chỉ biết ăn xin mà chẳng giúp ai. Và, người ta khinh VN ra mặt. Mới đây thôi, một viên chức Nhật Bản đặt câu hỏi trước báo chí VN [mà có thể hiểu nôm na] rằng “các anh còn ăn xin đến bao giờ nữa”? Viên chức này còn lên giọng mắng VN như mắng con: “Nếu có vụ tham nhũng nữa, Nhật sẽ ngưng viện trợ ODA cho VN”. Bất quá tam. Là người Việt Nam có tự trọng ai cũng cảm thấy nhục trước lời mắng mỏ đó.
Rất khó nói là thời đại huy hoàng khi mà đất nước đã bị mất mát về biển đảo cho giặc Tàu mà ngài xem là “anh em đồng chí”. Ngài cũng không nhắc đến những mất mát trên đất liền cũng cho cái đất nước mà một số người Việt ngọt ngào gọi là “đồng chí”, là “bạn”.
Ngài Tổng không nói đến một thực tế rằng chưa có thời đại nào trong lịch sử dân tộc mà hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi, và hàng trăm ngàn người chết trên biển cả và rừng sâu trên đường tìm tự do. Đó là chưa nói đến hơn 3 triệu người bỏ mạng trong cuộc chiến huynh đệ mà đến nay vẫn chưa được đặt tên.Chưa có thời đại nào mà hàng trăm ngàn phụ nữ Việt Nam bỏ quê đi làm vợ cho ngoại nhân Hàn, Đài, Tàu như hiện nay. Cũng chưa có thời đại nào mà nhân phẩm của người phụ nữ VN bị rẻ rúng và nhục nhã như hiện nay, được quảng cáo trên báo chí quốc tế như là những món hàng. Những sự thật trần trụi và gần gũi đó (vẫn chưa đủ) cho thấy chúng ta khó có lí do để tự tuyên bố rằng thời đại HCM là rực rỡ nhất trong lịch sử Dân tộc.
Vậy thì câu hỏi là thời đại nào đáng tự hào và huy hoàng nhất? Thoạt đầu, tôi nghĩ ngay đến triều đại Nhà Lý, nhưng nghĩ đi nghĩ lại tôi thấy triều đại Trần Nhân Tông mới là huy hoàng nhất. Ông là một vị vua anh hùng, vì đánh thắng quân Tàu và bảo vệ đất nước. Ông là một vị vua nhân từ, không trả thù giặc và đối xử đàng hoàng với đối phương trong nước. Ông là người có công chấn hưng Phật giáo và xiển dương văn học. Quan trọng hơn hết, ông là người xây dựng một nước Việt cường thịnh và bảo vệ sự vẹn toàn của tổ quốc. Ông còn nổi tiếng với câu nói “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta muốn lời nhắn nhủ này như một di chúc cho con cháu muôn đời sau.” Rất tiếc là ngày nay trong những người cầm quyền có còn mấy ai nhớ đến lời căn dặn của vua Trần Nhân Tông.
(1) Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại kỷ niệm sinh nhật Bác (VOV). / (2) “Cưỡi lên đầu nhân dân còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản…!?” (DT).
(iii) Nguyễn Xuân Nghĩa: Trung quốc mạnh hay yếu?
Khi theo dõi tình hình Trung Quốc, người ta thấy một nghịch lý. Từ vài năm nay, giới kinh tế bắt đầu nói đến nỗi khó khăn của lãnh đạo kinh tế Trung Quốc sau giai đoạn tăng trưởng huy hoàng là bình quân 9% một năm trong 34 năm liên tục và nay đến lúc phải cải cách để khỏi rơi vào cái bẫy xập của một nước có lợi tức trung bình. Nhưng ngược lại, nhiều nhà nghiên cứu về chiến lược thì nêu vấn đề về sức bành trướng cả thương mại lẫn quân sự của Bắc Kinh khiến các lân bang đều lo ngại. Như vậy thì Trung Quốc mạnh hay yếu? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu chuyện này qua phần trao đổi của Nguyên Lam với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa....
Trích:
Nguyên Lam: Thưa ông, khi nhắc đến yếu tố lịch sử gần xa thì ta có thể nhớ tới biến cố 2008-2009 rất gần đây là khi kinh tế thế giới bị suy trầm, xuất cảng của Trung Quốc sút giảm thì Bắc Kinh bơm tiền kích thích để vẫn duy trì đà sản xuất cũ. Việc bơm tiền qua ngả tín dụng, chủ yếu là qua hệ thống ngân hàng của nhà nước, đã đẩy kinh tế vượt qua Nhật Bản năm 2010, do đó người ta mới có ấn tượng rằng Trung Quốc rất mạnh về kinh tế, nhưng phải chăng mặt trái cùa sức mạnh ấy là một núi nợ được ước lượng vào khoảng 282% của Tổng sản lượng xứ này?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta đều có thể hiểu thiên hạ vay tiền để đầu tư, khi thấy đầu tư có lời cao thì vay thêm để đầu cơ, là kiếm lời lớn hơn trong ngắn hạn nhưng với rủi ro cao hơn. Khi dàn máy bơm tiền lại thuộc về nhà nước, do tay chân nhà nước điều tiết theo diện chính sách mà bất chấp quy luật thị trường thì đằng sau nạn đầu cơ chỉ là "lạm dụng tín dụng". Tức là tay chân nhà nước và thân tộc mở canh bạc theo kiểu tháp ảo làm kinh tế bốc như trái bóng bay, hay bọt xà bông. Ngày nay, nạn đầu cơ địa ốc thổi giá đất đai của nhiều tỉnh thành Trung Quốc chả khác gì Nhật Bản trước khi Nhật bị bể bóng năm 1990 và trôi vào hai chục năm suy trầm. Ở bên dưới trái bóng Trung Quốc là bộ máy sản xuất dư dôi ế ẩm, chưa sử dụng hết 60% công xuất, nằm bên núi nợ xấu sẽ sụp khi bóng bể. Lãnh đạo Bắc Kinh có hiểu ra mối nguy ấy nên muốn tránh và tìm cách dồn sức đầu tư ra ngoài. Các dự án họ trù tính thực hiện ở nơi khác nằm trong chiều hướng phân mỏng rủi ro mà gia tăng thế lực trong khi vẫn muốn nắm dao đằng chuôi.
Nguyên Lam: Có lẽ hiểu ra mối nguy ấy nên thế hệ thứ năm lên lãnh đạo sau Đại hội 18 vào cuối năm 2012 quyết định chuyển hướng. Một năm sau, Tháng 11 năm 2013, Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ ba của khóa 18 đề ra phương hướng cải cách và chấp nhận một đà tăng trưởng thấp hơn. Thay vì 9-10% thì quãng 7,5% cũng là được. Có thể là Bắc Kinh biết rằng phải giảm tốc độ cho cỗ xe khỏi lật khi vào khúc quanh. Nhưng vì sao mà ngày nay họ vẫn đề ra chỉ tiêu tăng trưởng là hơn 7% một năm trong khi giới quan sát kinh tế hay các định chế tài chính quốc tế đều cho rằng Trung Quốc khó đạt mức tăng trưởng như vậy và nếu không khéo thì kinh tế sẽ hạ cánh nặng nề chứ không nhẹ nhàng như lãnh đạo Bắc Kinh mong muốn?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Bắc Kinh tính cải cách với ý thức cao về chính trị và có chuẩn bị về tổ chức. Nhưng sau 30 năm thì phép lạ kinh tế cũng sinh ra nhiều bệnh lạ. Hệ thống tài chánh ngân hàng Trung Quốc có nhiều lệch lạc tích lũy từ lâu, kết tụ thành mạng lưới chằng chịt ở mọi cấp hành chính, từ trung ương tới từng địa phương, với thế lực rất lớn của các đảng viên. Những mắc mứu về quyền lợi, trong đó nạn nhũng lạm, tức là tham nhũng và lạm dụng, không chỉ cản trở mà còn phá hoại chỉ thị của trung ương. Việc bơm tiền hay phân phối tài nguyên qua nhiều ngả mờ ám như ngân hàng chui vẫn tiếp tục chất lên một núi nợ mà chúng ta trình bày trong một kỳ trước. Vì vậy, lãnh đạo xứ này phải tập trung lại quyền lực về trung ương qua chiến dịch diệt trừ tham nhũng và vận động hậu thuẫn của quần chúng lẫn quân đội bằng những động thái mang tính chất bành trướng đối với các nước lân bang.
Nguyên Lam: Theo cách đánh giá của ông thì phải chăng việc Bắc Kinh xây đảo nhân tạo tại vùng biển Đông Nam Á và công bố Sách Trắng về Quốc Phòng cũng còn có chủ đích trấn an hay tranh thủ dư luận ở ngay bên trong Trung Quốc?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi lãnh đạo Bắc Kinh nói đến yêu cầu chuyển hướng quân sự theo tinh thần gọi là “chủ động phòng thủ” thì khái niệm phòng thủ đó bao trùm lên chính trường nội địa! Khi các quốc gia khác báo động về mối nguy của Trung Quốc thì Bắc Kinh càng yên tâm rằng thần dân bên trong thêm hãnh diện về thế lực của quốc gia trên trường quốc tế mà bớt phàn nàn về chuyện kinh tế. Ngày nay, lãnh đạo Bắc Kinh lấy nhiều rủi ro về đối ngoại và gây vấn đề cho lân bang khiến các đề nghị hợp tác và xây dựng của họ trong kế hoạch Con Đường Tơ Lụa, họ gọi là “Nhất Đai Nhất Lộ” lại mất dần sự hấp dẫn về kinh tế khi cân nhắc với rủi ro về an ninh. Đấy cũng là khía cạnh khác về chuyện mạnh yếu của Trung Quốc khi ta đối chiếu với nỗ lực đầu tư và viện trợ tương tự của Nhật Bản tại Đông Á. Nhiều nước Đông Nam Á không sợ Nhật Bản mà e ngại Trung Quốc và đấy không là một thế mạnh của Bắc Kinh.
Nguyên Lam: Nếu tổng kết lại, thưa ông có phải Trung Quốc đang gặp nhiều vấn đề kinh tế ở bên trong mà lãnh đạo muốn khỏa lấp bằng kế hoạch quy mô với bên ngoài và vì vậy lại gây cảm giác bất an cho các nước?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng về kinh tế, lãnh đạo Bắc Kinh cần đạp thắng để đổi hướng, rồi sợ tăng trưởng giảm làm thất nghiệp tăng và bị động loạn nên lại ngầm bơm tiền kích thích qua nhiều kênh mà họ biết là thiếu an toàn. Năm ngoái, họ thử nghiệm biện pháp bơm tiền tinh tế hơn, không qua ngả tín dụng ngân hàng đầy rủi ro mà qua việc ngân hàng trung ương mua lại trái phiếu của một số khu vực nhất định, như công khố phiếu ở các địa phương miền Tây, miền Trung, hay trái phiếu hỏa xa, gia cư hay ngân hàng. Năm nay thì họ vừa cho phép đảo nợ tại một số tỉnh, tức là cũng thi hành biện pháp bất thường các nước Tây phương đã áp dụng, là "quantitative easing", là tăng mức lưu hoạt có định lượng. Đâm ra Trung Quốc chưa thể hãm đà tăng trưởng để tìm ra thế quân bình bền vững hơn, với tiêu thụ nội địa mới là lực đẩy.
- Vì chưa thể cải cách được, lãnh đạo Bắc Kinh phô diễn sức mạnh quân sự với bên ngoài và nghĩ là vì các nước e ngại rủi ro đụng độ nên sẽ nhượng bộ yêu sách của họ. Chúng ta có thể gọi đó là “Hội chứng Vương An Thạch” là khi Tể tướng nhà Tống là Vương An Thạch tiến hành việc cải cách mà thời đó gọi là “biến pháp”. Vì sự cưỡng chống của phe bảo thủ bên trong, họ Vương đi tìm thắng lợi quân sự ở bên ngoài qua quyết định tấn công Việt Nam vào năm 1075. Nào ngờ quân Tống đại bại dưới tay Thái úy Lý Thường Kiệt, Vương An Thạch mất chức và chuyện biến pháp cũng thành nước lã ra sông. Việt Nam ngày nay không được như đời Lý ngày xưa nhưng thế giới ngày nay không chỉ có Trung Quốc với Việt Nam - và rủi ro cho Trung Quốc là chuyện có thật vì họ chưa hùng mà đã đòi hung.
Nguyên Lam: Xin cảm tạ ông Nghĩa về bài phỏng vấn lý thú này. (RFA)
(2) Chuyện thường ngày ở Huyện
(i) Ns Tuấn Khanh: Ngồi nhớ ân cần
Buổi sáng nọ, nơi góc đổ rác chung của cả khu nhà tự dưng xuất hiện một đôi giày cũ còn khá tốt. Giày được đặt trong một cái hộp với tờ giấy ghi chú, nét chữ nắn nót "đồ còn tốt, ai cần xin cứ tự nhiên". Ở mấy nước tư bản giãy chết, việc đem bỏ đi đồ dùng còn xài tốt không lạ, nhưng cách nhường lại cho người khác sử dụng với tất cả sự ân cần là một cung cách đáng ngưỡng mộ. Đôi giày cũ khi đặt vào hộp, gửi tặng mơ hồ vào cõi nhân gian, được chủ nhân ân cần đi đánh xi lại, mới và đẹp, ai nhìn cũng thú vị. Vậy mà mấy ngày sau mới có anh Mễ làm nghề đổ rác đến lấy, rồi để lại chữ "cám ơn". Đôi giày nằm liên tục mấy ngày, vì những người trong khu nhà không ai muốn giành lấy phần của người có thể khó khăn hơn mình.
Thỉnh thoảng thấy trong đời có sự ân cần làm lay động, lại chợt nhớ Sài Gòn với tất cả không gian từng rất ân cần của nó, một không gian mà giờ đây nhắc lại như một thứ của quý đang mất dần, phai dần, dư niệm của nhiều thế hệ. Sài Gòn ân cần trong trí nhớ đơn giản lạ. Đôi khi chỉ là chuyện người qua đường trú mưa được chủ nhà mời vào ngồi vì sợ kẻ lạ bị ướt. Đôi khi vì một thùng trà đá để trước cửa để giúp bá tánh lỡ đường giải khát trưa hè. Có đi đến tận những thành phố, hỏi đường đi bị tính tiền, mới biết Sài Gòn đã từng ân cần thế nào. Sài Gòn ân cần và vô tư đến mức từng thấy người say nắng ngất xỉu bên đường, không ai biết ai cứ xúm vô cạo gió, lấy thuốc cho uống để giúp khách qua đường có sức đi tiếp.
Mới hôm rồi, may mắn đọc được một câu chuyện của người Sài Gòn mà lòng mát dịu. Lại thấy thương người đất miền Nam không quen nói trôi chữ, chỉ có tấm lòng. Một anh trên facebook kể rằng anh đi làm thêm kiếm tiền đi học, chạy bàn rửa chén cho một đôi vợ chồng ở Sài Gòn. Một hôm lỡ tay làm bể hết nguyên chồng tô dĩa, anh lính quýnh không biết làm sao thì bất chợt bà chủ chạy vô nhìn thấy. Bà sững người, chưa kịp la đã dặn "nếu chồng cô có xuống thấy thì nói tại cô làm bể, chứ không ổng chửi chết". Vừa quay lưng thì ông chủ chạy từ trên lầu xuống, nhìn đống tô dĩa nát bấy mà thất thần, rồi dặn "nếu vợ chú vô hỏi, thì nói chú làm bể nghe, chứ không bả chửi chết". Người làm công đó mang kỷ niệm ngọt ngào và xúc động đó kể lại trên nhật ký của mình, làm không biết bao người đọc rưng rưng, trìu mến.
Sự ân cần là cách mà con người thấu hiểu đời sống, đối đãi bằng lòng chân thành của mình. Bước đi vài dặm trong một đất nước, có thể thấy sự ân cần cho con người đang ở mức nào. Việt Nam hôm nay có những thành phố lớn hơn, con người cao sang hơn, đại lộ đi bộ to rộng hơn… nhưng sự xua đuổi người nghèo khó cũng quyết liệt hơn. Sự ân cần như chỉ còn trú ngụ loanh quanh với giai cấp dưới, ở những thị dân ít học được thói cao sang. Nhiều cao ốc được dựng lên, nhưng không mấy cái có lối đi của người khuyết tật. Nhà vệ sinh công cộng phải xây đắt tiền như tượng đài, nhưng hầu như không có cái nào dành cho phụ nữ có thai hay cho người già yếu. Trong sự rực rỡ của đất nước này hôm nay, đã nhàn nhạt ân cần của người với người. Sự chói lọi chỉ số phát triển vẫn kèm theo khoảng tối đen mù lòa sau lưng nó.
Thường dân hay bọn con buôn lạnh nhạt ân cần trong đời thì đã đành, đến phận Tỳ kheo cũng la liếm vuốt ve thế tục, mất cả ân cần với thế nhân thì chúng sinh chỉ còn biết thở dài. Nghe lời ông Thích Thanh Quyết, đại biểu quốc hội, ngợi ca các mức oan khiên trong xã hội là "hợp lý" đã lắm chối tai, lại còn nghe ông nhấn mạnh sao không ca ngợi các cơ quan điều tra tố tụng đã kiểm soát giỏi mức oan sai "hợp lý" này.
Uống một ly nước, Đức Phật còn dạy rằng đừng quên có đến 84.000 sinh linh trong ly nước đó đã phải hy sinh cho người đời thụ hưởng. Và dù những sinh linh đó nhỏ bé vô hình đến mức nào, lời Phật dạy cũng chưa bao giờ cho rằng "hợp lý". Lẽ nào mũ ni của ông Quyết đã kéo quá sâu vào thế tục, che kín tai để không còn nghe được tiếng khóc ngất của cha mẹ già và của tử tù Hồ Duy Hải (1985), hay lời trăn trối của cả gia đình tù nhân Nguyễn Văn Tràng (1988) xin được tự thiêu để tòa án phải công tâm xét lại, minh oan. Sự ân cần với từng chúng sinh là tâm đức không thể thiếu với đệ tử của Phật, bằng không chỉ đáng gọi là kẻ giả danh, mua bán niềm tin.
Sự ân cần hôm nay cũng có thể được nhìn thấy, nhưng là thứ chiêng trống mua vui lạ lẫm. Tỉnh Vĩnh Phúc hôm nay "ân cần" bỏ ra 300 tỉ đồng để xây một khu Văn miếu thờ và tôn vinh Khổng Tử bằng tiền thuế của nhân dân - như tiền nhà của lũ quan lại. Khổng tử chỉ có thể mang trái tim kẻ ác mới đành lòng bệ vệ xưng danh nơi mà cả vùng có đến gần 12.000 gia đình nghèo khốn khó. Thậm chí chỉ có 24% trong số 14.000 gia đình thuộc loại chính sách của chế độ là có được nước sạch để dùng. Cả tỉnh cũng có gần 20.000 gia đình không có nhà vệ sinh tiêu chuẩn và nước sạch để sinh hoạt. Vậy mà sự ân cần thì được dâng cho tượng gỗ và bộ mặt trơ cứng của chính quyền. Còn nhân dân thì chỉ được quyền xao xác lặng im nghe diễn văn.
Chợt nhớ Sài Gòn ghê. Nhớ Sài Gòn qua tiếng rao bán xôi giản dị của bà cụ đội khăn đi bộ từ quận 8 tới tận quận 5, với những gói xôi bán chỉ 5000 đồng, mắt lạc thần khi thấy bóng dân phòng. Nhớ ánh mắt bà hấp háy cười, hỏi có muốn cho thêm đường không, có vừa miệng không. Trái tim ân cần đó, đáng để xây cả miếu đền để thương nhớ và tôn vinh những con người cần lao đất Việt, mà chẳng cần phải tìm kiếm, cống nạp xa xôi.
(Theo RFA, 10/06/2015 - TuanKhanh's blog)
(ii) Vũ Thống Nhất: Mobifone thông báo tới Trung Quốc khi vẫn ở thác Bản Giốc
Chúng tôi có mặt tại thác Bản Giốc (xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, Cao Bằng), cạnh đó là dòng sông Quây Sơn, đường biên giới tự nhiên giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc.
Hôm đó có hàng trăm người đến tham quan, chiêm ngưỡng vẻ đẹp hùng vĩ, nên thơ của Bản Giốc, tài sản cha ông hàng ngàn đời truyền lại cho cháu con nước Việt. Cũng hôm đó, rất nhiều người dùng mạng MobiFone đã bị sốc.
Chỉ mấy phút sau khi đặt chân đến bến xe Bản Giốc (cách thác Bản Giốc khoảng 1km) người viết bài này nhận được tin nhắn nguyên văn như sau: “Mobifone – VN. Mobifone chao mung Quy khach đa đen Trung Quoc. Quy khach co the chon mang China Unicom, de su dung dong thoi cac dich vu: thoai, sms, data. Chi tiet vui long lien he +84904 144 144 (tinh cuoc nhu goi ve VN)”.
Nhiều người khác cũng nhận được dòng tin nhắn với nội dung như vậy trên ĐTDĐ của mình. Rất nhiều người bức xúc, bàn luận trước sự kiện này, nhất là những cựu chiến binh trong đoàn khách tham quan.
Bấm điện thoại tới số được chỉ dẫn liên hệ (+84904 144 144). Đầu dây là một giọng nữ. “Chị vui lòng cho biết giá cước được tính cụ thể như thế nào?”, tôi hỏi. “Thì vẫn tính cước gọi nội mạng 1.180 đồng/phút, gọi liên mạng 1.380 đồng/phút. Gọi vào giờ rỗi, từ 23 giờ đến 5 giờ hôm sau được khuyến mãi 50%…”. “Xin cám ơn. Tôi đang liên hệ với Mobifone Việt Nam phải không ạ?”, tôi hỏi tiếp. “Đúng. Đây là đường dây nóng của Mobifone Việt Nam”, vẫn giọng nữ ấy. Quái lạ… MobiFone? Cột mốc chủ quyền 836 (phía Việt Nam) được tôn cao, ốp đá vẫn sừng sững sát bờ Quây Sơn.
Tin nhắn, số điện thoại liên hệ có đúng là của MobiFone Việt Nam? Là “chiến tranh mạng”, bị hacker tấn công, chèn sóng?
Dù từ đâu đến, do ai thì cũng là điều không thể chấp nhận. MobiFone phải giải thích vấn đề này.
Còn người dân chỉ cần biết một điều, rất chắc chắn: Tôi đang đứng trên đất nước tôi, Việt Nam. (June 12 , SGGP)
(3) Bài Thơ cũ:
(i) Luân Hoán: Tưởng Vọng Hoàng Sa Đảo
tưởng dễ viết bài thơ thời sự
như thời luận chinh chiến bằng thơ
lòng không trơ, đầu không trống rỗng
sao để yên trang giấy nằm chờ
          hôm nay gió lớn như là bão
          cả tuyết lẫn mưa cùng hoành hành
          ngồi trong phòng ấm nghe sóng biển
          từ đại dương xa gọi thất thanh
trước mặt lù lù trăm đảo mọc
xanh xanh cây lá thở thong dong
vô tư ngàn loại chim đua hót
trời biển chờ nghe những tiếng lòng
          ta đã ghé chưa ghềnh đá dựng
          đời đời sóng vỗ ấm quanh lưng
          Đảo Cây, Đá Bắc, Linh Côn...đợi
          tiếc một thời qua, đã lừng khừng
còn dịp nào lên hòn Hữu Nhật
trình diện cùng ông Quảng Ngãi ra
đo vẽ chi li từng tất đất
ngấm xương máu Việt mà trổ hoa
          còn dịp nào lên hòn Quang Ảnh
          cao nhất Nguyệt Thiềm hóng gió khơi
          thả bộ giáp vòng hình bầu dục
          vớt san hô làm báu vật tạ trời
còn dịp nào lên hòn An Vĩnh
tưởng về Vạn Lý Hoàng Sa Châu
Nguyễn triều một thuở trang trọng giữ
từng trái mù u cũng nhiệm mầu
          còn dịp nào lên hòn Duy Mộng
          đất không cây mọc, xếp chân ngồi
          con đò ai rẽ vào lạch nhỏ
          chở nặng lòng ghe tiếng chim trờ
còn dịp nào lên hòn Bạch Quỷ
bảy chìm ba nổi đá, san hô
thủy triều rút xuống bao lâu nhỉ
có kịp chớm vừa một ý thơ
          còn dịp nào lên Quang Hòa đảo
          đông tây địa chất khác biệt nhau
          chim muông thảo mộc tùy phương thổ
          lộng lẫy tồn sinh những sắc màu
còn dịp nào lên Tri Tôn đảo
thấp đủ thòng chân chạm nước sâu
hải sâm chao cánh ba ba lội
ai phủ san hô lộng lẫy màu
           còn dịp nào lên Phú Lâm đảo
           ngóng về Đà Nẵng gọi không không
           tiếng tình vượt mấy trăm cây số
          để nhắc chừng người nhớ núi sông
còn dịp nào lên hòn đảo chính
Hoàng Sa, da thịt của quê cha
ba mươi cây số vuông lồi lõm
thơm ngát hơi người lính Quốc gia
          ta sẽ vào ngay Đài khí tượng
          báo tin thời tiết thẳng về em
          biển lặng, trời xanh hằng chờ đợi
          công bình, lẽ phải cùng trái tim
chợt thả tầm nhìn về phương bắc
lập lòe chớp tắt ngọn hải đăng
mười hai hải lý còn trông rõ
hướng-về-quê-mẹ sáng như trăng
          chẳng nhắc làm gì ta cũng ghé
          Miếu Bà thời Minh Mạng lập bia
          hãy nhìn thẳng góc tây-nam-đảo
          thấp thoáng hồn ta đứng chầu rì
và lẽ dĩ nhiên ta quì gối
sờ lên mặt chữ đã bao năm
chủ quyền bia đá không là đá
là máu Việt Nam sống thâm trầm
          ta sẽ nhìn sâu những bãi ngầm
          ngâm thân trong biển đã bao năm
          bàn chân của đảo ngàn năm ấy
          sẽ bước về đâu theo tháng năm
ta sẽ trèo từng mỏm đá cao
hai bàn tay bám gió hư vô
nghe hương, phân loại đàn chim đậu
xem chúng định cư từ thuở nào
           bỗng chợt lạnh mình, ai thở ra ?
           hồn anh hạm trưởng Ngụy Văn Thà
           cùng bao đồng đội theo về đất
           mộ nước vỗ hoài sóng xót xa
chiến sĩ, anh hùng nối tiếp nhau
máu xương chẳng mai một về đâu
tình yêu tổ quốc không cần học
vẫn dậy từ tâm rất nhiệm mầu
           chợt giận, chợt thương, chợt hổ ngươi
           câu thơ chợt lấm những ngậm ngùi
           ai lần hồi bán từng hạt cát
          để sống không ra một kiếp người

.........................................................................................................................................
Kính,
NNS

Không có nhận xét nào: