Người ta, ai cũng có đi qua một thời quá khứ để đẽo khắc thành hình hài một chuổi dài kỷ niệm. Vui, buồn lẫn lộn trong từng chặng đường đó lưu vết đậm đà trong tâm khảm ta, có khi niềm vui tràn ngập mênh mông mà cũng có lúc nặng nề, chua cay dàn trải nỗi đau vô cùng! Có gì đi nữa, ngày tháng cũ đó đã đi qua, hồi tưởng lại chỉ là ký ức mất mát nhiều sự thể phù phiếm thời bấy giờ để bây giờ chắt chiu còn lại sự đời gắn bó thủy chung, khắc cốt ghi tâm không bao giờ tàn phai có khi đi hết cuộc đời một người. Ai ở tù những người Cộng sản mà không hãi hùng những hồi kẻng báo động nơi thâm sơn cùng cốc ngút trời u u minh minh mà không nghe đâu đây như bóng ma lởn vởn!?
<!>
Ai đã một thời đời người học sinh thi đậu mà không thênh thang nụ cười hoa với mộng vời vợi mây trời bao la hạnh phúc!? Tôi “học tập cải tạo” 6 năm ngoài Bắc, 3 năm trong Nam kể từ tháng 6 năm 1975, tính ra đã 36 năm 4 tháng rồi mà, đêm ngủ còn bị tiếng kẻng “lao động là vinh quang”, tiếng kẻng “kiểm tra đột xuất”, tiếng kẻng “đóng chuồng” đi ngủ và “mở chuồng” thức dậy, tiếng kẻng lảnh “bo bo”, “sắn dui” ăn chờ chết đói... mà giật mình sợ những ngày tháng “tù tập trung cải tạo”.
Năm 1964 thi đậu Tú tài 1, có ai mừng hơn tôi vì mới năm trước,có ai buồn hơn tôi, chỉ thiếu ¼ điểm mà mất “Chứng chỉ Tú Tài phần thứ Nhứt” và con bồ trẻ măng lớp đệ Ngũ chia tay không nói một lời! Năm 1968, lấy cô nữ sinh Bắc kỳ hoa khôi trường Văn Hiến làm vợ, ai ngút trời hạnh phúc hơn tôi? Năm 1983, đương ở tù ngoài Vĩnh phú, “cô nữ sinh Bắc kỳ hoa khôi trường Văn Hiến” đã đi lấy chồng mới, ai chất ngất nỗi đau nghìn trùng như tôi!? Tất cả, tất cả đã như bóng mây thời dĩ vãng trôi về đâu tận cùng trái đất từ lâu lắm rồi nhưng vẫn còn lãng đãng đâu đây bóng dáng thuở nào làm sao mà quên đi cho được tấm lòng chờn chợ mối nhân duyên nỗi niềm cố cựu!?
Ðẻ ra ở Huế, lớn lên và sống cả đời người ở Phan thiết, rồi rày đây mai đó Sài gòn, Nha trang, Ðà nẳng, Quảng ngãi, Quảng đức, Biên hòa, Yên bái, Lào cai, Hoàng liên Sơn, Vĩnh phú, Thanh hóa, Bình tuy... đến hơn 50 tuổi mới xa Việt nam. 50 năm trường là dòng đời biết bao chuyển đổi, biến thiên, để ta hôm nay sắp tròn 70 ngồi đây xứ người ôm kỷ niệm bao la mà nghẹn ngào, ngậm ngùi “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo” buồn cho kiếp người “Nhân sinh bất mãn bách thường hoài thiên tuế ưu”. Kiếp người sống không hết trăm năm, cứ ôm ấp nỗi ưu phiền ngàn năm. Tại làm sao? Tại vì như Blaise Pascal đã nói “Le cœur a ses raisons, que la raison ne connaît point”. Con tim có lý lẻ riêng của nó mà lý trí không hiểu được”.
Ngày 25 tháng 3 năm 2011, sau cả 20 năm lưu lạc giang hồ xứ người, tôi về lại Việt nam, tưởng sẽ gặp lại người xưa, cảnh cũ mà thương biết chừng nào. Nhưng người xưa, hoặc đã chết rục xương từ đời nào rồi hoặc đã bỏ xứ đi đâu biền biệt kiếp giang hồ, có ai biết!? May lắm lác đác còn lại vài thằng thì sống đời lê lết cháo rau, ngồi “gãi háng dái lăn tăn” chửi “đời chó đẻ”! Còn cảnh cũ!? Cảnh cũ đâu còn vết tích! Những con đường, phố phường, chợ búa, bến xe, trường học... như ai đó đã bứng nó đi đâu mất rồi mà trồng lại những cảnh quan xô bồ, ơ hờ,vô cảm! Tôi không tìm đâu ra những con hẽm nhỏ tình yêu ngút trời hồi nào ở ấp Ðông ba trên đường Chi lăng Phú nhuận hay của con đường Trần quang Khải vào trường Văn Hiến, hoặc lờ mờ heo hút con đường Trần hoàng Quân, Chợ lớn... những đêm đưa bạn gái về. Nhớ trường cũ, trường Trung học công lập Chu văn An thời xa lắc xa lơ, tôi thẩn thờ dọc theo đường Minh Mạng, biết bao nhiêu kỷ niệm ngày xưa học trò mà nay đã bị giựt tên, đổi thành Ngô gia Tự. Bặt vô âm tín tụi thằng Sử, Thắng, Ý, Phát... và cô gái Tàu “nị hữu leng” bán nước rau má góc Triệu Ðà.
Trường bây giờ còn đó âm u, im ĩm như nhà tù mang cái tên nghe sao u uất, nặng nề Trung tâm Giáo dục Thường xuyên Chu văn An” và trước đó là trường Huấn nghệ Phổ thông Lao động, thằng cháu nói như vậy. Bên kia đường, công viên Văn lang, ngôi Nhà thờ, ghế đá, tiếng ve sầu... làm sao tôi quên được. Năm đó 1965 các cô nữ sinh trường Trung học Thủ thừa của Long an cả gan lên Sài gòn, dám vào Chu văn An mà bán Nội san Trung học Thủ thừa cho mấy thằng “nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò” Chu văn An để phải vừa la, vừa khóc, vừa chạy trốn không kịp. Các cô gái nhà quê đẹp thì có đẹp thật nhưng đi buôn đi bán mà không nghiên cứu thị trường, đáng thương mà cũng đáng đời. Ai đời thân gái nhà quê heo hút dặm trường mà dám vào chốn ba quân lẫy lừng kiêu binh.
Một ngày cuối tháng 4 năm 2011, đến “check” vé máy bay nơi hãng Asiana airlines của Ðại hàn trên đường Lê duẩn, cái tên Tổng bí thư “ăn hại, đái nát” làm tàn mạt đất nước và tang tóc đồng bào biết chừng nào! Ngày xưa vong quốc, con đường nầy thời Pháp mang tên rue Pigneau de Béhaine, một giáo sĩ “xếp” của vua Gia long mà dân Việt gọi tên Bá đa Lộc. Bá đa Lộc biến đi, thì tên Thống nhứt được thay vào cho tới ngày Việt cộng cưỡng chiếm. Con đường Thống nhứt nầy hồi đó mấy lần suýt bị mấy ông Cảnh sát bắt vì chen, lấn, xô, đẩy người ta để coi cho mãn nhãn ngày diễn binh. Con đường Thống nhứt nầy hồi đó làm những đứa “đạo dòng” chạy “dòng dòng” quanh Nhà thờ đức Bà đêm Noel không phải dự Thánh lễ hay đi coi Chúa sinh ra đời mà đi quậy mấy đứa con gái nhí nha nhí nhảnh để nghe chửi khoái lỗ tai mà cười hô hố.
Rồi sau 30 tháng 4 năm 1975, từ những năm 1990 đến 1992 rục rịch đi Mỹ, một số anh em “tù cải tạo” ở Phan thiết chúng tôi cũng ráng bò vô cái gọi là “Thành phố Hồ chí Minh” mà lê lết đến khu công viên ngợp bóng cây cao trước cái dinh đồ sộ, chứng tích lịch sử mấy thời hưng phế: dinh Thống đốc, dinh Toàn quyền, dinh Ðộc lập và bây giờ là Hội trường Thống nhất để “ngồi lê đôi mách” tán dốc chuyện ODP, HO mà thấy đời bớt quạnh hiu. Bởi trùng trùng người là người và xe gắn máy là xe gắn máy, cái trường học Ðại học Văn khoa của tôi trên đường Cường để ngày xưa dưới kia kìa đâu xa, cũng không “dám” đi tới mà coi nó có buồn nỗi buồn thời gian hưng phế!? Nói chi, ngay cái trường Luật “con đường Duy tân, cây dài bóng mát” kế bên trái đây nầy, hồi đó cứ vẩn vẩn vơ vơ mối nhân duyên mây khói, không lo vào giảng đường học mà lo môi ngậm Bastos và tay cầm ly cà phê đen đi lòng vòng trước vòng thành viện Ðại học Sài gòn hay tụm năm tụm ba nơi Công trường Chiến sĩ còn không đến coi được nữa là!...
Ở Sài gòn hơn 10 ngày cho vợ làm răng làm cỏ, mình như kẻ tù bị giam lỏng. Biết đi đâu bây giờ? Ngoài kia, một khi bước ra đường thì phải nón sắt bảo hiểm cái đầu nặng chình chịch và ngồi sau xe gắn máy, ôm cứng ngắc thằng cháu chạy luồn, lách, chen, lấn, lủi “tứ tung lung tàn”mà khiếp muốn nghẹt thở. Mà ở nhà thì làm gì bây giờ!? TV chiếu tới chiếu lui “thành quả Cách mạng” và ông lớn nầy nói tới nói lui, bà lớn nầy nói lui nói tới cà lăm cà cặp, lắp bắp y chang một cường điệu đặt điều, huyễn hoặc, hoang tưởng, khoác lác, đàng điếm. Báo chí thì hằng trăm, hằng ngàn tờ mà tờ nào tờ nấy rập y khuôn như một chỉ thị, mệnh lệnh của Ðảng, của Nhà nước, của mấy ông Tổng bí thư, Chủ tịch Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng... Mấy đứa cháu biết được mình nản quá, nói: “Mua mấy DVD Thúy nga, Asia mới ra cho chú xem đỡ buồn”. Paris by Night 102 nhạc yêu cầu Tình ca Lam Phương thì mua đâu cũng có. Chắc ông bà Tô văn Lai “được lòng” mấy ảnh, “làm lợi” cho mấy ảnh ở Việt nam nên bỏ ra 20 ngàn đồng tiền Việt nam là có thúng nầy, thúng kia “dễ ẹt”. Nhưng Asia kỷ niệm 36 năm viễn xứ Anh Bằng dòng nhạc Lưu vong thì mấy đứa cháu kêu tôi bằng chú và mấy đứa cháu kêu tôi bằng ông nội, ông ngoại, chạy mấy ngày mua cũng không ra. Có lẻ bởi lời mấy bài hát “Trường sa là máu của ta. Hoàng sa là thịt của ta. Ðất nước ta là xương máu ông cha để lại...” hay “Ai đã cấm dân hờn quân xâm lăng? Ai đã bắt quân vội đầu hàng? Ai cướp bút anh trên trang nhật báo, cướp trái tim tôi khi Việt nam thương đau? Vì tình yêu non sông, vì tình thương nòi giống vượt sóng đòi biển Ðông...” mà ông Anh Bằng thọc léc “nhột” mấy đồng chí đồng rận của ta quá sức chăng nên “ai bán, ai mua băng sao Asia mà bị bắt là đi “học tập cải tạo” mút mùa ngay như mấy ông “Ngụy quân”, “Ngụy quyền” sau 1975. Nhưng rồi, thằng cháu lái taxi rành đời giang hồ hơn, nói: “Ðể cháu”. Và 15 phút sau, nó đem về một một băng sao có khác gì băng thiệt Asia Entertainment Presents... có điều mắc hơn một chút, 35 ngàn đồng tiền Việt nam tức khoảng 1 đô la rưỡi.
Nói tới thằng cháu lái taxi nầy lại nhớ nó mới mấy tuổi thì cha bị đi “học tập cải tạo”, mẹ còn trẻ lại chết sớm, nhà đông anh em toàn con nít là con nít nên đói ăn dài dài làm cho nó thân xác ốm o, nhỏ chút xíu không lớn lên nổi, tính lại lừ đừ, lù đù, hiền khô. Ðời dạy nó phải lanh lợi lên cho có “điếm” một chút, cho có “xảo” một chút. Nó kể “Ði xe, mấy thằng Tây, thằng Tàu, thằng Ðại hàn... hỏi “Hao mất”. Mình cứ “quanh hăng rít”, “tu hăng rít” để cho có thằng đưa mình 100 đô la, 200 đô la. Mình đâu nói “quanh hăng rít táo dân”, “tu hăng rít táo dân” để nó trả 100 ngàn, 200 ngàn đồng tiền Việt nam”. “Những lần Tết, cháu bỏ vào bao thơ đỏ 5 ngàn đồng, 10 ngàn đồng tiền Việt nam để vừa “lì xì” cho tụi nó vừa nói “hép pi níu dia”, “gước lắc”. Thỉnh thoảng cũng gặp may, có thằng “lì xì” lại mình cả 100 đô la Mỹ mới tinh. Nhưng cũng thường gặp những thằng “cáo”, nhận bao thơ của mình bỏ ngay vào túi mà cười hì hì nói: “thánh kiu, thánh kiu”....
Ngồi hoài trong nhà vừa nóng, vừa chán lại tù túng, ngột ngạt quá sức, tôi đi ra ngoài. Con đường Trần nhân Tôn vẫn còn Trần nhân Tôn, tôi thẳng ra Ngô gia Tự. Trước mặt, cái rạp hát Vườn lài mà từ xưa từ xửa là Thành chung và sau là Mỹ đô nằm chình ình giữa ngả tư Vĩnh Viễn và Trần nhân Tôn. Cái rạp mà hồi đó ngày xưa, tôi chỉ bước ra có mấy bước là thấy, là đi ngang đi dọc hằng ngày nhưng chưa từng một lần vào xem chiếu phim thần thoại Ấn độ hay Cao bồi Hoa kỳ cũ rích, rẻ tiền. Quẹo phải qua Lý thái Tổ ngả Bảy, tôi cẩn thận chăm chăm từng bước một. Bụp một cái, thằng nhỏ nào nó giựt hụt cái đồng hồ Movado Thụy sĩ trên tay của tôi làm tôi còn chút nữa là té sấp ra trước và sẽ bị xe cán không chừng. Xe hằng hà sa số chiếc nườm nượp chạy muôn chiều, biết ai mà hô hoán!? Mà có gì mất mát đâu mà hô với hoán người ta!? Lấm lét, thậm thụt tìm đường “chẩu” về nhà cho mau.
Tôi vừa đi vừa nghĩ, mới nghiệm ra rằng, bây giờ đâu phải như xưa mà nhàn tản, nhởn nhơ như các bậc thi sĩ tiền bối Tự lực Văn đoàn đi tìm “yên sĩ phi lý thuần”. Thuở nào, đường Trần nhân Tôn, khúc giữa Trần hoàng Quân với Vĩnh Viễn ban đêm cũng như ban ngày vui lắm. Mấy ông đàn ông, mấy cậu con trai lạng quạng đi ngang qua đây hoặc cố ý đi tìm hoặc vì “lỡ” đường thì chắc chắn các em “nhện tinh tinh” ở đâu túa ra khắp đầy, giăng mồi ba cái chuyện lăng nhăng. Mấy anh con nhà lành hết hồn mà la ơi ới có khi cũng không chạy thoát đi đâu cho được. Mấy “khứa” đi tìm động “xã xui” thì cười cợt, kèo cò bớt một thêm hai ngoan ngoãn vào động Thiên thai. Hồi tôi mới tới Sài gòn với vài thằng bạn đi trên con đường cái quan nầy tối mò ánh điện, mấy chị em ta ào ra chèo kéo lia lịa, sợ quá, la om sòm, ba chưn bốn cẳng chạy không kịp thở. Ở lâu thì quen, nhìn nhau cười trừ, có khi còn được ủng hộ thắm thiết như tình “đồng chí” với “nữ hộ lý” của mấy anh chị bộ đội cháu ngoan bác Hồ.
Buồn buồn, bước mấy bước ra Sư Vạn Hạnh tìm cô Hoa bán cà phê ngày xưa thương “Ngụy” ghét “Cách mạng”, rất trẻ mà cũng rất đẹp, giọng Bắc kỳ 54 líu lo dễ thương chi lạ! Mình cũng có chút lòng xao xuyến và cổ chắc cũng có ít nhiều nỗi niềm bâng khuâng “tình trong như đã, mặt ngoài còn e”? Cô Hoa biền biệt nơi đâu không ai biết. Quán cà phê bây giờ là một căn nhà sang trọng của vợ chồng con cái nhà anh bộ đội Bác và Ðảng. Nghe kể rằng, “hồi đó tụi nó ba đời khố rách áo ôm từ Hà tĩnh bồng bế vào đây không có cái áo lành mà mặc, không có đôi dép mòn xuệch xoạc mà mang, có thể cả cơm độn khoai lang, khoai mì, bo bo... cũng không đủ lót dạ ngày 2 bữa”. Man mác buồn, tự nhiên mình lại thì thầm: “Khứ niên kim nhật thử môn trung. Nhân diện đào hoa tương ánh hồng. Nhân diện bất tri hà xứ khứ? Ðào hoa y cựu tiếu Ðông phong”. Quẹo trái ra ngả tư đường, con đường ngày xưa ông Tá Việt nam Cộng hòa Trần hoàng Quân, thời Ngô đình Diệm là Nhân vị và bây giờ tên ông Tướng Việt cộng Nguyễn chí Thanh. Bên kia thuở nào là trường Trung học Tư thục Giác ngộ sau đổi là Bồ đề Chợ lớn có các chú tiểu đạo Phật mặc áo dài lam và đầu trọc còn cái “vá”. Bên này là tiệm nước người Tàu không biết tên là gì, cứ gọi là tiệm Phương toàn vì có treo bảng quảng cáo nước cam vàng Phương toàn hiệu Con nai, chéo góc bên là building 4 từng Caritas Việt nam của Linh mục Nguyễn văn Thuận và đối diện là công viên Ðại hàn. Chu vi vòng tròn nầy, cái tiệm nước bình dân của anh ba Tàu lúc nào cũng như lúc nấy, muôn năm với cái áo thun trắng đã ngả màu nâu nhạt bỏ vào trong cái quần xà loỏng nhão nhẹt xuống tận đầu gối, cổ vắt cái khăn sọc rằn dài quàng sau ót lòng thòng ra đằng trước đẫm ướt mùi mồ hôi nách. Sáng nào y như sáng nấy, các bà gánh nước mướn, mấy ông đạp xích lô, chạy ba gác, các chị người ở đi chợ... vào quẵng một chưn lên ghế, một chưn dưới ghế, vội vội vàng vàng ngồi nửa trên nửa dưới, kêu lẹ một ly cà phê “xây chừng” nóng hổi với một cái “dầu cháo quẩy” dài thoòng hay cái “bánh tiêu” tròn như bánh xe đạp con nít mới lên 2, lên 3. Ly cà phê được đổ ra dĩa, các ổng bả vừa thổi vừa uống vừa móc ra điếu Capstan hay Ruby Queen cho vào môi phì phà làn khói trắng dài bay trong gió, đôi mắt lờ đờ, dật dờ mà người như hạnh phúc tràn lan, thênh thang và đủ thứ chuyện trên trời dưới đất om sòm. Trong đó, tôi được nghe kể rằng: “Dầu Cháo Quẩy là “dầu chiêng hai con quỷ” là vợ chồng Tần Cối, một quan đại thần của Tống cao Tông bên Tàu đã hại chết cha con Ðại tướng Nhạc Phi. Dân oán ghét, nắn 2 cục bột dài lăn dính vào nhau để làm biểu tượng hình hài ông bà Tần Cối, quăng vào trong chảo dầu sôi mà xử tội như Ngạ quỷ dưới Diêm cung. Còn “Bánh tiêu” là một loại bánh của người Tiều, người ta gọi là bánh tiều, đọc trại thành bánh tiêu”. Chứ bánh đó toàn hột mè không, có một hột tiêu nào đâu mà gọi là bánh tiêu, bánh hành, bánh ớt. Tôi ít khi “cà phê cà pháo” ban sáng ở đây nhưng thường chun vô với mấy thằng bạn ngoài Phan thiết vào Sài gòn ăn cơm thố, thịt bò xào cải Tiều, canh thịt heo nấu cải trắng pak choy, uống trà đá. Có điều, thỉnh thoảng tôi một mình vô chốn nầy gọi một ly cà phê đá để đó rồi ba chưn bốn cẳng chạy cho mau vào WC mà giải quyết cái bầu tâm sự đại tiện.
Ai có ra đằng sau nhà bếp tiệm nước của mấy anh Chệt thì mới thấy “dễ sợ” cái dơ bẩn của mấy ông Tàu. Nhưng có gì, cái WC tức là cái cầu tiêu ở đây có dơ đến chừng nào đi nữa, nó cũng sạch sẽ hơn nhà vệ sinh công cộng đối diện với ciné Hùng vương của bến xe Pétrus Ký mà có khi “kẹt” chúng tôi cũng phải “nhào dô” như thường. Người ta lấy 1 đồng, đưa cho 2 tờ giấy bồi, chỉ vào cái nhà xí trời đất ơi cứt là cứt tùm lum và nhặng và dòi và thúi không chịu nổi. Bây giờ quanh đây, nhà nhà cất lầu, người người ngược xuôi ghê hồn như ra trận, không tìm đâu ra hình hài năm tháng cũ một khu phố bình dân, bình dị mà người với người cứ gặp nhau hoài nơi tiệm nước không tên mà được gọi là tiệm nước Phương toàn. Một góc phố nhỏ nhoi yên bình ngày xưa không tìm đâu ra. Những con người xuềnh xoàng không có chút gì khá giả mà đời thanh thản vô tư hồi đó có những giây phút buổi sáng hạnh phúc bao la dường như đã chết từ thuở nào sau 30 tháng Tư năm 1975 rồi?
Thoáng thấy trước mặt, bên kia đường, 1 nhóm người ăn mặc lôi thôi, xuệch xoạc đang tụm năm tụm ba ngồi, đứng nơi cái băng đá, hình như đang chích choát cái gọi là xì ke ma túy một cách công khai. Ớn lạnh, tôi quay mặt đi. Từ phía chợ An đông tới, 2 đứa con trai trạc 13, 14 tuổi, ốm nhom, mình trần trùng trục với cái quần đùi không được lành lặn, chạy hết sức nhanh như cố thoát mấy mụ đàn bà vác dao chặt thịt đuổi ở đằng sau vừa rượt vừa la toáng “ăn cướp, ăn cướp”. Bỗng, phía đằng kia, con đường Nguyễn duy Dương, cũng gần khu chợ An đông ngày xưa, không biết bây giờ vẫn còn giữ hay đã đổi tên, người ta một đám đông bu quanh kín nghịt con đường tên ông tướng Việt cộng, chửi lộn, gây lộn, tôi nghe “Tụi nó đụng xe”, “Mấy thằng Công an đánh dân”. Ðã 40, 50 năm đi qua, thời đó chiến tranh, sao người dân Sài gòn ở đó vẫn sống thái bình, có những giây phút hạnh phúc, thanh thản một cuộc đời bình dị thong dong? Bây giờ tháng 4 năm 2011, đâu đây quanh quẩn cũng ở nơi chốn nầy, cái nghèo nàn, cái xô bồ, cái bất thường như luôn hăm he, đe dọa nỗi niềm riêng tư cái hạnh phúc thênh thang của bà con một thời có đó một thời qua đi không tìm lại được.
Hôm thằng cháu lái taxi Mai linh đưa ra bến xe về quê Phan thiết, tôi mới thấy, người dân Sài gòn như thể tuồn hết ra đường mà cản trở lưu thông. Con đường từ chung cư Ngô gia Tự đến bến xe Bình triệu mà “lết” mất 2 tiếng đồng hồ. Hồi đó, chúng tôi cọc cọc cạch cạch vừa đi vừa huýt gió trên chiếc xe đạp cà tàng cũng chỉ nửa giờ là cùng. Tiến bộ không theo kịp văn minh làm cho con người khốn khổ thêm. Bây giờ ngồi trên chiếc xe khách Sàigòn- Phan thiết của hảng Kumho Samco Express thấy dễ chịu biết mấy, lại có các người trẻ thanh niên gọn ghẽ, vui vẻ, lịch sự, niềm nở đón tiếp, giúp đỡ. Nhớ hồi mới “tù học tập cải tạo” ra năm 1984 đi bằng xe đò than mà giựt mình thất kinh! Xe thì cũ rích cũ rang mà chạy thì cà rịch cà tang muốn nằm giữa đường lúc nào thì cứ nằm, nhả ra từng cục từng cục than lửa đỏ ối phà vào người, trúng ai nấy chịu. Trong Nam, vậy là văn minh lắm rồi.
Thời đó, kiếm đỏ mắt ngoài Bắc mới có một chiếc “ô tô con”, ô tô cha mà đi xe đò. “Sắn” còn chưa đủ ăn. Quần áo có tiêu chuẩn. Ðời người tối tăm như ngọn đèn dầu leo lét quanh năm, trong nhà họ chưa bao giờ biết đèn điện là gì. Tôi đã đi qua Yên bái, Lào cai, Hoàng liên Sơn, Phú thọ, Thanh hóa... mới thấy rằng, hơn 30 năm cai trị chính sách “bần cố nông”, đảng Cộng sản Việt nam đã làm cho người dân Bắc kỳ đói khát, nghèo hèn, trơ xương, tàn tạ! Ai đời, mua vé xe vô ra Sàigòn- Phan thiết mà phải sắp hàng từ sáng tinh mơ đến trưa mấy lần đi về mới được một lần. Người bán vé chưa bán được một phần ba vé đã ầm lên rằng thì là “hết vé”. Người vô gia cư ăn vạ nằm nhờ nơi bến xe cứ cho mấy đứa nhỏ trần truồng ra giành chỗ kiếm tiền “bán chỗ đứng” hay cắc cớ để những cục gạch, cái thúng, chiếc chiếu, cái đòn gánh... mà “xí phần” để kiếm tiền người ta mua lại. Cái sự đời kỳ cục, dị hợm, ngợm nghĩnh nầy chỉ có ở cái gọi là Thiên đường Cộng sản hoang tưởng. Dẫu có thay bình quá tệ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam cho tốt hơn nhưng vẫn giữ rượu dở quá là dở Việt nam Dân chủ Cộng hòa thì đố trời mà giải quyết cho được, nói gì “Ðộc lập”, “Tự do”, “Hạnh phúc”!?
Phan thiết, quê tôi ngày bé thơ lớn lên tôi không tìm đâu ra dấu vết ngày xưa của mình. Tất cả mịt mùng, xa lạ. Nhà, mình đã từng sống với cha mẹ, anh em, bà con chòm xóm hết cả thời tuổi thơ bé nhỏ mong manh cho đến trưởng thành ôm súng đánh giặc mà cũng không nhìn ra dù đang đứng trước ngõ. Con đường Trần quý Cáp, con đường tôi đã đi mòn chân 40 chục năm trường từ hồi 1952 đến 1992. Người ta sửa tới sửa lui, mở rộng bên nầy, xây lề bên kia, cắt chỗ nầy, bồi chỗ nọ, bây giờ tôi không tìm thấy thằng nhỏ của tôi ngày xưa đang ở đâu. Không còn cây keo già khú đế nơi nhà thờ cho chim cưởng ca hát líu lo vào mùa trái chínđỏ treo lủng lẳng trên cao và “có mấy mẹ con con ma đêm đêm khuya khoắc, ngồi ôm nhau khóc la và nhát những ai đi chơi khuya về”. Mất từ lâu cái “Bia đài” của Cựu hoàng Bảo đại mỗi lần “ngự giá” về Phan thiết, nơi tụi nhỏ chúng tôi hồi đó đêm đêm thường tụ tập học võ hay tỉ thí với tụi xóm Câu, xóm Ghẹ, Lạc đạo, Ðức nghĩa...
Làm sao mà tìm cho ra khu nghĩa trang trên dốc Căn mà bây giờ người ta từ đâu đến cất nhà lầu nhà trệt kín mít làm cho những hồn ma Mã lạn tìm chỗ khác mà chơi. Ở đây bây giờ là 1 khu phố của thị xã Phan thiết, không còn gì để lại của những bãi cát, những nấm mồ, hang chó, lổ dông, bụi bồn bồn, keo, duối... mà ngày xưa chúng tôi bắt dế, bẫy dông, bắn chim và “đi đồng” là rất thường. Thời đó, Ðức long làng tôi những năm của các thập niên 50, 60 còn là một rẻo đất nghèo nàn, nhỏ nhoi giữa sông Cà ty và biển Vạn khánh long, nhà thường không có nơi đi đại tiện, tiểu tiện. Có phải vậy không mà ở đây lúc bấy giờ không có danh từ “đi cầu”, ỉa nơi ruộng cô Hảo hay ở nghĩa địa trên Căn thì gọi là “đi lên Căn”, “đi đồng” hay “đi bỏ thơ”. Ai đem của nợ ra xả ven bờ hay trên sông Cà ty, sông Mường mán thì gọi là “đi sông”. Mấy ông bà ngư dân sát bờ biển cứ thoải mái ra bờ biển tuột quần trong, tuột quần ngoài ra ngồi lồ lộ ra đó mà rặn cho đả thì gọi là “đi biển”, làm người ta cứ tưởng là ra khơi đánh cá. Ỉa, không ai nói là “ỉa” bao giờ. Tục tĩu. Dơ dáy. Kém văn hóa.
Ghé thăm thằng em bạn, Trung úy Biệt động quân Quân lực Việt nam Cộng hòa, nhà trước trường Trung học Tư thục Ngô đình Khôi rồi Chính tâm của cha Nguyễn viết Khai trên đường Huyền Trân công chúa xem nó có còn rung rung cái đùi cụt mà rượu vào thì thơ ra như hồi nào: “Ngày xưa xả thân vì nước, Ngày nay bán nước nuôi thân”. Nhưng trường thì Việt cộng đã cướp và đổi tên, nay thì trường Trung học Phổ thông chuyên Trần hưng Ðạo, mai là trường Trung học Phổ thông Phan thiết.Con đường cũng bị xóa tên một Công chúa không phải đao binh chiến trường mà giành được lảnh thổ các tỉnh Quảng trị, Thừa thiên, Ðà nẳng và Bắc Quảng nam để cho vào tên một con mẹ nào lạ hoắc lạ huơ có công gì không biết với Bác, với Ðảng, có khi là có công hại nước hại dân cũng nên. Cư dân sống dọc bờ sông từ đầu cây cầu Trần hưng Ðạo xuống Thương chánh bị xúc đi lập làng mới bên Lò heo và tự nhiên, ở đây mọc lên xóm nhậu Bờ kè dậm dật, dật dờ khách nhậu lai rai.
Cái cầu Quan lâu đời nhất ở thành phố nầy Phan thiết đã nổi trôi theo vận nước đong đưa, bây giờ tân kỳ quá, lồ lộ vẻ văn minh hiện đại quá mà sao cũng kỳ dị quá. Những dây cáp giữ cầu, nâng cầu như thể “à la mode” làm sao đó mà người ta thấy nhan nhản khắp nước Việt nam như thể lập đi lập lại,thiếu sáng tạo, không thẩm mỹ, nhàm chán.Tôi không tìm đâu ra những kỷ niệm xa lắc xa lơ những tà áo trắng nữ sinh qua cầu, những đêm tâm sự buồn vui với bạn bè giong bước trên cầu, nghêu ngao những bản tình ca, nhìn xa xa sóng biển lao xao ngoài kia Thương chánh. Một lần “mầy mà tán được con nhỏ đó, tụi tao bao tụi mầy một chầu gì cũng được”. “Ðể tao”. Tôi đã dắt đứa em gái cứng đầu, mấy thằng con trai chọc hoài không chịu, về đường Gia long ăn kem Mỹ Vũ. Tụi nó trả tiền “mầy giỏi quá”. Tưởng giỏi gì, giỏi chọc gái. Cũng tại đây, không biết cái thằng bạn cà nhỏng của tôi làm sao mà bồ của nó dám “nhảy cầu” tự tử cho rồi một đời tình si. Ngay cả sau những lần thi Tú tài 1, Tú tài 2 cũng có 1-2 anh em bạn học không đậu, quẩn trí, chán đời, đi tìm cái chết dưới cầu nước chảy lạnh lùng, vô tình. Bên kia, cái Château d’eau ánh mình xuống dòng Mường giang, đố ai người Phan thiết không nhiều kỷ niệm? Tôi thuở học trò cặp kè trai gái đi dưới gốc cây vông già cổ thụ sù sì, rỗng ruột mà cao chót vót trên kia, hằng hà sa số bông đỏ thắm, sáng rực bầu trời xanh. Chim cưởng trắng họp đàn nhảy nhót, ca hát. Chót vót đỉnh Château d’eau, lá quốc kỳ Việt nam Cộng hòa tung bay ngạo nghễ. Ðâu đây Thanh Thúy ca giọng liêu trai, dắt tình vào mộng mênh mông, thiên thu. Bây giờ cờ đỏ ngôi sao vàng.
Bây giờ không ai còn thấy những hàng cây vông cổ thụ, nói gì “Thương em gái nhỏ vô tình, đạp lên bông đỏ lặng thinh tới trường”. Bây giờ hình như con người tất tả ngược xuôi lo cho miếng cơm manh áo hơn, “có gì đâu mà thi với vị”! Bùi ngùi, tôi lẩn thẩn đi về.Ghé vào Nam thành Lầu,chúng tôi thường gọi là tiệm Hai mọi để dùng bữa cơm trưa. Tiệm cũng không thay đổi bao nhiêu. Nếu có thay đổi là thay đổi cách tiếp đãi thiếu linh hoạt, bơ thờ, ơ hờ và bán buôn cũng không đắt khách lắm. Tiệm Hai mọi có từ trước khi tôi sinh ra chắc? Có lẻ nó cũng đã trên 6-7 chục tuổi đời “lên voi, xuống chó” thăng trầm với Phan thiết rồi.
Con đường Gia long hồi đó, bây giờ người ta lấn ra, chiếm ra và xe cộ kín nghịt và người đông đúc chen lấn, làm cho nó y như một con hẽm nhỏ.
Nhà sách Siêu thị Văn hóa Phan thiết thay thế cho tên các rạp hát hồi nào Bà đầm của bà chủ người Ý tên Oggéri, Modern của bà chủ tài tử ciné, Huỳnh Khanh là vợ, và Ngọc Thúy là tên đứa con gái của ông cựu thị trưởng Phan thiết Phạm ngọc Thìn.
Rồi tới ngả Bảy để về nhà sát bên “nhà Cò” nằm trên đường Nguyễn văn Cừ mà trước 1975 là Khải Ðịnh, thế nào mà tôi lại không đi qua tiệm Thuốc tây Phan thiết hồi nào có cô bé Hưng cao, ốm, hiền, ăn chay trường, con chú Truyền. Bây giờ đâu có thuốc tây, thuốc ta gì nữa. Bây giờ là Mắt kính Minh Nhã có treo hình cô người mẫu chót vót trên cao, đeo mắt kiến đen.
Thế nào mà tôi lại không đi qua cái rạp hát Ánh sáng ngày xưa tôi đã từng đầu tiên coi phim “Chúng Tôi Muốn Sống”. Rạp Ánh sáng, sau đổi lại là Bình thuận của cha con ông Phan bá Thiên tự Thất ngàn và Phan bá Hóa tự Hóa mập mua lại từ cái rạp Ciné Star có từ “xưa thật là xưa” 1930 của ông chủ nhà thầu George Motte, người Pháp. Tất cả làm sao tôi tìm lại cho có những giờ phút “coupe cours” phập phòng đi coi “permanent” với bạn với bồ thời học Phan bội Châu. Trốn học, sợ thầy Hiệu trưởng Lê Tá “gầm gừ” giọng Quảng ra lệnh “consigne”, có khi đè đầu xuống đánh đòn như đã đánh anh em thằng Phan hữu Hồng, Phan hữu Bàng. Bỏ học sợ cha mẹ buồn.... Nhưng mê “Samson et Dalila”, “Les Canons de Navarone”, “Ben Hur”, “The Longest Day”...và các Brigitte Bardot, Elizabeth Taylor, Gina Lolobrigida, Robert Mitchum, John Wayne, Marlon Brando, Anthony Quinn... thì “cũng đành nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu”.
Từ đầu thập niên 50 về trước, thằng nhỏ tôi cũng mới hơn 10 tuổi một chút, có nhiều lần lẩn quẩn trước rạp Bà đầm Oggéri nghe “ra thai” đề, nghe “xổ thai” đề. Người ta, Việt nam chứ không có thằng Tây nào hết, thua chết cha. Chú Hàm người Quảng bình ở Ðức long hết tiền, hết bạc, vợ bỏ cũng tại “Ðề”.
Hình ảnh “du đảng con” của ông Cu Li bán hột dưa, đậu phụng rang, cà rem... tôi khó quên. Năm 1973, gặp lại ổng ở Ðà lạt, bấy giờ đã là lính Thiết giáp, có vợ, có con tùm lum rồi, nhưng lùn xủn, “lấc cấc” cũng y nguyên và vẫn thích đánh lộn, khoái “cáp độ” billard như thường. Ổng khoe: “Tao mới thắng “độ billard” thằng cha Út trà Ôn 500 ngàn ở Bảo lộc”. Má ảnh và ba tôi là chị em kết nghĩa. Hồi còn học Chu văn An hay Văn khoa, Luật khoa ở Sài gòn, năm nào tôi cũng lên Ðà lạt thăm O Hùng là má của ảnh và chị Bé là chị của ảnh. Một đêm 2 anh em đang ngồi ăn phở nơi rạp Ngọc lang, chưa kịp trả tiền, ảnh kéo tay tôi lôi đi và la lớn “chạy, chạy”. Sau lưng chúng tôi, cả bán tiểu đội lính tráng đuổi theo, la to: “giết nó”, “giết nó”. Tụi tui kịp trốn vào nhà anh Tư, anh Chức con bà chị cả của má tôi ở khu Thương phế binh ấp Ánh sáng, sát cầu ông Ðạo. May, không thì toi mạng. Tức làm sao, ổng về nói thế nào mà đơn vị trưởng của ổng cho 2 chiếc commando car với lính “tùng thiết” và “đầy đủ quân trang, quân dụng” như ra trận, đi lùng sục khắp phố phường Ðà lạt nhưng làm sao mà tìm cho ra mấy tên ba trợn kia.
Các rạp ciné, chớp bóng, cải lương bây giờ làm ăn không bằng mở quán cà phê, quán nhậu, khách sạn, du lịch..nên không ai còn thấy Lilas, Odéon, Hồng kim, Hồng lợi, Bà đầm, Modern, Ngọc Thúy mà người Phan thiết, lớn nhỏ ai không có ít nhất 1 lần kỷ niệm “những ngày xưa thân ái!”
Con đường Trần hưng Ðạo nối dài lên Ðức long nhà tôi là Trần quý Cáp, không còn hàng cây sầu đâu mà người ta còn gọi là cây sầu đông, cây xoan nằm trước nhà tự của dòng họ thằng Cảnh lùn. Hồi đó đi học về, tôi thường thấy mấy đứa nhỏ con nhà ai hay núp dưới bóng rợp hàng sầu đâu nầy mà liệng, chọi, bắn ná thun vào phá cây me già đầy trái bên trong khuôn viên tòa nhà cho đến khi nào có người ở trong nhà ra chửi, mắng, đòi đánh, hăm he xịt chó cắn mới chịu chạy. Nói tới cây sầu đâu nầy, tôi lại nhớ cây xoan ngoài trại tù K.5 Vĩnh phú. Năm đó 1979, trời ngoài Bắc lạnh quá, người chờ chết đói mà “lao động là ving quang” hụt hơi. Chúng tôi, những thằng Nguyễn minh Chánh, Ðại úy 101, Huỳnh ngọc Thuận, Ðại úy Ðại đội trưởng CSDC, Nguyễn văn Hùng, Ðại úy Phụ tá Ty ANQÐ, Nguyễn văn Sáu, Ðại úy Phụ tá CSÐB... quèo mấy trái xoan chín vàng ưng ững đỏ treo toòng ten trên cành xuống mà ăn liều. May không có thằng nào ngoẽo. Bên kia, Chánh tòa Phan thiết, ngày xưa là Nhà thờ Lạc đạo mà những năm 1960 trở về trước, chúng tôi những ngày Chủ nhật thường tập trung đá banh và cũng thường bị ông cố đạo người Pháp có bộ râu dài rậm ri rậm rịt, có phải ông Victor Caillon không, rượt đuổi, ném đá, la hét om sòm. Nhưng tụi nhỏ là bọn cô hồn cát đảng như thế khoái ổng chửi, không ngừng quậy phá mà nghe ổng lớn tiếng Tây tiếng Pháp “par-ci partout”, “palabre” có biết gì đâu mà cười bể bụng. Bây giờ, Chánh tòa đồ sộ, mới mẻ nhưng lạnh lùng, khô khan, đất không còn rộng đủ cho những đứa con nít rong chơi thỏa thuê,nói gì đến đá banh với đá bóng như hồi đó. Con đường nầy hồi đó, thằng Nguyễn văn Hùng có người yêu bé bỏng, nó đặt tên là “Con đường mang tên em” mà cứ nghêu ngao “Con đường tình sử nằm đây. Ðèn khuya mắt đỏ còn đầy dấu xưa. Ðường chẳng riêng hai chúng mình. Nên khi vắng em, đường đã thay tên. Còn chăng kỷ niệm”... Nó học cùng trường Trung học công lập Phan bội Châu, Phan thiết với tôi nhưng bên Pháp văn, tôi bên Anh văn. 2 đứa cùng lớp Ðệ tam, Ðệ nhị C rồi thành ban thân từ đó. Chúng tôi chia nhau điếu thuốc và tiền xài. Ði đâu rồi tối cũng về con đường nầy, có khi ngủ lại nhà tôi mà ca hát, đánh đờn, ngâm thơ, hút thuốc. Nó đậu Tú tài 1 năm 1963, ai biết nó mê Việt cộng hồi nào mà năm 1964 nó vào cây số 15 theo Mặt trận Giải phóng Miền nam để mãi mãi người yêu bé bỏng của nó, má nó, bạn bè nó, tôi nữa.... không bao giờ gặp lại.
Con đường Trần quý Cáp có điện từ năm 1956, đỡ heo hút một khúc phố nửa tỉnh nửa quê nơi tôi lớn lên từng năm tháng tuổi đời với những cây phượng non mới trồng rồi có bông, rồi có trái, lâu năm thành cổ thụ. Những con hẽm nói là hẽm mà lớn như những con đường cái quan chạy ra chạy vào biển với sông, ngày nào hồi đó rộng thênh thang, đá banh được, chạy đua cũng được và tỉ võ thì quá ngon lành. Bây giờ, người ta lấn tới lấn lui hoặc không còn hay có còn thì cũng đủ chỗ dắt được 1 chiếc xe đạp đi vô, đi ra mà thôi. Những cây phượng già ví von mộng với thơ tuổi học trò ngày tôi đi học trên 60 năm từ thuở nào nằm rải rác từ dưới Nhà thờ Lạc đạo lên tới Cổng chữ Y tìm không ra dấu vết. Người ta bây giờ trồng những cây bò cặp vàng thay thế. Hỏi ai không có nỗi buồn, nỗi buồn cố cựu tha thiết mênh mông!?
Trước khi về Việt nam, tôi nghĩ rất nhiều là sẽ đi đây đi đó tìm lại kỷ niệm ngày xưa. Nhưng đến nơi rồi thì, quá ít hứng thú để thăm với viếng. Có gì đâu, còn gì đâu! Ði tìm cái gì!? Bạn bè có mấy đứa, còn mấy đứa? Ðứa tha phương ngoại quốc, đứa chết trận, đứa chết tù, đứa chết ngoài biển, đứa chết trong rừng, đứa chết già, đứa chết bệnh, đứa chết điên, đứa chết đói, đứa tuyệt tích, đứa sống nghèo hèn... May còn mấy đứa đắp đổi qua ngày sống đến hôm nay. Nói chí tình, dường như có cái gì lấn cấn không tự nhiên như ngày nào tình bạn học trò với nhau, tình chiến hữu với nhau, tình anh em quen biết hàng xóm với nhau.Tôi mới nghiệm ra rằng, tại cuộc sống hai nơi cách nhau nửa vòng trái đất không giống nhau thì, nếp nghĩ đâu dễ như nhau là đương nhiên.
Dẫu là những người cùng một lò Việt nam Cộng hòa, cùng một chí hướng “không ưa gì ba cái anh Việt cộng” nhưng mấy chục năm sống với tự do Mỹ quốc và với độc tài Cộng sản nhập nhằng năm nầy qua năm kia, bảo sao có khi không khác nhau cho được? Nhập gia tùy tục, đáo giang tùy khúc mà, “À Rome, fais comme les Romains” riết rồi thành quen đến lúc, đến nỗi phải nói như Rudyard Kipling, một văn hào nổi tiếng của Anh đầu thế kỷ 19 trong bài thơ “The Ballad of East and West” rằng: Ðông là Ðông, Tây là Tây, Ðông, Tây không bao giờ gặp nhau, “Oh! East is East, and West is West, and never the twain shall meet”. Mấy anh em bạn, mấy đứa cháu “sẳn sàng chở đi bất kể là đâu”. Ði đâu bây giờ!? Bước ra, nắng nóng như đốt mà nón sắt trên đầu,ngồi cho chặt, ôm cho cứng còn sợ đụng xe đang trùng trùng xông trận. Chốn cũ, cảnh xưa đâu nơi nào còn vết tích kỷ niệm. Hồi ức chỉ còn là vụn vỡ những rong rêu phù phiếm mường tượng ra, vẽ vời ra, thêu dệt ra mơ hồ, dầu đang đứng ngay nơi chốn cũ ngày đó. Có gì vui!? Buồn nỗi buồn chơi vơi, vời vợi! Nhiều người bạn già của tôi khổ đời vì Cộng sản trước đây và bây giờ đang sống trên nước Mỹ, không nói đến những cháu trẻ thanh niên chưa từng nếm mùi đểu cáng, gian manh của bọn trong cái gọi là thiên đường Cộng sản, đã rêu rao rằng thì là về Việt nam “áo gấm về làng” vui biết chừng nào.
Mà sao tôi tìm đâu cho ra nụ cười!?Xã hội con người dĩ nhiên phải thay đổi mà tiến lên theo đà văn minh nhân loại. Việt nam bây giờ năm 2011 làm sao mà còn vết tích cổ xưa hay dấu hằn chiến tranh Việt-pháp, Quốc-cộng là đương nhiên. Nhưng, cái sự đời nó thay đổi một cách xô bồ, hỗn độn, nhiễu nhương, lạc hậu. Người ta sống bám vào những thói ăn chơi trác táng, phù phiếm nơi thị thành, quanh quẩn những đồng tiền của mình, xài qua xài lại mà không có một đồng nào được làm ra từ những cơ xưởng sản xuất, những công trường xây dựng, những nông trường phát triển, những nghiệp vụ thương mại đích thực. Những nhà lầu, xe hơi, giàu sang... một ngày không còn tiền “mượn đầu heo nấu cháo” thì “xụm”, thì “sụp”... đồng nghĩa với sự “tiêu tùng” cái nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam không ai muốn tồn tại. Những nơi tôi đi qua, hỏi những anh em của tôi từ Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Ðức, Gia nả đại... về Việt nam có thấy không, “sao nhiều người nghèo hèn tàn tạ quá sức!?” Ðâu mà xa, họ nằm chình ình nơi công viên rợp bóng “trưởng giả học làm sang” Hoàng văn Thụ thiếu gì kẻ qua người lại, ngậm ngùi cười ra nước mắt. Trước 1975, Việt nam Cộng hòa có ai chối là không tham nhũng, không đĩ điếm, không xì ke ma túy, không trộm cướp? Nhưng bây giờ tháng 3, tháng 4 năm 2011 tôi về Việt nam, ai ai lại không “nhất trí” nói là “tham nhũng, đĩ điếm, xì ke, ma túy, trộm cướp dẫy đầy một cách dữ tợn, khủng khiếp, quỷ quái hơn bao giờ hết kể từ ngày khai thiên lập địa nước Việt nam”.
Cả 20 năm trời mới trở lại Việt nam, may không đi đâu nhiều mà thấm thía nỗi buồn thậm thượt như vậy đó. Giả như ngao du về miệt vườn thăm những thằng Quyền, Chừ, Ðiệp, Lũy, Nguyên, thì ruột gan bời bời sao mà chịu nổi. Ở Sài gòn, tôi quanh quẩn nơi chung cư Ngô gia Tự, phường 2, quận 10 mà không dám đi xa một chút xuống Chợ lớn hay ra trung tâm Sài gòn hoặc xuống Tân định. Những nơi nầy, ngày xưa thời cắp sách, gần như không có ngày nào mà không qua lại mua sách, đi học hay đi ăn, đi chơi hoặc lấm la lấm lét với bồ chun đầu vô Rex, Eden. Ngoài Phan thiết, tôi cũng không đi đây, đi đó mà tràn lan nghìn trùng man mác buồn. Ði một vòng lững thững, miễn cưỡng, vô tình...từ đường Nguyễn Du giữa 2 trường Nam Tiểu học Phan thiết và trường Trung học Tư thục Bồ đề hồi đó, bây giờ không biết thay tên, đổi họ là gì. Bên kia đường Trần hưng Ðạo đã mở rộng, ngày xưa là rạp Odéon của Pháp, ông Phan bá Thiên mua lại, đổi tên là Hồng kim, ông đem cho ông con trai trưởng là Phan bá Hóa, tự là Hóa mập làm chủ. Rạp Hồng kim sau đó, ông Hóa đổi lại là Hồng lợi khang trang hơn, lớn hơn, đẹp hơn chuyên hát những tuồng chưởng của Tàu, cải lương, đại nhạc hội... Quẹo trái, nhà bảo sanh Phúc hải của cô mụ Hương mà bên phải đằng kia, trường Trung học Tư thục Tiến Ðức, ty Tiểu học, ty Thông tin, tòa Sơ thẩm Bình thuận mà trước mặt là Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Hoa kỳ tại Việt nam, người ta thường đọc là MACV, viết tắt từ chữ The United States Military Assistance Command, Viet nam.
Ði xa một chút, nước mắm Hồng xuyên bên trái và nhà ông bà Trương lễ Nghi bên phải, và đằng kia, cầu đúc xi măng Trần hưng Ðạo. Tất cả hình hài hoặc còn mà cũ kỷ quá sức hay đã thay đổi một cách màu mè mà âm u, tối tăm! Ði trong mơ hồ vụn vỡ, tôi không hình dung ra, bây giờ những căn nhà đẹp, sang hồi đó bây giờ người ta xử dụng làm gì hay bỏ hoang từ lâu? Ðứng dưới chân cầu Trần hưng Ðạo, tôi nhìn sang bên kia sông. Con sông Mường mán xanh màu xanh biêng biếc, êm đềm trôi lững lờ ra biển mênh mông ngoài kia Cồn chà, Thương chánh.. Biểu tượng Phan thiết, cái Château d’eau người ta khoác cho nó một cái áo xanh màu xanh cây rừng rậm rịt, mịt mù. Tôi không thấy đâu những con đường mòn lồ lộ rải đầy bông Vông đỏ thắm ngày xưa kỷ niệm dưới bóng “Sa tô đô” cao ngất có phần phật ngọn cờ Quốc gia oai hùng tung bay trên đỉnh nóc.
Bên kia, Tiểu khu Bình thuận, trước ngày bị Việt cộng “ăn tươi, nuốt sống”, không một thằng con trai nào ở đây không một lần đi vô đi ra vui buồn đời lính. Bây giờ, nó lớn hơn, sáng hơn, đẹp hơn... là cái gì nhỉ? Chắc cũng đồn lính, loại lính “ăn hiếp” dân là giỏi, mà sợ Tàu cũng giỏi. Thật không làm sao mà tìm cho ra thằng tôi hồi đó bây giờ lêu lỏng nơi đâu? Con đường, phố phường, chợ búa, nhà cửa, trường học, con người... hoặc đã mất hút tự bao giờ hoặc đã không còn y xưa. Nó lạc, không biết đường về!? Có khi nó về mà đau cái đau nỗi niềm cố cựu. Từ cõi lòng, lãng đãng đâu đây lời thơ Hàn mặc Tử, nó khẽ thở dài “Ôi trời ôi! là Phan thiết! Phan thiết. Mà tang thương còn lại mảnh trăng rơi...”./.
NGUYỄN THỪA BÌNH

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét