Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2025

TỪ “XƯỞNG ĐẺ” ĐẾN “CON ĐƯỜNG KÁCH MỆNH CỦA HỒ CHÍ MINH”! KHI NGÔN NGỮ VIỆT NAM BỊ CỘNG SẢN CƯỚP MẤT LINH HỒN - Nguyễn Xuân Tùng


Tôi đi tù từ năm 1975 đến cuối năm 1984 mới về nhà. Ngày trở lại Sài Gòn, điều khiến tôi sửng sốt không chỉ là những khu phố tiều tụy rác rưởi, mà là ngôn ngữ trên đường phố cũng tan hoang đổi thay theo chế độ mới. Trước mắt tôi, ngay ngã Sáu Công Trường Dân Chủ -nếu tôi nhớ không lầm- nổi bật một tấm bảng hiệu lớn viết bằng những chữ nửa nạc nửa mỡ: “Cửa hàng thịt THANH NIÊN tươi sống.” Chưa hết. Người Miền Nam rỉ tai nhau về “Xưởng đẻ Từ Dũ”, về “Xưởng mộc học sinh”, về “Cửa hàng vật tư hợp tác xã Phụ Nữ”, “Tổ đan len” vv… Một thứ ngôn ngữ lai tạp, thô kệch, lạnh như sắt thép và gai góc sần sùi như vỏ trái sầu riêng.
<!>
Tôi tự hỏi: Người miền Nam trước 1975, vốn là người có ăn học, nói năng thanh lịch, sao lại có thể chấp nhận những bảng hiệu kỳ dị đến thế? Không lâu sau, tôi hiểu: đó không phải là những ngôn từ tự phát của người Miền Nam dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, mà là ngôn ngữ được du nhập từ miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa Cộng Sản — thứ tiếng, thứ ngôn ngữ của những khẩu hiệu, của chỉ thị, của những con người đã quen sống trong tiếng kèn thúc quân: “Thề phanh thây uống máu quân thù”.

I. Từ “nhà hộ sinh” đến “xưởng đẻ”:
khi con người bị công nghiệp hóa Ở miền Bắc, ngay từ cuối thập niên 1940, trong các vùng Việt Minh kiểm soát, mọi cơ quan đều được đặt tên theo kiểu “xí nghiệp hóa”: • Nhà in gọi là xưởng in. • Nhà hộ sinh gọi là xưởng đẻ. • Bệnh viện thành trạm xá. • Cửa hàng tư nhân biến thành hợp tác xã thương nghiệp. Ngôn ngữ này phản ánh đúng tinh thần duy vật của thời đó: mọi sinh hoạt con người đều được coi là “sản xuất” – kể cả sinh đẻ. Con người, dưới “ánh sáng của chủ nghĩa khoa học vô thần cộng sạn”, không còn là thụ tạo linh thiêng của Thiên Chúa, Thượng đế, Trời Phật, mà chỉ là một “đơn vị lao động” được nhà nước “quản lý chiếm hữu” từ trong bụng mẹ.

II. “Trạm Xá”, “khẩn Trương”, “Hộ Lý”
những từ tưởng vô hại mà méo mó tư duy. Nghe họ nói “trạm xá”, tôi không khỏi buồn cười: chữ “xá” trong Hán tự (舍) nghĩa là “nhà trọ”, còn “trạm” là “điểm dừng”. “Trạm xá” nguyên nghĩa chỉ là “chỗ ở tạm ven đường”, phỏng trọ rẻ tiền chứ không phải “nơi khám bệnh”. Thế mà hàng chục năm, cả miền Bắc dùng “trạm xá” như một cách nói chính thống. Sau này, họ mới chữa thẹn bằng cách thêm chữ “y” thành “trạm y xá” hoặc “trạm y tế”. Còn chữ “khẩn trương” thì vốn Hán Việt nghĩa là “căng thẳng, khẩn cấp”, như “Tình Trạng Khẩn Trương Của Đất Nước” khi sắp có chiến tranh, phản loạn. Nhưng trong khẩu ngữ thời chiến công sản, nó bị biến thành mệnh lệnh “đi nhanh lên, làm ngay đi”. Ngôn ngữ quân lệnh tràn vào đời thường, khiến mọi người sống trong tâm thế chạy đua và sợ hãi – một xã hội không biết thư thái, không biết bình an. Mà lúc nào cũng chỉ thi đua, bóc lột cạn kiệt sức lao động của người dân đến cùng tận: “Hy sinh đời bố củng cố đời con”, “Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm gà gáy” như một cái máy sản xuất nông nghiệp, công nghiệp mà không cần tới xăng nhớt.

III. Giả thuyết: Ngôn ngữ cộng sản như công cụ kiểm soát an ninh
Tôi từng suy nghĩ: phải chăng, ngoài lý do độc tài cộng sản vô tình, cộng sản cố ý tạo ra sự khác biệt vùng miền trong ngôn ngữ để dễ kiểm soát an ninh? Miền Bắc âm điệu khác với Miền Trung, Miền Trung Trung âm điệu khác với Miền Nam, những vẫn hiểu nhau. Nay cộng sản lại cố tình tạo thêm mỗi vùng miền lại có ngôn ngữ, thổ ngữ khác nhau, người lạ chỉ cần cất lời là bị phát hiện. Trong chiến tranh, đó là một hình thức an ninh ngôn ngữ — người lạ không thể trà trộn, cũng như các “toán nhảy Bắc” nào vào vùng lạ là bị bắt ngay. Trước 1975 tại Miền Bắc, chính sách ấy được áp dụng tinh vi hơn: Bảng hiệu xe đò bị xóa tên tuyến đường, chỉ còn “Hợp tác xã vận tải số 3”. Người dân đi xe phải qua trạm công an, khai tuyến, xin phép, rồi mới biế chỗ bến xe đậu ở đâu để lên xe. Ngôn ngữ – vốn là phương tiện tự do – trở thành hệ thống mật mã của kiểm soát.

IV. “Bờ, cờ, lờ, mờ” và “Con đường Kách mệnh” của Hồ Chí Minh
Sau khi cướp chính quyền năm 1945, Hồ Chí Minh phát động phong trào “Bình dân học vụ”, dạy dân xóa nạn mù chữ. Đáng lẽ, đó là công cuộc cần thiết và đáng trân trọng. Nhưng vì thiếu giáo viên, họ đơn giản hóa tiếng Việt đến mức thô bạo: • B (bê) → bờ • C (xê) → cờ • L (e-lờ) → lờ • X (ích-xì) → sờ • I (i) → i à dài Y (i-cờ-rét) → cũng phát âm thành (i) ngắn! Cho nên nhiều người –kể cả người có bằng cấp học vị cao cũng có thói quen phát âm i (ngắn) với y (dài) giống nhau. Mặc dù i (ngắn) và y dài có chỗ có thể thay thế cho nhau, như Quân sỹ =quân sĩ; Bác sỹ = Bác sĩ. Nhưng trong các trường hợp khác nó hoàn toàn khác nhau, không thể thay thế cho nhau được: Thí dụ chữ úi: đánh vần là: u-i-ui sắc úi – chữ úy đánh vần là u-y cờ rét uy sắc úy. Áp dụng cho các trường hợp như chữ thâm thúy phát âm là t-h-u-y-cở-rét thuy sắc Thúy; khác với thâm thuí, dánh vần là t-h-u-i thui sắc Thúi vv...

Hồ Chí Minh viết: “Con đường kách mệnh” thay cho “Con đường cách mệnh”, coi đó là “cách tân, canh tân cách mạng”: Chữ ca đổi thành k như trại tù Công An 2, đổi thành trại K2. Ph được đổi (lai căng thành f, không có trong mẫu tự Việt) như: Phải thành fải, phở thành fở, phủ thành fủ vv...Thủy Quân Lục Chiến đổi thành Lính Thủy đánh bộ, Hàng Không Mẫu Hạm đổi thành Tàu Sân Bay, Bạch Ốc đổi thành Nhà Trắng và kịch cỡm nhất là “Bạch Thư”, thư ngỏ, thư công khai tuyên bố, công bố minh bạch về ý kiến cá nhân, hay đường lối chính sách của một nước trong từng giai đoạn khác nhau. Và nó cũng có nghĩa là Thông Bạch, thông báo công khai của nhà Chùa báo tin cho các Phật Tử tới Chùa hội họp, hành lễ vv... thì lại được đổi tên thành “Sách Trắng”, có thể hiểu nôm na là cuốn nhật ký mới mua chưa viết gì vào, là sách vở học sinh còn mới chưa ghi chép, chưa có chữ viết nào trong đó.

Chữ nghĩa bị hạ thấp xuống ngang hàng với trình độ “bình dân giáo dục”, “xóa nạn mù chữ cho người nghèo lớn tuổi không biết chữ, nông dân nghèo ít học thời đó, và cái dốt được tôn vinh thành bản sắc dân tộc. Từ đó, một thế hệ lớn lên trong âm hưởng “bờ, cờ, lờ” “mờ — không còn biết phân biệt phát âm i ngắn, y dài, không còn phân biệt thúy với thúi, uý với úi, túy với túi. Những “đại trí thức” thời sau lại hùa nhau góp ý tiếngđổi “y” dài thành “i” ngắn, gọi đó là “cải cách chính tả”, mà quên rằng chữ quốc ngữ theo mẫu tự La Tinh là công trình của nhiều nhà truyền giáo Tây Phương mà Alexandre de Rhodes đã có công gom góp, tổng hợp lại và in thành Từ Điển “Việt-Bồ-La” (Việt Nam – Bồ Đào Nha – La Tinh), được in ấn tại Roma năm 1651, để lưu truyền hậu thế. Người “đẻ ra chữ y dài” có lý do của ngữ âm và thẩm mỹ chữ Việt, chứ không dư thừa như nhiều người có học ngộ nhận và muốn thay thế y dài thành i ngắn.

Từ Điển “Việt-Bồ-La” gồm có có 8.000 từ tiếng Việt dịch ra tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Latinh. Nhưng Lạ lùng và quái dị hơn nữa là Bùi Hiền lại đưa ra một kiểu chữ quái lạ, giống như cách viết tiếng quan thoại của Tào Cộng làm hoang mang xôn xao chữ Việt Truyền thống. Phải chăng đó là “Hiệp Ước Bí mật Thành Đô” giữa hai đảng cộng sản Việt-Tào, để dần dần biến dân tộc Việt Nam thành tỉnh, huyện của Tào Cộng?!

V. Tại sao Người Việt hải ngoại vẫn dạy Việt Ngữ cho các cháu thiếu nhi theo kiểu Bình Dân Học Vụ: “Xóa Nạn Mù Chữ”, mà không dạy phát âm chữ Việt như trước năm 1945?

VII. Khi ngôn ngữ đánh mất linh hồn
Ngôn ngữ là linh hồn của dân tộc. Khi con người nói sai, nghĩ sai, viết sai, lâu dần tâm hồn cũng méo mó theo. Những bảng hiệu “Xưởng đẻ”, “Cửa hàng thịt THANH NIÊN tươi sống”, hay những tiếng hô “Khẩn trương lên!” không chỉ buồn cười – chúng phản ánh một xã hội mất cảm thức về cái đẹp, cái đúng cái thâm thuý và cái thiêng liêng tinh thần bốn Ngàn Năm Văn Hiến của dân tộc. Như Học Giả Nguyễn Văn Vĩnh đã nói: Tiếng Việt còn nước Việt còn, tiếng Việt mất nước Việt mất! Đó là hậu quả của một cuộc xâm lăng thầm lặng tin thần văn minh văn hóa nước Việt của cộng sản, nó còn tinh vi hơn cả súng đạn, đó là: Xâm lăng bằng ngôn ngữ.

VI. Làm văn hóa lầm thì giết nhiều thế hệ
Người ta thường nói: làm chính trị sai có thể giết một đời người. Nhưng làm văn hóa sai – thì giết nhiều thế hệ. Một dân tộc có thể đứng dậy sau chiến tranh, nhưng khó mà hồi sinh khi tiếng nói của mình bị làm cho méo mó. Tôi từng chứng kiến những con người bị nhốt trong trại tù cộng sản, nhưng họ vẫn nói năng, đọc thơ, cầu nguyện theo ngôn ngữ truyền thống – ngôn ngữ còn, thì linh hồn còn. Khi ngôn ngữ bị cưỡng đoạt, khi người ta chỉ biết “bờ, cờ, lờ, mờ” thay thế cho “bê, xê, e-lờ, Em mờ”, khi chữ nghĩa trở thành công cụ của tuyên truyền, chiến tranh chính trị – thì dù dân chúng không bị giam cầm trong các nhà tù, họ cũng đang sống trong một nhà tù vô hình độc tài cộng sản.

Tóm lại, có người nói “ngôn ngữ chỉ là phương tiện giao tiếp”!
-Không!

Ngôn ngữ là dấu vết của nhân phẩm, là hồn thiêng sông núi của tổ tiên, là tiếng vọng của lương tâm lương tri, là đức tin của văn hóa dân tộc. Bởi vậy, cuộc phục sinh dân tộc – chắc chắn sẽ có – sẽ không bắt đầu từ súng ống hay “nghị quyết”, mà từ việc “Gạn đục khơi trong”, làm trong sạch lại tiếng nói Việt Nam, để trả lại cho văn phong, ngôn ngữ, lời nói phẩm giá của con người tự do có văn hóa văn hiến của dân tộc./-

Nguyễn Xuân Tùng
Diễn Đàn Kitô-hữu
25-10-08

Không có nhận xét nào: