Tháng 6/66, khi phong trào Phật Giáo ở miền Trung đòi ly khai khỏi chính quyền trung ương xảy ra, có một phần sĩ quan, hạ sĩ quan, và binh sĩ thuộc Đại Đội Hắc Báo đã bị lôi cuốn theo phe chống đối. Trung Úy Phạm Văn Đính -ĐĐT Đại Đội- đã phải lẩn tránh một thời gian, vì ngay từ đầu anh không theo phe của Phật Giáo. Sau một đêm cố đương đầu với lính Nhảy Dù, đại đội như rắn mất đầu và thấy tình hình không ổn nên tất cả tự động tan hàng.
<!>
Chưa biết làm gì thì ngay sáng hôm sau, chúng tôi nhận được công điện của Bộ Tư Lệnh SĐ1. Nội dung công điện là ra lệnh tất cả các sĩ quan của Đại Đội Hắc Báo trình diện tại Bến Thương Bạc, trước Phú Văn Lâu, lúc 12 giờ trưa. Thường ngày mỗi khi tôi đi hành quân, mẹ tôi thường ra sân nhìn lên đoàn trực thăng đang bay qua mà nghĩ rằng con của mình đang ngồi trên đó. Rồi bà chỉ biết cầu nguyện và đến chiều lại tựa cửa đứng trông. Khi thấy mặt tôi, mẹ tôi nở một nụ cười khổ, sung sướng lẫn chút thở dài. Tôi biết sẽ gặp rắc rối, dữ nhiều mà lành thì ít, vì có thể bị giữ lại lâu để điều tra 114 Đa Hiệu 113 cũng nên. Vì thế, tôi bèn thưa với mẹ,
- “Chuyến đi nầy hơi lâu. Mẹ đừng trông con nghe.”
Mẹ tôi chỉ biết im lặng, mắt nhìn theo con với nỗi ngậm ngùi. Tôi hướng ra cửa bước đi mà lòng thương mẹ vô biên.
Tôi cùng 4 sĩ quan khác là Th/Úy Nguyễn Đức Vy - Đại Đội Phó, Th/Úy Lê Văn Đức, Th/Úy Huỳnh Văn Cầm, Th/Úy Nguyễn Côn đến nơi trình diện đúng giờ. Hơn 20 phút sau, một chiếc trực thăng UH1B hạ cánh. Khi đoàn người bước xuống, tôi thấy Đại Tá Thiết Giáp Nguyễn Văn Toàn, (sau này ông là Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn II, rồi QĐ III); Trung Tá Trần Văn Cẩm, sau này là Chuẩn Tướng Tư Lệnh/ SĐ 23; và rồi Tham Mưu Trưởng QĐ II bước xuống. Khi thấy chúng tôi đứng nghiêm chào, Đại Tá Toàn hỏi,
- “Ai chỉ huy đây?”
Tôi chỉ anh Vy. Đại Tá Toàn nói,
- “Tụi bây đừng có lộn xộn. Về chỉnh đốn lại đại đội, chuẩn bị đi hành quân!”
Nói xong, ông quay qua tùy viên bảo đưa một xấp bạc (khoảng 5.000 đồng, hơn tháng lương của tôi), rồi đưa cho chúng tôi. Tôi chưa kịp hoàn hồn thì Trung Tá Cẩm nói với anh Vy rồi chỉ vào tôi,
- “Tôi sẽ rút anh này.”
Khoảng 2 tháng sau, trong lúc Đại Đội đang tấn công vào làng Bích La Đông thi tôi nhận công điện bảo về trình diện Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn trong ngày. Tôi bàn giao trung đội của mình cho Thượng Sĩ Thuyên và lên xe về Huế với nỗi ngậm ngùi, và lo lắng vì xa đơn vị cũ.
Về Bộ Tư Lệnh, tôi vào gặp Trung Tá Cẩm đang là Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn. Ông Cẩm bảo tôi làm Văn Phòng Trưởng cho đến 1970, thời của Đại Tá Phạm Cao Đông. Sau đó, tôi xin đi học Bộ Binh Cao Cấp tại Mỹ.
Sư Đoàn 1 Bộ Binh 115
Mặc dù đã được Trung Tá Cẩm khuyến khích và hướng dẫn, tôi vẫn không cảm thấy yên tâm, vì tôi chưa có kinh nghiệm về tham mưu. Tôi đã trình bày điều này với Tr/T Cẩm thì ông bảo,
- “Chú cứ làm đi rồi sẽ quen. Vả lại chú còn mẹ già phải nuôi nữa đó, không được suy nghĩ khác.”
Thật ra, tôi với Trung Tá Cẩm là chỗ bà con thân thuộc, nhưng không phải ai cũng được anh chiếu cố như tôi. Ngay cả người em ruột của anh là Trung Úy Trần văn Hiển cũng phải đi ra tác chiến. Chính cái quyết định đầy ân nghĩa này mà hôm nầy tôi có thể ngồi đây viết những giòng chữ,
- Anh Cẩm ơi! Xin cám ơn anh.Hàng ngày trong chức vụ (sau này kiêm luôn Sĩ Quan Quân Sử), tôi có nhiệm vụ:
- Đọc và trình tất cả các văn thư lên Tham Mưu Trưởng. Cố gắng nhớ để phòng khi được hỏi.
- Sắp xếp phòng họp hàng ngày, hàng tuần. Điện thoại các đơn vị trường để mời về họp.
- Lo chỗ ăn ở cho phái đoàn trung ương.
- Gom góp tài liệu để viết về Quân Sử.Công việc tuy nặng nhọc, vì hàng ngày phải đọc nhiều hồ sơ chất đống; nhưng tôi rất vui, nhất là khi đã quen dần với công việc. Sau một thời gian, tôi đã hiểu khá rõ về cách vận hành của Bộ Tham Mưu SĐ I, cũng như những sự việc đã xảy ra, nhiều khi khá bí mật nữa.
a. Tướng Trưởng với Võ Bị Đà Lạt.
Năm 1966, Đại Tá Ngô Quang Trưởng (sau này là Trung Tướng Tư Lệnh QĐ IV và rồi Tư Lệnh QĐ I), được cử giữ chức Tư Lệnh SĐ1 BB, sau biến cố Phật Giáo. Trước đó, tôi đưọc biết là Đại Tá Nguyễn Văn Toàn được đề nghị, nhưng sau cùng Đ/T Trưởng được Trung Ương chọn. Đại Tá Trưởng 116 Đa Hiệu 113 xuất thân từ Nhảy Dù, khóa 4 Sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức.
- Tư Lệnh Phó: Đại Tá Nguyễn Văn Toàn.
- Tham Mưu Trưởng: Trung Tá Trần Văn Cẩm.
Về Sư Đoàn không được bao lâu, Đại Tá Trưởng được vinh thăng chuẩn tướng. Tướng Trưởng đã bút phê trong phiếu trình của Phòng Tổng Quản Trị, lúc đó là Đại Úy Hồ Thục, Trưởng Phòng, như sau:
“Lập một danh sách các sĩ quan từ khóa 16 đến khóa 20 của Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.” Vài ngày sau, một danh sách đã được trình lên Tư Lệnh SĐ. Lúc đó, thú thật tôi chưa biết được ý của Tướng Trưởng như thế nào?
Nhưng về sau nhìn vào cái dàn tiểu đoàn trưởng của Sư Đoàn, tôi mới giật mình thấy Tướng Trường đã là con người nhìn xa, thấy rộng; nhất là vấn đề Lãnh Đạo Chỉ Huy.
Vào thời đó, chiến trận chỉ được giải quyết ở cấp tiểu đoàn. Vào cuối năm 1968, theo trí nhớ hạn hẹp của tôi, có lúc có đến 16 sĩ quan xuất thân từ Võ Bị, (trừ anh Phạm Văn Đính - Khóa 9, Trừ Bị), làm tiểu đoàn trưởng, trong số 17 tiểu đoàn BB.
* Trung Đoàn 1 BB:
- Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1: Thiếu Tá Vĩnh Dác, Khóa 16 Võ Bị. (Sau là Đại Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 1.)
- Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2: Thiếu Tá Hoàng Mão, Khóa 20 Võ Bị. (Sau này là Trung Tá Trung Đoàn Trưởng Trung đoàn 3 BB.) Thiếu Tá Lê Khắc Kha, Khóa 19 Võ Bị, thay thế. (Sau này là Trung Tá Quận Trưởng Quận 2 Đà Nẵng.)
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tu Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu 1, 1974.
Sư Đoàn 1 Bộ Binh 117
- Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3: Th/Tá Võ Toàn, Khóa 17 Võ Bị. (Sau là Đại Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 1.
- Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 4: Thiếu Tá Lê Huấn, Khóa 18 Võ Bị. (Sau này, ông hy sinh trong trận Hạ Lào 1971.)
* Trung Đoàn 2 BB:
- Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1: Thiếu Tá Huỳnh Ngọc Chất, Khóa 16 Võ Bị. (Sau này, ông là Trung Tá Tiểu Khu Phó.) Thiếu Tá Lê Văn Định, Khóa 19 Võ Bị, thay thế. (Ông đã hy sinh trong trận Hạ Lào.)
- Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2: Thiếu Tá Hà Thúc Giác, Khóa 17 Võ Bị. (Sau này, ông là Trung Tá TTHL/ Đống Đa.) Thiếu Tá Trương Thành Hưng, Khóa 18 Võ Bị, thay thế và bị tử trận. Thiếu Tá Trần Ngọc Huế, Khóa 18 Võ Bị, thay thế và bị bắt trong trận Hạ Lào.
- Tiểu Đoàn Trường Tiểu Đoàn 3: Thiếu Tá Nguyễn Hữu Thông, K16 Võ Bị. (Sau này, ông là Đại Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn, tự sát sau 1975.)
- Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 4: Thiếu Tá Vũ Văn Phao, Khóa 18 Võ Bị, tử trận. Thiếu Tá Huỳnh Văn Kiên, Khóa 18 Võ Bị, thay thế, cũng tử trận sau đó.
- Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5: Thiếu Tá Nguyễn Phú Thọ, Khóa 16 Võ Bị. (Sau này, ông là Trung Tá Tiểu Khu Phó Tiểu Khu Định Tường.) Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thiên, Khóa 16 Võ Bị thay thế.
* Trung đoàn 3 BB:
- Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1/3: Thiếu Tá Phan Ngọc Lương, Khóa 17 Võ Bị. (Ông bị thương nặng phải giải ngũ. Sau 75, ông bị VC xử bắn.)
- Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/3: Thiếu Tá Nguyễn Đăng Thục, Khóa 16 Võ Bị. (Sau, ông làm Quận Trưởng Phú Thứ.) Thiếu Tá Phạm Văn Đính, Khóa 9 SQTB Thủ Đức, thay thế. (Sau, ông, là Trung Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 56.)118 Đa Hiệu 113
- Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3/3: Thiếu Tá Bửu Bình,
Khóa 17 Võ Bị. Thiếu Tá Nguyễn Văn Bình, Khóa 19 Võ Bị.
(Sau, ông là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 54 BB và bị VC xử bắn trong tù.)
- Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 4/3: Thiếu Tá Tôn Thất Việt, Khóa 16 Võ Bị. Sau đó, là Thiếu Tá Huỳnh Như Xuân, Khóa 19 Võ Bị. (Sau, ông là Trung Tá Trung Đoàn Phó Trung Đoàn 3 BB, rồi bị chết trong tù “cải tạo”.)
* Trung đoàn 54 BB:
- Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu đoàn 1/54: Thiếu Tá Trương Đình Khá, Khóa 16 Võ Bị. (Sau này, ông là Trung Tá thuộc Trường Cao Đẳng Quốc Phòng.)
- Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/54: Thiếu Tá Lê Trực, Khóa 20 Võ Bị.
- Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3/54: Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thiên, Khóa 16 Võ Bị, sau khi rời Tiểu Đoàn 5/2.
- Tiểu Đoàn 4/54: Thiếu Tá Trần Công Đài, Khóa 13 Võ Bị.
Bị Chú: Thỉnh thoảng cũng có những sĩ quan trừ bị thay vào, nhưng không nhiều lắm.
Ý định của Tướng Trưởng coi như hoàn thành.Khi Tướng Trưởng về nắm Tư Lệnh Quân Đoàn I có lúc:
* Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 1: Đại Tá Võ Toàn, K17 VB, sau do Trung Tá Nguyễn Văn Diệp, K19 VB, đảm trách.
* Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 3: Trung Tá Hoàng Mão, K 20 VB
* Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 51: Trung Tá Trần Kim Đức, K19 VB
* Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 54: Trung Tá Nguyễn Văn Bình, K19 VB
Về sau khi chiến cuộc leo thang, phải ở cấp độ cao hơn, Sư Đoàn 1 Bộ Binh 119 như trung đoàn hay sư đoàn, mới giải quyết nổi xung đột ở các mặt trận, Tướng Trưởng vẫn chọn hầu hết dân Võ Bị làm trung đoàn trưởng.
Trên đây tôi đã nói qua về việc chọn các sĩ quan ưu tú của Trường VBQG Đà Lạt làm sĩ quan chỉ huy chính cho các đơn vị chiến đấu của Tướng Trưởng.
b. Riêng các trưởng phòng, ban của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn thì ông lại chọn theo cách khác. Ông không phân biệt xuất thân từ quân trường nào, không cần bằng cấp chuyên môn, hay ám số chuyên nghiệp; mà chỉ cần khả năng, tinh thần trách nhiệm, và đạo đức. Tôi xin kể ra đây vài trường hợp:
- Thiếu tá Bửu Nhơn (sau là trung tá), Phụ Tá Trưởng Phòng 3/ SĐ đi làm Trưởng Phòng 4/ SĐ1.
- Thiếu Tá Nguyễn Xuân Lộc (sau này là Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Cảnh sát Vùng 1 CT), Trưởng Ban Hành Quân Phòng 3/SĐ đi làm Trưởng Phòng Nhì /SĐ.
- Đặc biệt là Đại úy Nguyễn Hữu Ngật (sau này là thiếu tá), Trưởng Toán TTHQ /SĐ làm Đại Đội Trưởng Tổng Hành Đại Đội Hắc Báo là Đại Đội Trinh Sát tinh nhuệ nhất của Sư Đòan 1 Bộ Binh VNCH, Vùng 1 Chiến Thuật, tại Huế 1966.120 Đa Hiệu 113Dinh, kiêm luôn Trưởng Phòng An ninh Quân Đội /SĐ1.
Cũng xin nhắc, những việc bổ nhiệm như thế này, phải trình qua các đơn vị trưởng thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, rất là khó khăn vì không đúng nguyên tắc bổ nhiệm. Riêng đối với Tướng Trưởng thì bất chấp. Việc bổ nhiệm các sĩ quan như trên đã làm cho một số anh em thắc mắc. Riêng cá nhân tôi thì xin bảo đảm, Tướng Trưởng không lấy một xu. Cứ 3 tháng, Tư Lệnh có quỹ đen khoản 70 ngàn. Tướng Trưởng đã chia làm 3 trong đó Tư Lệnh Phó và Tham Mưu Trưởng hết hai phần. Tôi đã thấy Thiếu Tá Bảo Thọ Chánh Văn Phòng Tư Lệnh trao cái phong bì cho Tham Mưu Trưởng một lần.
c. Tướng Trưởng và lòng nhân ái:
Với nước da ngăm đen, ít nói, không cười nên trông ông đến lạnh lùng. Nhưng khi biết rõ về ông thì mới hiểu Tướng Trưởng sống rất nhiều về nội tâm. Hàng ngày, sau khi hợp tham mưu xong là lên trực thăng bay đến chiều tối. Ông thường đi thăm các tiền đồn hẻo lánh, hoặc các nơi đang đụng độ địch, tận đến vùng Phi quân Sự, hay dọc theo dãy Trường Sơn hiểm trở. Mưa cũng như nắng, chương trình không bao giờ thay đổi. Đôi chút rảnh việc là ông cùng vợ và phái đoàn xã hội đi thăm các Quân Y Viện, nơi các thương binh đang điều trị, hoặc đến các gia đình có con em đã hy sinh vì Tổ Quốc.
Theo lời kể của Đại Úy Lương Khánh Xiêu, hiện ở Austin Texas với tôi, như sau: Vào thời gian Xiêu dạy kèm con của Tướng Trưởng tại tư dinh của ông, một bữa anh đến trễ. Khi trời đang mưa, thì anh gặp Tướng Trưởng. Xiêu nói dối là đi thăm mộ ông già về vì anh nghe nói bị mưa bão gây hư hại. Tưởng là nói dối cho qua cơn nguy, ai ngờ khoảng hơn tuần sau có người đem đến 20 bao xi măng cho anh, bảo là của Tỉnh. (Tỉnh trưởng lúc đó là Đại Tá Lê Văn Thân. (Sau này ông lên chuẩn tướng.)) Sau này, khi xuất viện, Xiêu cũng được Tướng Trưởng cho về phục vụ tại tư dinh ở Đà Nẵng. Ngay lúc qua Mỹ, cũng đã hai lần đích thân Tướng Trưởng Sư Đoàn 1 Bộ Binh 121gọi điện thăm Xiêu. Theo lời kể của Tướng Cẩm, hiện ở tại San Antonio, thì Tướng Trưởng và vợ đã hai lần ghé thăm gia đình ông ta.
Một buổi chiều năm 1969, vừa bước chân ra khỏi phòng thì tôi gặp Thiếu Tá Bảo Thọ, Chánh Văn Phòng Tư Lệnh. Anh Thọ bảo tôi
- “Anh chuẩn bị chiều mai đúng 7 giờ, sang tư dinh thiếu tướng ăn cơm.”
Cùng lúc đó có Đại Tá Phạm Cao Đông, Tham Mưu Trưởng. Đại Tá Đông hỏi,
- “Thiếu Tướng có mời ai nữa không?”
- “Thưa là chỉ có mời anh Trữ mà thôi. Thiếu Tá Thọ trả lời.
Quay qua tôi Đại Tá Đông nói,
- “Hãnh diện cho anh lắm đó.”
Riêng tôi hãnh diện đâu không thấy, hay chưa nhận ra sự hãnh diện này mà lòng đầy hoang mang lo lắng, khi nghĩ đến nét mặt lạnh như tiền, như sắt đá của vị Tư Lệnh. Đúng 7 giờ kém 15, tôi có mặt tại tư dinh của ông, gần Bệnh Viện Nguyễn Tri Phương. Ngó xung quanh, tôi chẳng thấy ai, kể cả Thiếu Tá Thọ, cũng như Đại Úy Nguyễn văn Hoá - Khóa 19, và Đại Úy Tôn Thất Khôi. Hai anh vốn là hai sĩ quan tùy viên của Tướng Trưởng. (Ba anh nầy hiện đang sống tại California.) Đúng 7 giờ, Tướng Trưởng mặc thường phục đi ra. Sau khi tôi đứng nghiêm chào, ông bảo tôi ngồi xuống rồi nói,
- “Em uống gì thì cứ tự tiện lấy mà dùng.”
Thấy tôi ngồi yên lặng, Thiếu Tướng Trưởng bèn rót một ly nước cam cho tôi, rồi tự rót cho mình một ly Johnny Walker nhãn đen. Đây là sở thích đặc biệt của ông. Lúc đó, tôi không biết nói gì vì không biết rõ mục đích tại sao ông cho gọi tôi. Vì thế tôi chỉ biết ngồi im lặng. Tệ quá, đến bây giờ tôi vẫn cảm thấy xấu hổ vì thái độ của mình. Tôi chỉ nghe ông nói,122 Đa Hiệu 113
- “Quê qua ở Bến Tre. Qua mong sau này bình yên trở về quê vui cảnh ruộng vườn.”
Cùng lúc đó, tôi thấy có một thanh niên khoảng 20 tuổi bước ra. Chưa kịp chào thi Tướng Trưởng đã búng tay bảo rời khỏi nơi này. Anh kia lủi thủi quay mặt đi khỏi. Sau này tôi được biết anh này là em họ của bà Trưởng, bị đổi ra đây, và được Tướng Trường cho ra trung đoàn giới tuyến. Một người em họ của Tướng Trưởng là Thượng Sĩ Ngô Quang Hiếu ở TTHL/ SĐ. Theo lệnh của Chỉ Huy Trưởng, ông này phải lánh mặt khi có Tướng Trưởng xuất hiện. (Th/Tá Hoàng Trai - K19 VB - Chỉ Huy Phó, đã kể với tôi.)
Sau khoảng một tiếng, tôi thấy không khí yên lặng quá nên đứng dậy cám ơn ông và xin phép ra về. Cho đến giờ phút này tôi lòng vẫn tự hỏi tại sao mình lại có được một đặc ân như thế này mà chưa tìm được giải đáp? Trước khi nhậm chức Tư Lệnh Quân Đoàn IV, Tướng Trưởng còn bảo Th/Tá Thọ qua nói cho tôi cùng đi với ông một lần nữa. Tôi viện cớ xa nhà xin ở lại. Th/T Thọ bảo nếu tôi không đi thì anh ta cũng không. Một tuần lễ sau, khoảng 9 giờ tối, Th/T Thọ báo cho tôi biết rằng anh vừa nhận được điện thoại của Tướng Trưởng, từ Cần Thơ. Ông bảo sắp xếp mà vào. Tôi, một lần nữa lại phụ ơn ông. Thay vào chỗ của hai chúng tôi là Th/Tá Trần Thái Bửu, Trung Tâm Trưởng TTHQ/ SĐ và Trung Úy Nguyễn Văn Thuận, thuộc văn phòng Tham Mưu Trưởng. Thật ra mà nói, tôi rất ngại làm việc với Tướng Trưởng. Một lý do khác là thầy trình độ ngoại ngữ của tôi không đủ, nên tôi chỉ muốn đi học Anh Văn, rồi đi học khóa Bộ Binh Cao Cấp (Infantry Officer Advanced Course) tại Mỹ mà thôi./.
Trần Văn Trữ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét