Đêm cuối đông. Sương đặc như khói thuốc phiện, quấn lấy đèo Lũng Ải. Gió thổi qua rừng hồi già, mang theo hơi đất lạnh và tiếng cây nghiến nứt vỏ. Tôi lội dọc khe Khao Pài, chân rớm máu, miệng khô khốc, hơi thở đứt quãng như tiếng lá khô. 3 ngày rồi tôi chưa ăn gì, chỉ uống nước suối, nhai vỏ quế cho đỡ đói. Tôi từng là giáo viên dạy văn ở thị xã Cao Bằng. Năm ấy, chỉ vì giữ lại vài bản chép tay của một nhà văn bị cấm, tôi bị bắt. Họ nói tôi “truyền bá tư tưởng phản động”, “hoài nghi chế độ”.
<!>
Lúc nghe đọc bản án, tôi cười. Cười như kẻ đã hiểu rằng lý tưởng có thể chết trong tay những kẻ nhân danh nó.
Người ta giam tôi trong trại đá trên núi, nơi ngày và đêm chẳng khác nhau mấy. 14 tháng sau, tôi trốn. Không phải để tìm tự do, mà chỉ để thoát khỏi những cái nhìn chết chóc của những người tù khác, những đôi mắt đã thôi tin rằng con người còn có thể sống như người.
Giờ đây, giữa đêm sương miền Bắc, tôi vừa là kẻ đào tẩu, vừa là xác chết đi lạc. Mỗi tiếng động đều khiến tôi rùng mình. Tôi sợ người hơn sợ thú. Thú dữ có thể giết chết mình còn con người có thể lừa mình trở lại cạm bẫy.
Dưới kia, giữa màn sương xám, có một vệt khói mảnh bốc lên từ lưng đồi. Có khói là có người. Có người, nghĩa là còn hơi ấm. Tôi lết qua lối mòn, vượt mấy bụi nứa, tới bên một mái nhà sàn thấp. Ánh lửa bên trong hắt ra vàng đục. Tôi gõ nhẹ vào bậc cầu thang, rồi ngã lăn xuống.
Khi mở mắt, tôi thấy một gian nhà khói ám đen. Ánh lửa từ bếp hắt lên vách gỗ, tỏa ra mùi khói, mùi áo chàm, mùi đất ẩm.
Một người đàn bà ngồi bên bếp, khuôn mặt rám nắng, tóc búi thấp, trâm bạc cài lệch. Nàng nói nhỏ, giọng pha âm Tày:
- Ông tỉnh rồi à? Uống đi, cháo nếp có muối thôi, ấm bụng rồi tính.
Tôi nuốt từng ngụm nhỏ. Mùi cháo tan trong cổ họng như một thứ hạnh phúc lạc loài.
Nàng không hỏi tôi là ai, không hỏi vì sao tôi lang thang giữa đêm sương. Chỉ bảo:
- Gà rừng gáy canh cuối, ông đi. Dốc Pắc Rạ có đường mòn sang bên kia. Đêm nay sương dày, người ta không soi đèn lâu đâu.
Trong góc nhà có tiếng trẻ con thở. Hơi thở mỏng tang như sợi tơ, nhưng đủ khiến gian nhà ấm lên. Tôi nhắm mắt, để mùi khói, mùi sữa, mùi người len dần vào ngực mình.
Đêm xuống. Gió rừng lùa qua khe sàn, lửa bập bùng soi bóng nàng trên vách. Nàng nói, tay vẫn hong chiếc áo của tôi:
- Ông bị thương ở vai. Tôi có lá thuốc rừng.
Nàng lấy trong túi vải nhúm lá đã giã nát, đắp lên vết thương. Mùi lá ngai ngái, lạnh tê.
Nàng nói khẽ:
- Chồng tôi mất vì mìn của Trung Quốc. Giờ chỉ còn hai mẹ con. Đêm nào tôi cũng đốt lửa, sợ ma rừng tưởng nhà này không còn ai.
Tiếng suối ngoài hiên rì rầm như khúc Then cổ. Tôi im lặng. Có những nỗi mất không cần nói, vì nó tỏa ra mùi, ai ở gần cũng ngửi thấy.
Đứa nhỏ khóc oe. Nàng bế con, kéo tấm áo chàm cho bú. Trong ánh lửa, bầu vú căng sáng, mùi sữa người, mùi mồ hôi, mùi áo chàm ám khói, tất cả quện lại thành thứ hương nguyên sơ của sự sống. Nàng nhìn tôi, cười nhẹ:
- Người đi xa phải có hơi người mới sống nổi. Tôi cho ông ít sữa, để có sức mà đi.
Nàng cúi xuống, vắt những giọt trắng đục vào cái bát gỗ cũ kỹ, đưa cho tôi. Tôi run rẩy cầm lấy. Mùi sữa và mùi rừng tan vào nhau. Tôi uống chậm, từng ngụm. Hơi ấm từ bầu ngực người đàn bà vùng cao chảy qua tôi, làm tan hết cái rét và nỗi sợ.
Gà rừng gáy canh cuối. Nàng gói cho tôi một ống cơm lam, thêm gói muối mè. Nàng dặn:
- Thấy cây phách hoa vàng thì rẽ trái. Đừng ngoảnh lại.
Tôi cúi đầu, chạm trán lên mu bàn tay chai sạn của nàng. Không biết vì biết ơn hay vì sợ mất đi một điều gì, tôi bỗng nghẹn lại.
Nàng bế con ra cửa. Chuông gió vỏ hạt bưởi khẽ kêu leng keng trong sương.
Tôi đi. Gió rừng xóa nhanh dấu chân.
******
20 năm sau, tôi trở lại dốc Pắc Rạ. Giờ chẳng ai còn nhớ tới một kẻ vượt ngục vô danh. Những vụ án tư tưởng của thời ấy đã bị xếp vào ngăn hồ sơ cũ, bụi phủ kín. Người canh tù năm nào chắc cũng đã nghỉ hưu, hoặc nằm trong nghĩa trang phía sau dãy núi.
Tôi về bằng một tên khác, một khuôn mặt khác. Giấy tờ tôi mang theo là của người bạn bên kia biên giới giúp làm lại. Tôi nói giọng miền xuôi, ăn mặc như khách sưu tầm văn hóa dân tộc. Không ai nhận ra tôi từng là kẻ đã trốn khỏi trại đá trên dốc Cốc Sâm.
Thời gian đã xóa mọi dấu vết. Chỉ có tôi là không xóa được chính mình.
Tôi trở lại không phải để tìm lại quá khứ, mà để thắp nén nhang cho một hơi thở đã từng cứu mình.
Đời có nhiều thứ ta mang theo mãi, không phải là tội, mà là ơn. Mùi khói rừng và mùi sữa người đêm ấy vẫn bám vào trí nhớ tôi, như thứ hương không tan được trong gió.
Đường nhựa đã chồm qua đèo. Nhà sàn thưa dần, thay bằng mái tôn bạc. Phố huyện nay mang dáng dấp miền xuôi, mặt tiền bé, nhà hình ống sát nhau. Dưới chân dốc là quán nhỏ đề biển gỗ không màu nền: “Rượu ngô men lá - Măng chua - Cơm lam.”
Tôi gọi một chén rượu. Cô gái bưng ra, tầm đôi mươi, cổ tay đeo vòng bạc khắc hoa xoắn. Cô hỏi:
- Chú ở xa à?
- Ừ, xa lắm. Ở đây còn ai dệt thổ cẩm không?
Cô đáp, giọng nhẹ như hơi sương:
- Còn ít thôi. Mế con dệt đẹp lắm... mà mế mất lâu rồi.
Tôi sững người:
- Lâu chưa?
- Dạ, cũng đã được mươi mùa ngô. Người bản nói mế hay cười, đeo trâm bạc lệch một bên, tối nào cũng hong áo bên bếp.
Cô gái chỉ tay lên triền đồi:
- Mộ mế ở trên kia, dưới gốc cây phách. Khi hoa nở vàng, đồi sáng cả màu vàng.
Tôi đi theo cô lên đồi. Cỏ tranh phủ kín. Gió thổi qua, mùi đất rừng ngai ngái. Trên nấm mộ nhỏ có buộc một khăn Piêu bạc màu. Tôi quỳ xuống. Mùi khói, mùi sữa, mùi áo chàm, mùi rừng, tất cả trỗi dậy như một ký ức vật chất, chạm vào da thịt. Cô gái hỏi, giọng ngập ngừng:
- Chú với mế quen nhau hả?
Tôi gật:
- Có những người chỉ gặp một lần mà nhớ cả đời. Vì họ cho mình mượn hơi người để sống tiếp.
Cô lặng im. Cô nói, khẽ cười:
- Con không thích mùi nước hoa của khách. Con chỉ thích mùi khói bếp dính trên áo.
Tôi nhìn xuống tay cô, thấy chiếc vòng bạc giống hệt vòng của đứa trẻ năm xưa.
Gió đồi phách thổi qua, chuông gió leng keng. Tôi nhắm mắt, nghe trong gió có tiếng khèn bè vọng lại từ đâu đó. Tôi thấy mình trở về đêm sương năm ấy - bếp lửa, bát gỗ khum khum, bầu vú ấm, tiếng con khóc. Không có gì trên đời bền như mùi cơ thể phụ nữ. Mùi giữ lại cả khi người đã khuất. Tôi cúi đầu thật sâu, trán chạm đất ẩm. Rừng dậy gió. Trong hơi gió ấy, tôi nghe như có hơi thở người đàn bà năm xưa, hơi người trong sương núi.
Ghi lại vần thơ này làm kỷ niệm về một hơi ấm đã đi qua:
Ta đi nửa kiếp tìm hơi thở,
Rừng lạnh bao năm chẳng đổi mùi.
Một bầu sữa ấm trong đêm tối,
Nuôi một tôi - phiêu bạt giữa loài người.
Nguyễn Xuân Vượng
Tây Bắc, những ngày lang thang khám phá

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét