Chiến Dịch Đỗ Xá 1964: - Đỗ Xá từng là một mật khu bất khả xâm phạm của Cộng sản vì địa thế hiểm trở của nó. Mật khu này là một thung lũng sâu thẳm nằm nép mình vào dãy núi Trường Sơn tại đỉnh núi Ngọc Lĩnh cao vút (2598m), cao đến độ ánh sáng mặt trời không rọi xuống tới mặt đất của thung lũng được. Vì địa danh này nằm ở giáp giới 3 tỉnh Kontum, Quảng Tín và Quảng Nam, nên được Cộng sản dùng làm địa điểm xâm nhập quân từ đường mòn Hồ Chí Minh vào nội địa miềnTrung (Quảng Tín nay nhập với bắc tỉnh Quảng Ngãi).
<!>
Khu này cũng là khu tồn trữ đạn dược, lương thực và cũng là nơi dưỡng quân và điều trị thương binh. Vì các đơn vị của QLVNCH không tài nào xâm nhập vào vùng này, nên nó được ấn định là vùng oanh kích tự do. Do đó, các phóng pháo cơ, sau các phi vụ yểm trợ trên đường bay trở về căn cứ, được phép tự do trút hết bom đạn dư thừa xuống vùng đất này.
Ngày thứ hai 27 tháng 4 năm 1964, Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn 2 phát động chiến dịch Đỗ Xá (Hành Quân Quyết Thắng 202) đánh thẳng vào thung lũng Khe Nước Lah, sào huyệt bất khả xâm phạm của tướng Cộng sản Nguyễn Đôn. Tướng Trí giao việc điều nghiên và thiết kế chiến dịch này cho Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu, lúc đó giữ chức Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2, với sự trợ lực của Đại Tá Lữ Lan, lúc đó giữ chức Tư Lệnh Phó Hành Quân.
Bộ Chỉ Huy Mặt Trận Tiền Phương được thiết lập tại phi trường Quảng Ngãi. Các đơn vị chủ lực tham dự trong chiến dịch này được chia làm 2 toán.Toán A gồm 3 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Sơn Thương. Toán B gồm các đơn vị của Trung Đoàn 50, thuộc Sư Đoàn 25, dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Phan Trọng Chinh. 2 toán quân này còn được tăng phái bởi Tiểu Đoàn 5 Dù (Đại Úy Ngô Quang Trưởng được đặc cách vinh thăng Thiếu Tá tại mặt trận trong chiến dịch này). Vì trước đó, khi còn phục vụ tại Quân Đoàn 1 với tư cách phụ trách hành quân, Thiếu Tá Hiếu từng cộng tác mật thiết với Thủy Quân Lục Chiến Mỹ ở Đà Nẵng qua trung gian của Th/Tá TQLC/HK Wagner, cố vấn cho Quân Đoàn 1, nên Đại Tá Hiếu đã khéo ngoại giao với Bộ Tư Lệnh TQLC/HK ở Đà Nẵng biệt phái một phi đoàn trực thăng H-34, Phi Đoàn HMM-364 TQLC/HK được tăng phái bởi 5 trực thăng võ trang UH-1B của QLHK và 2 trực thăng UH-34 của KQVN, yểm trợ công tác chuyển vận chiến binh vào mật khu Đỗ Xá. Ngoài ra có thêm Phi Đoàn 52 thuộc Lục Quân Hoa Kỳ yểm trợ chuyên chở các toán quân và KQVN cũng yểm trợ cuộc đổ quân với 2 khu trục Skyraider. Vùng hành quân bao phủ 1 diện tích rừng rú rộng 60 cây số vuông.
Bước vào ngày thứ hai của cuộc hành quân, ngày 29/4, một đơn vị Biệt Động Quân phá hủy nhiều cơ sở Cộng sản và tịch thu 1 khẩu đại liên hạng nặng 30 ly, 1 khẩu đại liên hạng nhẹ 24x29, 11 khẩu súng trường AR-15, 6 khẩu liên thanh và 144 súng cá nhân. Họ cũng tịch thâu và phá hủy 60 kí lô chất nổ TNT, một ngàn bịch chất nổ hạng nặng cùng thêm một số lượng lớn lựu đạn, mìn, đạn dược, tài liệu và quân cụ và 5 tấn gạo.
Trung Tướng Lữ Lan còn nhớ trong một phi vụ trinh sát mặt trận, trực thăng chỉ huy chở Tướng Trí, Đại Tá Lữ Lan, Thiếu Tá Minh (sau này là Tư Lệnh Không Quân) và một Đại Tá Cố Vấn Mỹ, khi bay vào thung lũng thì bị cao xạ Cộng sản đặt trên các đồi núi bắn đuổi theo tới tấp. Viên phi công đã tài tình hạ thấp trực thăng xuống bay lướt sát các ngọn cây, khiến địch không điều chỉnh tác xạ bắn theo kịp. Tuy vậy, thân và bụng trực thăng cũng vẫn bị bắn lủng nhiều chỗ.
Hành Quân Đỗ Xá phá hủy hệ thống truyền tin của bộ chỉ huy Cộng sản gồm 5 trạm phát thanh, 1 trạm dùng để liên lạc với phía bắc vĩ tuyến 17, và 4 trạm dùng để liên lạc với các đơn vị Cộng sản hoạt động tại các tỉnh lỵ. Hành Quân Đỗ Xá kéo dài 1 tháng và chấm dứt ngày 27/5/1964. Lực lượng QLVNCH tổn thất 23 chết, 87 bị thương, 3 khẩu súng, 4 trực thăng và 2 khu trục Skyraider.Địch tổn thất 62 chết, 17 bị bắt, 2 súng phòng không 52 ly, 1 súng liên thanh 30 ly, 69 súng cá nhân và một số lượng lớn mìn và lựu đạn, các dụng cụ công binh, chất nổ, thuốc men và tài liệu. Ngoài ra, QLVNCH còn phá hủy 185 căn nhà, 17 tấn lương thực và 292 mẫu mùa màng. Chiến Dịch Đỗ Xá là kết quả của sự phối hợp giữa hùng khí của một tay tác chiến gan dạ - Tướng Đỗ Cao Trí - và tài tham mưu của một tay chiến lược thâm thúy - Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu. Hai anh em Trí/Hiếu đã dám tung một đạo quân cấp Sư Đoàn gồm 1 Trung Đoàn Bộ Binh, 3 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân và 1 Tiểu Đoàn Dù vào tận sào huyệt kiên cố của địch quân, một việc táo bạo mà trước nay chưa một Tướng Lãnh nào làm nổi. Thật vậy, trước khi Tướng Nguyễn Khánh và Tướng Đỗ Cao Trí hoán chuyển Quân Đoàn 2 và Quân Đoàn 1 với nhau, Tướng Khánh cũng đã thử tài tung quân vào mật khu Đỗ Xá, với sự trợ lực của Trung Tá Ngô Dzu, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2. Nhưng đã rút lui vì đạo quân tung vào, bị địch quân CS đánh dội trở ra mất một Tiểu Đoàn.
THỦY QUÂN LỤC CHIẾN THAM GIA CHIẾN DỊCH ĐỖ XÁ:
Đỗ Xá, một vùng rừng núi hiểm trở, nằm giữa ranh giới của 3 tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín và Kontum. Địa hình nơi đó được vẽ bằng những đườngđỉnh cong queo màu nâu sậm, chứ không phải là những vòng cao độ như những cao điểm khác mà ta thường thấy trên bản đồ.
Từ thời chiến tranh Đông dương lần thứ nhất (1945-1954) cho đến khi cuộc chiến Đông dương lần thứ nhì (1960-1975) bắt đầu, và kéo dài mãi đến thời điểm của bài này (1963), Đỗ Xá là 1 mật khu bất khả xâm phạm của quân Cộng sản. Không 1 đơn vị nào của Quân đội Pháp-Việt (1945-1954) hoặc của QLVNCH (1960-1963) có thể vào nơi đó.Nhờ địa thế hiểm trở với núi rừng bao bọc, dễ thủ khó công nên các đơn vị quân đội quốc gia muốn hành quân vào Đỗ Xá đều thất bại. Với những lợi điểm trên, Cộng quân đã coi Đỗ Xá là 1 an toàn khu và đã dùng nơi đó làm 1 hậu cần to lớn để cất giấu lương thực, vũ khí, đạn dược, cùng xây cất quân y viện, và đây cũng là nơi dưỡng quân lý tưởng cho bọn chúng.
Vì nghĩ rằng nơi đây là vùng bất khả xâm phạm nên cộng sản chỉ dùng một số quân nhỏ để bảo vệ mật khu. Nếu chúng ta tấn công đại qui mô vào thì sẽ bị đánh bật ra ngay như chúng ta và quân Liên hiệp Pháp đã từng bị. Để phá tan mật khu Đỗ Xá, bộ Tổng tham mưu QL/ VNCH đã lập kế hoạch hành quân (chiến dịch Đỗ Xá) bằng cách điều động các đơn vị của Quân đoàn 1 và Quân đoàn 2 làm lực lượng án ngữ, (Blocking forces) bao vây vòng ngoài của mật khu, và Lữ đoàn TQLC/VN làm lực lượng xung kích (main force) đánh vào Đỗ Xá. (Liên đoàn TQLC/VN đã được nâng lên cấp Lữ đoàn từ đầu năm 1962,dưới sự chỉ huy của Trung tá Lê Nguyên Khang làm Tư lệnh, và Tư lệnh Phó kiêm Tham mưu trưởng là Thiếu tá Nguyễn Bá Liên, hai vị này vừa được vinh thăng ngày 1/4/1963; TQLC vẫn còn thống thuộc Hải quân VN). Để thi hành nhiệm vụ, Lữ đoàn TQLC đã xử dụng các đơn vị như sau:
- Tiểu đoàn 2 do Đại úy Nguyễn Thành Yên, Tiểu đoàn trưởng.
- Tiểu đoàn 4 do Đại úy Bùi Thế Lân, Tiểu đoàn trưởng.
- Tiểu đoàn Pháo binh do Đại úy Nguyễn Văn Trước, Tiểu đoàn trưởng.
- Pháo đội A sơn pháo 75 ly do Trung úy Đoàn Trọng Cảo, Pháo đội trưởng.
- Bộ chỉ huy Lữ đoàn.
Lực lượng Mũ xanh được đặt dưới sự điều động của Tư lệnh và Tư lệnh phó.
Toàn bộ quân số và quân dụng dành cho cuộc hành quân nầy được không vận bởi không quân sự Hoa kỳ loại C123 từ Saigon đến phi trường Quảng Ngãi, sau đó di chuyển bằng đường bộ đến phi trường quận Trà-Mi tỉnh Quảng Tín, và sau cùng thì nhảy diều hâu (một chiến thuật cảm tử; nhảy xuống ngay đầu của địch quân và đánh từ trong lòng địch đánh ra, đôi khi phải cận chiến nếu cần), vào Đỗ Xá với loại trực thăng H21 của Lục quân Hoa kỳ. Đây là 1 loại trực thăng cũ kỹ, mỗi lần chuyên chở được khoảng 8 chiến binh với đầy đủ vũ khí. Đợt đỗ quân đầu tiên mấy con “sâu rọm” (H21) còn sung sức nên nó cỏng nổi 8 cọp biển cùng một lúc, nhưng qua đợt 2 thì chỉ còn chở nổi 5 thủy thần, và đến những đợt sau nó chỉ còn mang nổi có 3 chiến sĩ mũ xanh. Bộ chỉ huy tiểu đoàn đi vào đợt 3. Toán tiền sát của tôi gồm 5 người, nhưng khi lên trực thăng chỉ có tôi, người hiệu thính viên và 1 cận vệ, còn 2 anh “nồi niêu xoong chảo” (hỏa đầu quân) phải đi chuyến sau. Vì sức chở của H21 quá yếu như vậy, nên bộ Tư lệnh đã xin thượng cấp liên lạc với TQLC/HK để được chuyển quân bằng những chiếc trực thăng H34 tối tân hơn.Nhờ vậy mà cuộc hành quân trực thăng vận đã hoàn tất vào khoảng 4 giờ chiều. Đóng quân tại bãi đỗ bộ một đêm, sáng hôm sau, đoàn quân lên đường tiến chiếm các mục tiêu ấn định. Bản doanh của bộ Tư lệnh LĐ đóng tại một trung tâm đỉnh núi.
Người viết và Chuẩn úy Thạnh mập (xin chuyển qua Pháo binh Nhảy dù sau khi tái ngủ cho đến năm 1975) được chỉ định làm tiền sát pháo binh cho TĐ4/TQLC của Đại úy Bùi Thế Lân. Tôi đi với cánh A tiểu đoàn trưởng; Thạnh mập đi cánh B tiểu đoàn phó, do Đại úy Tôn Thất Soạn chỉ huy. Tiểu đoàn được chia làm 2 cánh, cánh B do Đ/u tiểu đoàn phó chỉ huy đi trên đỉnh, Bộ chỉ huy tiểu đoàn cùng 2 đại đội đi chính giữa, lưng chừng núi.Để bảo vệ BCH/TĐ ông TĐT đã cho 1 đại đội đi sát chân núi. Địa thế quá hiểm trở, một bên là vách núi, một bên là vực thẳm, lỡ trật tay là rơi xuống vực ngay. Chúng tôi phải men theo con đường độc đạo do toán xích hầu dùng dao chặt cây để mở đường, đôi khi phải luồn dưới rễ cây mà tiến tới. Sau khi chiếm trọn mọi mục tiêu chỉ định mà không có đụng độ, có lẽ các đơn vị trú phòng của địch quân biết rằng không thể chống cự được với đoàn quân Cọp biển nên không dám nghênh chiến, và đã rút đi, Tiểu đoàn được dừng quân nghỉ ngơi lấy sức. Chúng tôi đóng quân tại một nơi, mà dưới chân núi có một con suối lớn chảy qua. Ông Tiểu đoàn trưởng đã điều động đại đội đi phía dưới lội qua bên kia suối, và bảo Đai đội trưởng cắt 1 trung đội làm tiền đồn nơi cao điểm, còn bộ chỉ huy thì lùi thấp xuống phía dưới để được gần con suối hơn.
Sau khi bố trí quân, Đại Úy Lân ra lệnh cho các Đại đội trưởng, ban 3 và 2 Tiền sát viên Pháo binh xác định điểm đứng. Vì địa hình quá giống nhau giữa những ngọn núi, mà bản đồ không có vẽ vòng cao độ, chỉ có đường đỉnh mà thôi, nên khi trình kết quả không tọa độ nào giống tọa độ nào! Vì vậy ông Tiểu đoàn trưởng phải xin Bộ Tư lệnh Lữ đoàn cho phi cơ quan sát L19 lên xác định giùm điểm đứng của đơn vị. Sau khi quan sát viên phi cơ cho tọa độ chính xác điểm đóng quân của tiểu đoàn thì thấy tất cả tọa độ của mọi người đều chấm sai cả. Tọa độ gần đúng nhất là của người Đề-lô nhưng khi đem so lại với tọa độ điểm đứng chính xác mà người Quan sát viên Phi cơ vừa cho thì tọa độ của anh chàng pháo thủ nầy cũng sai đến gần 1 cây số (700m). Sau khi có được điểm đứng chính xác, ông TĐT ra lệnh cho tôi lập những hỏa tập tiên liệu và bắn thử cho ông xem. Sau khi tôi gởi điện văn xin tác xạ, Pháo đội của ông Trường can, ồ không phải, xin lỗi ông Pháo đội trưởng PĐA/TQLC! phải gọi là Can trường mới đúng, đã bắn chính xác vào những điểm đã xin và ông TĐT tiểu đoàn Kình ngư rất hài lòng.
Trong những ngày dừng quân, chúng tôi xuống suối tắm rửa bơi lội, và cả tiểu đoàn được tha hồ mà ăn cá, vì dưới suối rất nhiều cá, chỉ cần 1 trái lựu đạn, cả một trung đội xơi cá mệt nghỉ. Cá suối rất to. Khi tiểu đoàn tiếp tục tiến quân, tôi ngửi thấy mùi thối, nhưng không biết vì sao! đến khi đi qua một chỗ sát bờ suối tôi thấy một bộ xương cá dài gần 2 thước, từ đó bốc lên một mùi hôi thúi nồng nặc, như vậy chứng tỏ cá suối cũng có nhiều con to như cá ở biển, chỉ cần một con thì cả một tiểu đội có thể vừa ăn cá kho vừa ăn canh cá nấu với lá tàu bay thoải mái.
Chúng tôi lần lượt tiến chiếm các mục tiêu ấn định. Có vài binh sĩ bị thương vì đạp phải chông. Nơi đây địch đã thiết lập rất nhiều bãi chông và hầm chông. Ban ngày băng rừng, leo dốc, ban đêm trải poncho ngủ ở lưng chừng núi. Điều đáng sợ nhất ở Đỗ Xá không phải là quân địch, không phải là những con muỗi rừng cũng không phải là những cây chông mà là những con vắt. Ngửi thấy hơi người là chúng nó búng lẹ như gió, bám được chỗ nào trên cơ thể của người chiến binh là nó không ngần ngại bám vào để hút máu; đến khi no cằng, nó tự nhả ra, nằm lăn trên mặt đất thưởng thức những gì nó thu hoạch được. Nếu nó hút máu người chưa đã thì không bao giờ chịu nhả ra, ta phải dùng tay dứt nó ra; nhiều con bám chặt quá chúng ta phải dùng thuốc lá trét lên mình nó, chờ cho nó say, ta mới rứt nó ra được. Nghe mấy bà già nói rằng, nếu một con vắt chui vào lỗ tai, nó sẽ mò vào óc, đẻ một bầy vắt con trong đầu của ta, và làm cho con người bị điên hoặc chết. Điều nầy tôi không biết có đúng không? Nhưng để cho yên trí, lúc nào trước khi ngủ, tôi cũng thoa thuốc trừ muỗi khắp người, và thấm thuốc vào bông gòn rồi nhét vô lỗ tai. Đã kỹ như vậy mà tôi vẫn “tránh trời không khỏi nắng”. Khi đoàn quân đi ngang qua bản doanh Bộ Tư lệnh, Tiểu đoàn được lệnh dừng lại để nhận thêm tiếp liệu phẩm. Tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó, Sĩ quan ban 3, và Đề-lô được lệnh vào họp để nhận lệnh hành quân của giai đoạn 2. Khi chúng tôi chui vào lều của Tư lệnh LĐ, thì Trung tá Khang hỏi tôi:
- Ông Lộc đạp phải chông hả?
- Đâu có Trung tá!
- Sao chân ông đầy máu thế?
Nhìn xuống, tôi thấy ống quần dính đầy máu; vén lên, tôi thấy một chú vắt to bằng ngón tay cái đang bám vào đầu gối của tôi để hút máu. Tôi vội lấy gói thuốc Rugby trong túi áo trận ra, rút một điếu, xé giấy quấn, rồi lấy những cọng thuốc thoa khắp mình con vật hút máu người, chờ một lúc lâu, nghĩ rằng con vắt đã say, tôi dùng những ngón tay bấu lấy nó, rồi rứt ra, nhưng nó vẫn bám chặt vào thịt của tôi, cuối cùng tôi phải dùng đến 10 thành công lực mới dứt dây nó ra được. Khi rứt được con con vắt ra rồi, thì máu từ đầu gối của tôi chảy ra càng nhiều, tội phải lấy cuộn băng cá nhân quấn vào nơi vắt cắn. Chỗ đó đã để lại trên đầu gối của tôi một vết thẹo, vết thẹo nầy tôi đã mang trên người suốt mấy chục năm qua và tôi đã gọi nó: Vết thẹo Đỗ Xá.
Cuộc hành quân dự trù 15 ngày, tôi đã chuẩn bị 2 cây thuốc lá Quân tiếp vụ loại Rugby đỏ để đủ hút trong những ngày hành quân, nhưng sau 15 ngày leo núi băng rừng, thì có lệnh triển hạn thêm 15 ngày nữa!! 90% lính chiến ngày xưa đều ghiền thuốc lá, và có lẽ những bạn ghiền ấy cũng biết nỗi khổ của người hút khi hết thuốc! Nó khổ sở biết chừng nào khi mình muốn hút mà trong túi không còn một điếu thuốc!Khi tấn công vào một điểm tiếp liệu của địch, chúng tôi đã mừng rỡ lúc khám phá ra một kho thuốc lá của cộng quân. Các Cọp biển chúng ta chia nhau những lá thuốc khô và phun khói ì xèo. Thằng đệ tử của tôi (các sĩ quan thường gọi những binh sĩ thân tín dưới quyền một cách thân mật: đệ tử, và ngược lại những người lính cũng gọi cấp chỉ huy của mình với danh từ thân thương: ông thầy) chạy đến trao cho tôi một điếu thuốc lá quấn sẵn, và một xấp lá thuốc khô. Sau khi rít một hơi vào, tôi ho sặc sụa vì thuốc nặng quá; tôi trả lại cho thằng đệ tử, nhưng vẫn giữ lại những lá thuốc khô phòng khi ghiền quá thì đốt lên bập bập cho đở cơn ghiền.
Chúng tôi tiếp tục tiến quân nhưng không có đụng độ, hành động chính của chúng tôi lúc đó là phá hủy kho tàng, cùng những thửa ruộng trồng lúa, bắp, khoai mì, và những hoa màu khác. Bên cánh tiểu đoàn 2 TQLC có đụng độ lẻ tẻ và có thu hoạch nhiều hơn. Các Thủy thần bên đó đã phá hủy được một quân y viện rộng lớn, bắt sống được 1 quân y sĩ và 4 y tá của địch,tịch thu rất nhiều y dược và dụng cụ y khoa, cùng trung tâm truyền tin và điện đài, những trại nhà cho quân đội CS trú ngụ.
Sau 1 tháng dẫm nát mật khu Đỗ Xá, toàn bộ Lữ đoàn TQLC hành quân được trực thăng bốc về Quận lỵ Sông cầu ở phía nam đèo Cù mông tỉnh Bình Định, để dưỡng quân, sau đó tiếp tục hành quân vào vùng mật khu An lão của cộng sản. Sự tiến chiếm mật khu Đỗ Xá của những Thủy thần Mũ xanh, trong chiến dịch Đỗ Xá năm 1963, tuy chỉ thu hoạch một kết quả rất khiêm nhường, nhưng đó là bước khởi đầu cho các Thiên thần Mũ đỏ của Sư đoàn Nhảy Dù VN cùng các Sơn thần Mũ nâu của Quân đoàn 2 sau nầy nhảy vào Đỗ Xá nhiều lần; và họ đã thu đoạt được nhiều kết quả về nhân mạng cũng như quân trang, quân khí của địch quân.
Đỗ Xá không còn là 1 an toàn khu của Cộng sản nữa.
Nguyễn Văn Tín
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét