“Lòng thì vẫn hẹn lòng cơn đau nguôi ngoai, Sao nỗi nhớ mỗi ngày mỗi đầy…”(Trầm tử thiêng) “Thế nào cũng phải đi. Đêm nay phải rời Boston, đi càng xa càng tốt. Phải rời bỏ nơi nầy, nơi kinh khủng ấy. Không một lý do gì, không một ngần ngại gì có thể cản trở chuyến đi. Không thể ở lại một giờ, một ngày nào nữa.”Khi Thủy cho xe ra khỏi Exit 20 để vào Mass-Pike 90 West, trời bỗng đổ tuyết nhiều khiến Thủy càng thêm khẳng định ý chí cương quyết ra đi như thế. Dù tuyết có rơi nặng như thế nào cũng đi. Từ nhỏ, Thủy đã có tính cương quyết. Đó là nhận xét của ba, nhưng mẹ Thủy thì cho rằng đó là cái tính bướng.
<!>
“Nó ỷ nó là con út, ai cũng cưng chìu, nên nó bướng vậy.” Thủy không nghĩ là mình bướng nhưng cô ta cũng không cải chính hay cãi lại mẹ. Thủy thương mẹ, thương mẹ lắm, nên dù mẹ có nói gì khiến Thủy cho là sai, là không đúng thì Thủy cũng làm thinh. Nói lại có thể làm cho mẹ giận, mẹ buồn nên cô ta chịu im. Đối với mẹ, im lặng chịu đựng là tốt nhất.
Tuyết đổ nặng thật! Sau khi ghé lấy ticket ở toll, Thủy cho xe vào lane giữa, để khỏi phải phiền khi có xe từ trong exit ra bên tay phải và tránh lane bên trái cho những xe muốn chạy nhanh hơn. Đi đường xa, chọn lane giữa là kinh nghiệm của Thủy. Trời đã tối hẳn và vì tuyết đang đổ, sợ đường trơn, Thủy giữ tốc độ trung bình 55 dặm một giờ.
Càng lúc, tuyết đổ càng nặng, bông tuyết càng lớn. Có cục tuyết to bằng trái pingpong, nhiều bông to bằng quả bóng tennis. Vì qua khỏi trạm, Thủy cho xe chạy nhanh hơn nên bông tuyết đập vào kính xe càng nhiều. Thủy cho cần gạt chạy nhanh thêm một nấc nữa để thấy rõ đường đi. Gió thổi mạnh vì hai bên đường là những khoảng trống, không có gì cản gió. Nhìn kỹ, Thủy thấy rõ tuyết đang bị thổi ngang, không phải theo đường thẳng từ trên cao xuống. Điều đó cho thấy gió thổi mạnh lắm.
Trên đường đêm một mình, Thủy bỗng nhớ đến mẹ. Ai cũng vậy! Khi gian khổ, cô đơn người ta thường nghĩ đến mẹ. Thủy thấy hoàn cảnh mình bây giờ cũng giống như Thúy Kiều, một tác phẩm Thủy đã học và ưa thích như mọi người. Cũng trên đường đời xa lắc, không thấy ngày về, và nhớ mẹ, buồn cho thân phận mình, Thúy Kiều đã than:
Dặm nghìn nước thẳm non xa
Biết đâu thân phận con ra thế nầy.
Bây giờ, mấy trăm năm sau Thúy Kiều, số phận Thủy cũng đang trên con đường đêm mù mịt. Thủy gánh hết mọi cay đắng của cuộc đời cũng như Thúy Kiều ngày xưa vậy. Số phận đàn bà, bất cứ dưới chế độ nào, thời nào cũng giống nhau. Khác là khác ở cách đối xử. Ngày xưa thì công khai. Ngày nay thì núp lén, che dấu, ngụy trang để khỏi bị pháp luật trừng trị, nhưng bản chất giống nhau, hoàn toàn giống nhau!
Thấy hơi lạnh, Thủy tăng gió hơi nóng trong xe. Điều chỉnh nút cho gió thổi vào chân. Tuy ở vùng đông bắc Hoa Kỳ đã mấy năm, xứ của tuyết giá nhưng Thủy rất sợ lạnh. Thủy thường thấy lạnh ở hai chân, nhất là khi lái xe.
Bỏ Nam mà đi, Thủy nhớ tới Minh nhiều hơn. Minh là người đầu tiên, là con người hào hùng trong quân phục, trong phong cách nói năng, trong cách xử thế và cả trong khi ở chiến trường. Yêu Minh, bao giờ Thủy cũng sợ, cũng bị ám ảnh sẽ trở thành “góa phụ chít khăn tang” như người ta thường nói. Người đi không bao giờ về. Minh đi và Minh cũng đã không về. Súng đạn rền trời, chiến trận triền miên. Đơn vị Tổng Trừ Bị của Minh đánh nhau khắp mọi nơi, khắp bốn vùng chiến thuật, từ miền đồng bằng sông Cửu Long, Cao nguyên, “Kontum kiêu hùng”, ở đó Minh cũng kiêu hùng, cho đến “Trị Thiên vùng dậy” khi Minh và lính của Minh tham chiến ở đó. Người ta hát đúng đấy. “Em sợ một điều mà em không dám nghĩ” (1) vì càng nghĩ đến càng thêm sợ!
Càng sợ, Thủy càng yêu Minh thêm, và càng liều với Minh. Kết quả là đứa con không cha đang ngồi ghế bên cạnh trong xe. Chú bé gần mười tuổi. Thủy đưa tay vuốt tóc con đang ngủ, rồi vội vàng nhìn thẳng ra phía trước vì đường trơn và khó thấy được xa.
Có lúc tuyết cũng bớt nhưng khoảng nhìn phía trước vẫn nhìn xa không được rõ. Các bông tuyết dày cản luồng ánh sáng từ đầu xe phóng ra. Thỉnh thoảng có một chiếc xe qua mặt ở phía tay trái. Bánh xe của chiếc xe bên cạnh làm tuyết văng tung toé lên mặt kính xe Thủy làm cho Thủy hoảng hồn. Tuy nhiên, trong thoáng chốc, cái cần gạt làm cho mặt kính rõ trở lại, Thủy thấy được đường xe, không rõ lắm, vì tuyết che mất những lằn vàng, trắng vẽ trên mặt đường, Thủy cứ theo vết xe trước mà chạy.
Việc Thủy chỉ mới có người yêu mà đã có con làm cho Thủy buồn bực không ít. Trước hết là với mẹ, với bà con nội ngoại. Ba Thủy và các anh, không ai có ý kiến gi. Nhưng với bạn đồng nghiệp, các cô giáo dạy cùng trường, Thủy hoàn toàn mang nặng mặc cảm. Ở trong cái tỉnh lỵ bé nhỏ đó, gia đình Thủy sống cũng đã vài đời. Không ít người cho là gia đình Thủy có danh giá. Ba Thủy đã có lần nói với con trai lớn rằng ông không muốn làm sui gia với ông Cửu Lợi, người có cô con gái khá đẹp mà anh cả của Thủy muốn cưới. Việc hôn nhân dùng dằng chưa được một năm thì chiến tranh Pháp Việt xảy ra. Anh cả của Thủy bị Việt Minh giết. Còn gia đình ông Cửu Lợi tản cư rồi chạy ra Thanh Hóa, không trở lại nhà cũ. Mọi việc đã rơi vào quên lãng.
Việc làm của Thủy khác chi mai mỉa, khơi lại sự tự hào mà ba Thủy đã có hồi ấy. Người ta sẽ lấy chuyện của Thủy để đàm tiếu chăng? Thủy không cần. Rồi mọi chuyện sẽ qua đi như chuyện của anh Thủy vậy. Hồi ấy, Thủy đã thở dài: “Hơi đâu mà sống cho người ta!”
Đứa bé chưa được môt tuổi thì Minh tử trận. Thủy sống với con. Tuy không có cha, con của Thủy vẫn vui như mọi đứa bé khác. Nó chưa có ý niệm về việc có cha hay không cha. Và rồi Thủy dẫn con chạy loạn tháng Tư/ 1975. Dần dà, Thủy vượt biên tới trại tỵ nạn Poulo Bidong.
Tuyết lại rơi nặng hơn. Lắng tai, Thủy có thể nghe cả tiếng động nhè nhẹ của những bông tuyết lớn đập vào kính chắn gió.
Một mình đem con vượt biên, Thủy sợ Việt Cộng hơn là sợ cuộc sống cô đơn, nổi trôi ở xứ người. Ngay cả khi ở trại tỵ nạn, chỉ một mẹ một con, vậy mà bao giờ Thủy cũng thấy vui. Mai mỉa là điều sống xa quê mà lại thấy vui. Đó là một thực tế, trái ngược với tâm tính, với truyền thống của người Việt Nam. Nếu ba Thủy biết, ông sẽ buồn lắm. Nhưng giả thử ông cụ còn sống đến sau ngày 30 tháng Tư chắc gì ông không bỏ xứ mà đi như bao nhiêu người khác. Ai có thể sống dưới một chế độ hà khắc, không chỉ có mũi súng của tên công an khi nào cũng như dí vào lưng mình, kẻ thống trị còn thắt chặt cái bao tử của người dân. Người ta hy vọng có độc lập, có tự do để cuộc sống được hạnh phúc hơn. Ăn ngon hơn, mặc ấm hơn. Đó là điều rất tự nhiên, là điều ai ai cũng mong muốn. Cảnh sống đã hoàn toàn ngược lại, không có tự do, cả tự do mưu cầu hạnh phúc. Thế rồi ai cũng tìm cách đi. Thủy cũng đi, đi vì tương lai của con, hơn là vì tương lai của Thủy.
Hình như tuyết nhẹ hơn. Thủy thấy đèn đỏ sau đuôi những chiếc xe đi trước rõ hơn. Đèn của những chiếc xe chạy ngược chiều cũng rõ hơn. Con đường 90 West đang chạy xuống một thung lũng cạn, xa bên kia, con đường lại leo lên một ngọn đồi theo một độ hơi cong. Địa thế ấy làm cho Thủy thấy rõ các ngọn đèn đỏ xe chạy cùng chiều trước Thủy, và những ngọn đèn trắng của những chiếc xe chạy ngược chiều, trông chúng như những con rồng đang uốn khúc. Phía bên nầy là con rồng đỏ; phía bên kia là con rồng vàng. Thủy có nhận xét đó sau khi tới Mỹ một ít lâu, sau mấy lần đi xe đêm. Boston ở vùng đông bắc nước Mỹ, có nhiều đồi núi chập chùng, rất khác với miền Nam là những cánh đồng bằng phẳng, đường xá thẳng tắp. Vùng đồi núi nầy làm cho xa lộ không được thẳng như ở miền Nam mà nhiều khi trông nó như rồng uốn khúc. Nó tạo thành những con rồng vàng, đỏ hết sức đẹp. Thủy nhớ lại một lần, hôm đó từ Nữu Ước về thì trời đã tối. Ra khỏi thành phố lớn đó, khi bắt đầu vượt vùng đồi, chợt thấy những con rồng vàng đỏ, Thủy như bàng hoàng, thích thú một cách kỳ lạ. Nó hơn xa những con rồng có đèn xanh đỏ Thủy đã từng thấy trong các dịp lễ Trung Thu. Những con rồng do đèn xe chạy trên xa lộ tạo thành trông vĩ đại hơn, uốn lượn hơn và vô cùng rực rỡ.
Đôi khi bất chợt, Thủy vượt qua một cây cầu, bên dưới không phải là sông mà lại là một xa lộ khác cắt ngang qua xa lộ Thủy đang đi. Thủy thấy những ngọn đèn đỏ vàng của những chiếc xe ngược xuôi của xa lộ kia. Thủy đóan chừng đó là Route 9, con đường lịch sử đi về phía Tây của những ngưởi Mỹ thời lập quốc. Con đường đó hồi xưa hết sức gập ghềnh và nguy hiểm, là con đường đi của những xe ngựa trạm hay xe ngựa dùng để chở đồ đạc của những người di cư Tây Tiến mà Thủy đã từng thấy trong những phim cao bồi.
Thủy tới trại tỵ nạn với đứa con trai ba tuổi. Lúc bấy giờ đồng bào tới trại đông lắm. Các “long-house” đều chật ních, bệnh viện cũng đầy bệnh nhân. Với tinh thần hoạt động xã hội đã có từ nhỏ, Thủy xin làm việc thiện nguyện ở bệnh viện Sick-Bay trên đảo. Nhờ có học và có chút kinh nghiệm, Thủy trở thành một y tá giỏi, thường đảm nhiệm công việc phụ tá cho bác sĩ khi có ca mổ, ở đó Thủy gặp Nam. Nam là bác sĩ giải phẩu nổi tiếng trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa trước kia, cũng làm việc thiện nguyện ở bệnh viện như Thủy. Hai người làm việc chung trong nhiều ca mổ, từ đó dẫn đến việc yêu nhau.
Thật ra, Thủy không yêu Nam như đã yêu Minh. So sánh hai người, Thủy thấy Minh cao hơn, tuy Minh không học cao như Nam, không tốt nghiệp bác sĩ như Nam. Thủy thấy Minh hào hùng hơn, không phải trong bộ quân phục. Đó là thần tượng của những cô gái thế hệ sau Thủy. Ở thế hệ Thủy, đất nước còn thanh bình, thần tượng của các cô thuộc bên văn, không phải con nhà võ. Có thể có người khá lãng mạn, yêu anh thi sĩ nhưng chọn anh bác sĩ, kỹ sư làm chồng. Có những đứa bạn cùng lớp với Thủy dám nói câu “Người yêu không phải là người chồng”. Nó có nghĩa người yêu là một thần tượng lãng mạn, người chồng là thần tượng có địa vị xã hội và bảo đảm một tương lai sung sướng, giàu có. Ở thế hệ sau, khi chiến tranh nổ bùng, thanh niên hàng hàng lớp vào quân trường, ra đóng “lon” sĩ quan, có bồi bếp, có vệ sĩ, có xe Jeep. Thần tượng bây giờ là một “võ quan”. Thần tượng “văn quan” xuống giá và cũng không ít người ly dị ông thầy giáo, ông giáo sư để lấy một ông tướng, ông tá tiền hô hậu ủng. Thủy có học và có lẽ Thủy cũng có chút lãng mạn. Thủy yêu Minh vì Minh là người lính, vừa hào hùng, vừa phong trần, lại trí thức. Minh nhập ngủ không vì binh nghiệp mà vì “thất phu hữu trách”, thêm một chút “Áo chàng đỏ tựa ráng pha” mà Thủy đã học khi còn nhỏ.
Bây giờ gặp Nam, đúng là thần tượng “văn quan” của thời đại Thủy, nhưng Thủy yêu Nam không phải vì những yếu tố của thời đại ấy. Thủy muốn tìm một chỗ dựa tinh thần của cuộc đời tha hương. Mai đây và dài lâu, với đứa con thơ bên cạnh, Thủy thấy rõ nỗi cô quạnh của mình nơi đất khách. Lấy ai để sớm mai, chiều hôm bày tỏ nỗi buồn, nỗi nhớ nhung cha mẹ anh em nơi xứ người hoàn toàn xa lạ. Chắc chắn Thủy không thể tâm sự với một người đồng hương mới quen, một đồng hương khác biệt trên nhiều phương diện: Học vấn, cá tính, tư cách, giai tầng xã hội. Những người ở trại tỵ nạn, người ta đã nói là có thể “hòa” nhưng không “đồng”; không thể có sự hòa đồng hoàn toàn giữa những người tỵ nạn với nhau. Ai từng là người ở trại tỵ nạn sẽ thấy rằng nhận xét đó rất đúng. Không thể quan niệm một cách máy móc hay cải tạo con người ai cũng như ai như người Cộng Sản từng hô hào.
Với cái trí thức của Nam hơn là cái bằng cấp của anh, Thủy hy vọng tìm thấy ở Nam một chỗ dựa tinh thần, một nơi chia sẻ tâm sự, trao đổi với nhau những nỗi nhớ nhung và phiền muộn của đời người. Nhưng rồi Thủy thất vọng, hoàn toàn thất vọng; thất vọng một cách đau đớn, ê chề.
Bây giờ tuyết đã ngưng rơi. Đường đi trông đã rõ hơn. Nhìn bảng chỉ đường, Thủy hơi ngạc nhiên. Vậy mà Thủy đã chạy gần một trăm mile trên Mass-Pike. Thủy sắp tới thành phố lớn thứ ba của tiểu bang Massachusetts: Springfield. Trước khi tới thành phố nầy, Thủy thấy bảng chỉ đường cho biết sắp gặp freeway 93. Đây là xa lộ, nếu đi lên hướng Bắc, sẽ vượt qua biên giới Mỹ và Canada, tới thành phố Montreal bên đó. Bỗng Thủy chợt có ý nghĩ hay Thủy đi Montreal. Ở đó, Thủy có mấy người bạn thân hồi còn đi học. Họ có thể giúp đỡ Thủy tìm một job tương đối và lại xây dựng lại cuộc đời. Nhưng Thủy lại ngại. Những người bạn ở đây cũng là bạn của mấy người bạn Thủy ở Boston. Ở Boston, Thủy đã mượn không ít crédit của bạn để mua sắm dụng cụ phòng mạch cho Nam như ý Nam muốn. Thủy hy vọng khi Nam tốt nghiệp, có phòng mạch, sẽ trả lại crédit cho bạn. Ai ngờ Nam nhẫn tâm tìm mọi cách đẩy Thủy ra khỏi nhà của Nam. Hay Thủy đi theo hướng 193 South. Con đường nầy sẽ dẫn Thủy đi về vùng các tiểu bang thuộc lưu vực sông Missipsipi nhưng vùng nầy thì Thủy mù tịt.
Chị của Thủy thì ở tuốt New Orlean, cửa biển của con sông nầy nhưng từ đây đến đó thì quá xa, coi như đi dọc suốt từ bắc xuống nam nước Mỹ. Xa quá! Phiêu lưu quá! Quá tầm sức của Thủy, Thủy không dám lao vào cuộc phiêu lưu đó, mặc dù Thủy rất buồn, đi đâu cũng được. Trên con đường đông tây nầy, Thủy cũng đang thực hiện một chuyến đi vô định.
Ở trại tỵ nạn, Nam lo cho tương lai của anh nhiều hơn Thủy. Trước hết là lo cái bằng bác sĩ của Nam. Liệu khi đến Mỹ, Nam có được đi học lại. Bác sĩ là mục đích của cuộc đời Nam từ khi Nam còn nhỏ. Mẹ Nam đã nhồi nhét vào óc anh cái ý nghĩ và cái mục đích như thế. Phải đậu bác sĩ, để “ăn trên ngồi trước” thiên hạ, để có địa vị và giàu có. Nam đã thực hiện đúng lời mẹ Nam muốn. Với Nam, làm như thế là đạt hai ý nguyện: bỏ công sinh thành của mẹ và một tương lai địa vị cao và giàu có. Nam ra trường, làm việc ở bệnh viện và mở phòng mạch. “Mỗi ngày như mọi ngày”: Tám giờ sáng, Nam ra ngồi phòng mạch. Mười giờ, cô thư ký kiêm thủ quỹ đem tiền vào nộp cho bác sĩ. Mười giờ rưởi, sau khi ghé quán phở, Nam vào bệnh viện. Bốn giờ chiều, Nam lại ghé tiệm ăn trưa rồi ra phòng mạch.Bảy giờ tối, cô thư ký kiêm thủ quỹ lại đem tiền vào nộp.Về nhà, Nam giao hết tiền cho mẹ giữ rồi đi tắm, đọc báo, ăn tối và đi ngủ. Thứ bảy, khỏi vào bệnh viện, Nam ra phòng mạch trễ hơn: Mười một giờ, làm việc liền tù tì tới bốn giờ chiều. Chủ nhật nghỉ. Phải cho cái xác phàm của Nam ngơi nghỉ một chút chứ! Nam cũng chẳng tìm hiểu tại sao mẹ Nam lại mướn một cô thư ký kiêm thủ quỹ vừa già vừa xấu. Có phải cô ta là người thành thật đáng tin? Nếu là một cô thư ký đẹp, một mỹ nhân, biết dâu Nam đã có vợ rồi. Thế rồi tới tháng 3 năm 75, mẹ con Nam chạy khỏi Đà Nẵng, “bỏ của chạy lấy người”. Của của Nam là hai cái nhà lầu, một villa và chiếc xe hơi. Sau ba mươi tháng Tư mấy năm, sau mấy lần vượt biên thất bại, mất không ít vàng, mẹ con Nam tới trại tỵ nạn Paulo Bidong. Ở đó Nam gặp Thủy.
Thủy vào exit 20 trên 93 South để vào Mass Pike West, tiếp tục đi thẳng về hướng tây. Cứ tiếp tục đi mãi, Thủy sẽ ra khỏi tiểu bang Massachusetts, tới tiểu bang New York. Tiểu bang New York khá rộng, ngoài NewYork City là một trong những thành phố lớn nhất và đông dân thế giới hồi mấy chục năm trước, nay đã bị nhiều thành phố có dân số đông hơn, tiểu bang New York vẫn là một trong những tiểu bang lớn nhất của Mỹ kéo dài từ thành phố New York ở phía cực đông tới thành phố Buffalo lớn thứ hai của tiểu bang ở phía cực tây của tiểu bang. Thủy không rõ khoảng cách giữa hai thành phố nầy là bao nhiêu dặm, nhưng từ Boston tới Buffalo cũng mất trên dưới 7 giờ lái xe. Chắc chắn Thủy không thể lái xe suốt đêm để tới Buffalo được. Thủy không đủ sức. Tuy nhiên, “khi thương, thương cả đường đi, khi ghét ghét cả tông chi họ hàng.” Đêm nay, không những Thủy muốn lìa xa thành phố Boston mà còn muốn ra khỏi tiểu bang Massachusetts nầy. Qua khỏi ranh giới giữa hai tiểu bang, Thủy sẽ ghé lại một thành phố nào đó, Syracuse hoặc Albany, v.v… hoặc một motel của thị trấn nhỏ nào đó bên con đường 90 đi về hướng tây nầy, ngủ qua đêm, ngày mai lại tiếp tục cuộc hành trình vô định.
Nam là một trong những người con điển hình thương và ngoan ngoản với mẹ và cũng là một người đàn ông điển hình của lòng íck kỷ. Ở trại tỵ nạn, thấy Nam lo lắng trước tương lai bị đánh rơi mất cái bằng bác sĩ, Thủy đã khuyên nhủ và khuyến khích Nam đi học trở lại vì ngay khi ở trại, Thủy biết nhiều người sau khi định cư ở Mỹ, đã đi học lại và tốt nghiệp. Điều quan trọng khi đi học lại là Nam phải qua cái cửa ải sinh ngữ Toefl, Nam học tiếng Pháp hồi còn nhỏ, Cour Enfantin, nên khá dốt tiếng Anh. Thủy thì trái lại. Lên trung học Thủy mới bắt đầu học sinh ngữ. Khi học trung học đệ nhị cấp, Thủy chọn ban C và Anh Văn là sinh ngữ 1. Thủy lại tốt nghiệp đại học sư phạm ban Anh Văn, dạy môn Anh Văn, thành ra về mặt nầy, Thủy hơn Nam khá xa. Suốt trong thời gian gặp nhau cho đến khi Nam đã vào trường y trở lại, Thủy là giáo sư Anh Văn của Nam, một giáo sư tận tâm nhất, dạy chăm nhất, bất cứ vào lúc nào nói chuyện với nhau. Nhờ vậy, Nam đã vượt qua cửa ải. Định cư ở Boston, hai người sống như vợ chồng trong một apartment có thêm mẹ của Nam và con trai của Thủy.
Nam học chăm, mong cho chóng ra bác sĩ với bằng cấp của Mỹ. Nam thành công. Nam than vãn về việc phòng mạch sắp mở thiếu các dụng cụ y khoa, Thủy đã cố gắng mua cho Nam đầy đủ. Thủy đi làm nuôi Nam đi học, chăm sóc cho mẹ Nam, và dành dụm để có tiền mở phòng mạch cho Nam. Bây giờ máy móc y khoa hiện đại và đắt tiền, Thủy dùng credit của mình, mượn thêm credit của vài người bạn để làm thỏa lòng mong ước của Nam. Điều đáng buồn là sau tốt nghiệp, vào làm việc cho một bệnh viện và chuẩn bị một phòng mạch gần như hoàn chỉnh thì Nam cũng như mẹ Nam đổi thái độ. Thủy đủ thông minh để biết điều đó, và Thủy cũng rất buồn, không phải vì tình yêu mà chính là vì tình đời. Dù không yêu Nam như Thủy đã yêu Minh, nhưng Thủy đã cố gắng làm tròn vai trò của một người vợ khi Nam chưa thành đạt. Người xưa họ có yêu nhau đâu nhưng khi đã là vợ chồng thì họ cũng sống hết mình cho chồng. “Một quan là sáu trăm đồng, chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi”. Người xưa làm thế được, tại sao Thủy không làm được, và Thủy cũng đã chắt chiu cho Nam “cưỡi ngựa vinh qui” vậy.
Tuy tuyết đã bớt rơi nhưng gió còn thổi mạnh lắm. Đôi khi, Thủy có cảm tưởng như chiếc xe của Thủy bị chao đi một chút vì gió gust. Hồi sáng sớm nay, như lệ thường, vào mùa đông, vừa thức dậy là Thủy mở ngay băng tần thời tiết TV để xem hôm nay lạnh bao nhiêu độ, tuyết nhiều hay ít và gió thổi bao nhiêu dặm một giờ. Đi đường, trên xa lộ, Thủy ngại nhất là cơn gió gust, có khi tới ba bốn chục dặm một giờ. Khi gặp gust, xe dễ bị lạc tay lái vì gió giật mạnh. Hôm nay, vùng New England chỉ chịu cái đuôi của một cơn bão tuyết lớn ở vùng trung tây Hoa Kỳ. Vùng nầy thường có bão, những cơn bão từ bắc cực thổi xuống, vượt qua cái tủ lạnh (2) của nước Mỹ, tới vùng ngũ đại hồ và tan ở đó. Do đó, dù đang đi về hướng tây, vùng của cơn bão tuyết đang tới, Thủy cũng không thấy lo lắm. Chỉ là cái đuôi của cơn bão thì thời tiết không nghiêm trọng lắm. Vã lại, tới Buffalo, Thủy sẽ đi vòng qua lãnh thổ Canada để vào thành phố Grand Rapids phía bắc tiểu bang Michigan. Thủy tính ghé vào đó thăm một người bạn cũ rồi sẽ tính sau. Một người bạn cũ rất thân, khi còn học trung học.
Thấy hoàn cảnh Thủy, cô ta chắc sẽ hết lòng. Người bạn ấy, một người đẹp nổi tiếng ở Huế khi còn đi học, được bạn bè mệnh danh là Liz Taylor Đồng Khánh, người cùng quê với Thủy, một người bạn chân thành, thẳng thắn, nhân ái, hay giúp đỡ người khác và chung thủy, rất đáng yêu! Cô ta là một người Huế rất “cơ bản”, chữ “cơ bản” bạn bè đặt cho cô ta bởi vì gia thế cô bạn mới thật là đúng giai tầng vua quan thứ thiệt, không phải là những người Huế nhận vơ là “con dòng cháu giống” để lên mặt với đời. Ông nội, ông ngoại là những bác sĩ đầu tiên của miền Trung, bà ngoại bạn Thủy là một công chúa con vua Thành Thái. Vậy mà cô bạn Thủy không bao giờ tự kiêu, lên mặt ta đây thuộc dòng dõi vua chúa thứ thiệt. Cách sống như thế làm cho mọi người rất yêu mến cô ta. Khi đến Mỹ, vì là người có văn hóa Pháp, chồng có quốc tịch Pháp, họ về định cư ở Grand Rapids vì cứ tưởng đó còn là thành phố Pháp khi những người Pháp đầu tiên từ Canada xuống định cư ở đây và xây dựng nên thành phố nầy. Hai vợ chồng đã lầm. Con cháu của những người Pháp đầu tiên ấy đã biến thành người Mỹ. Văn hóa Pháp chỉ còn lại trong cái tên của thành phố mà thôi.
Nhưng khi mâu thuẫn đã có thì mâu thuẫn đó càng ngày càng lớn, hố chia cắt càng ngày càng rộng. Ban đầu chỉ là những lời cải vả giữa Thủy và Nam. Lần lần thì mẹ Nam xung trận, bênh vực con của bà. Tới trưa hôm qua, thì chén nước đã đầy khi mẹ Nam nói thẳng vào mặt Thủy một câu rất đớn đau trong khi có mặt Nam ở đó mà anh ta vẫn tỉnh bơ, chẳng một lời ngăn cản mẹ, nếu không nói là đồng tình. “Không lý con trai tôi chưa vợ mà đội mũ rơm chửa nhà cháy”. Đối với Thủy, câu nói đó không những xúc phạm tới Thủy mà còn xúc phạm tới con trai Thủy. Thủy tự nuôi con, đứa con mồ côi cha, và Thủy không để ai nuôi để nó tủi thân. May mắn lúc đó con Thủy đi học chưa về. Nghe xong câu đó, Thủy hiểu hết tâm lý của cả hai mẹ con. Thủy vào phòng, cho hết đồ đạc vào mấy cái vali, để vào xe. Nam không một lời ngăn cản. Mẹ Nam thì như có vẽ … mừng. Thủy lái xe ra chỗ school bus stop đón con, đưa con đi ăn và rời thành phố khi trời đã tối vì mùa đông đến sớm và có tuyết. Thủy không muốn con Thủy gặp lại mẹ con Nam. Con của Thủy sẽ không nghe bất cứ một lời nói nào xuất phát từ cửa miệng mẹ con Nam để nó phải suy nghĩ hay tủi thân về sau.
Điều Thủy buồn nhất là Thủy ra đi và để lại một số nợ credit cho bạn bè. Thủy không nói gì với họ cả, cũng không gọi điện thoại từ giã, không phân trần. Họ sẽ hiểu, họ sẽ thông cảm. Thủy sẽ cố gắng trả lại nợ cho họ khi có một chỗ ở mới, có công việc mới. Thủy tin ở bản lĩnh của mình, ở ý chí của mình và lòng ngay thẳng với tất cả mọi người, ngay cả với những người như mẹ con Nam, không ngay thẳng với Thủy. Họ ích kỷ, chỉ biết lợi dụng.
Thủy nhìn đồng hồ. Mười hai giờ khuya. Xe lên giốc nên chạy chậm lại. Vậy là Thủy đang vượt lên dãy núi biên giới giữa hai tiểu bang Massachusetts và New York. Trời lại đổ tuyết, có lẽ vì đây là núi cao. Phía bên trái, Thủy thấy có ánh đèn của một xóm nhà xa xa. Có lẽ đó là thành phố West Springfield. Bên phải, Thủy chỉ thấy một màu đen. Chắc phía đó là núi cao nhưng màn tuyết che mất. Thủy nhớ có những thành phố nằm sát biên giới của hai tiểu bang nầy: Đó là thành phố Stockbridge và xa hơn chút nữa về phía tây là West Stockbridge. Hai thành phố nhỏ đều nằm trên độ cao của dãy núi biên giới. Ngay trên dãy núi nầy có một con đường núi khá gập ghềnh nguy hiểm tên là Mohawk Trail. Về mùa thu, người ta thường đến đây để xem lá rừng thay màu trên Mohawk Trail. Cái kỳ lạ nhất của vùng đông-bắc nầy là lá rừng thay màu khoảng giữa tháng 10, sau khi mùa thu đến ít lâu. Từ màu xanh đậm, lá chuyển sang màu vàng, màu hoàng yến, màu tím, có khi là màu tím than, rồi chuyển sang màu đỏ hoặc màu nâu trước khi biến thành màu nâu sậm và lìa cành.
Những năm mưa nhiều, đủ nước cho lá sống lâu, sự chuyển màu kéo dài, làm người xem thích thú không ít. Thủy đã cùng một số bạn bè đến đây vào một mùa thu để xem rừng thay lá. Cũng tại vùng núi non nầy có mấy vùng reservation, - vùng dành riêng cho người da đỏ. Người da trắng, người ngoài bộ lạc chỉ được vào thăm khi được người da đỏ cho phép. Con đường Mohwak Trail nầy chính là con đường di chuyển của những bộ lạc Mohwak ngày xưa. Cũng may, người Mỹ đã biết dừng tay lại, đặt ra luật pháp để bảo vệ những bộ lạc nầy, chứ không chắc họ cũng đã bị tiêu diệt tất cả rồi. Có lẽ người Mỹ cũng có lòng biết ơn ông Massasoit (3), để ngừng tay trước khi quá chậm. Thủy chưa từng đến thăm các “reservation” nầy, nhưng đôi khi Thủy cũng thấy họ xuất hiện ở Boston. Nhìn quen mắt và có kinh nghiệm, người ta dễ nhận ra những người da đỏ nầy trong khi họ cũng học hành, làm việc, vui chơi và ăn mặc không khác gì người Mỹ ở đây. Thủy bỗng chợt nghĩ tới số phận những người Chàm ở Việt Nam và thấy tội nghiệp cho họ. Ngay chính người Kinh ngày nay còn khốn khổ vì chế độ, thì sá chi những dân tộc thiểu số dù ở vùng nào trên đất nước Việt Nam.
Vòng qua một khúc đường cong, Thủy nghe có tiếng động ầm ầm rất gần. Có bóng đèn mờ mờ trong tuyết, chỗ phía dưới, hơi thấp một chút. Và từ hướng đó, có tiếng… còi tàu. Lâu lắm, Thủy mới nghe lại tiếng còi tàu. Nó gợi cho Thủy những nỗi buồn thời con gái. Những năm đó, Thủy học trung học rồi đại học ở Huế. Và cứ chiều thứ sáu, Thủy lên ga đáp xe lửa về Quảng Trị thăm gia đình, thăm mẹ. Thủy không thể chờ thêm một đêm để hôm sau đi xe lô cho khỏe hơn. Bao giờ Thủy cũng nôn nóng gặp mẹ vào cuối tuần. Được ôm mẹ, được ăn những món Thủy thích do mẹ nấu sẵn để đón Thủy về, được nói đùa với ba vài câu, sao Thủy thấy vui, đời hạnh phúc quá vậy! Bên cạnh đó, Thủy còn được đi xe lửa vào ban đêm. Nó có những cái thú kỳ lạ. Chiếc đầu máy diesel chỉ kéo đoàn tàu ra tới ga Huế mà thôi. Từ Huế ra Đông Hà, người ta thaybằng đầu máy hơi nước. Thủy thích tiếng còi tàu của máy hơi nước hơn tiếng còi tàu của máy diesel. Khi người tài xế kéo giây, chỗ còi tàu một làn hơi nước trắng phun lên mạnh mẽ. Từ chỗ đó, “lâu lâu còi thúc nghe rền rĩ, Lòng của người đi réo kẻ về”. Thủy về mà không có đi, cũng có thể Thủy là kẻ vừa đi vừa về, lòng mang một buồn nhẹ nhàng, bâng khuâng vô cớ. Đó chính là nỗi buồn của những đứa con gái đã lớn, không còn ngu ngơ như trong tuổi dậy thì. Nó là nỗi buồn con gái vừa qua tuổi dậy thì. Buồn vì chớm biết yêu, buồn vì yêu.
Không! Không phải vậy. Nỗi buồn đó không tên và không có nguyên cớ gì cả. Không thể đặt cho nó một cái tên và tìm cho ra lý do. Vô ích! Đặt cho nó một cái tên và tìm lý do của nó là điều thậm vô ích. Không những thế, nó còn làm mất cái đáng yêu của một nỗi buồn con gái.
Thủy thường đứng nơi cửa sổ nhìn ra ngoài trời. Trong bóng đêm, những bụi cây bên đường chạy lui như một đàn thú rượt đuổi nhau rất nhanh. Thỉnh thoảng, từ ống khói đầu máy, hàng vạn, hàng triệu đóm lửa đỏ bung lên, tản mạn trong không gian, như muôn triệu tinh cầu đảo lộn, quay cuồng trong vũ trụ. Những đóm lửa đỏ bay tản ra xa rồi tắt ngủm ở đâu đó, giữa lưng chừng không khí hay đằng sau những bóng cây đen ngoài xa, những bóng cây ngoài đó chạy đuổi nhau một cách chậm chạp hơn những bụi cây sát bên đường tàu.
Tiếng xe lửa rầm rầm bên quốc lộ chấm dứt. Đoàn tàu đi ngược lại hướng đi của Thủy. Thủy thấy lấp loáng ánh đèn phía trước mặt, chỗ hơi cao, có lẽ là đỉnh đèo. Đó là nơi Thủy trả tiền toll cho đoạn đường trong phạm vi tiểu bang Massachusetts. Qua khỏi đó, Thủy hy vọng sẽ lạc vào một thế giới mới. Ở đó, sẽ không còn những sự lừa lọc và phản phúc mà Thủy đã sống trong mấy năm lưu lạc đầu tiên ở xứ người. Thủy thấy buồn! Đã gần ở tuổi bốn mươi rồi, Thủy vẫn còn là người kiếm tìm hạnh phúc. Muộn lắm đấy rồi chứ còn gì! Bây giờ, Thủy lại bắt đầu một cuộc hành trình mới, đi tìm một hạnh phúc mới mà ở đó, Thủy hy vọng sẽ không có bóng dáng những người đàn ông ích kỷ như Nam mà chỉcó hình ảnh hào hùng của Minh trong tận đáy tâm hồn Thủy.
Đầu mùa tuyết...
Hoànglonghải
Một câu trong bài thơ “Chiều trên phá Tam giang” của Tô Thùy Yên, Trần Thiện Thanh phổ nhạc. Minesota là tiểu bang lạnh nhất nước Mỹ, được mệnh danh là “cái tủ lạnh của Hoa Kỳ”.
Tên người tù trưởng (1586-1661) bộ lạc Wampanoag, mạnh nhất vùng New England đã đem nai và lương thực giúp đỡ cho người tỵ nạn châu Âu Âu mới đến Mỹ qua cơn đói mùa đông, chưa trồng trọt gì kịp. Câu chuyện đó là nguyên nhân của ngày Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving). Đặc biệt chỉ có người Mỹ mới có ngày Lễ Tạ Ơn nầy. Massasoit thỏa hiệp sống hòa bình với di dân châu Âu mới đến Hoa Kỳ. Ông giữ lập trường nầy tới khi qua đời.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét