‘Về Nguồn’,
tác phẫm của Giáo Sư Vũ Ký do Trung Tâm Văn Hóa Xã Hội Phật Giáo
Việt Nam tại Cộng Hòa Liên Bang Đức xuất bản năm 2002, dày 284 trang.
Tác phẫm tập trung một số trước tác gần đây cùng những bài viết về một số tác phẫm
của một số nhà văn, nhà thơ khác (Thượng Tọa Thích Như Điển, các nhà
thơ, nhà văn Trần Tùng Nguyên, Phù Vân, Lê Mỹ Như Ý, Trà Lũ) và đôi sáng
tác mới, thêm đôi bài của đôi tác giả viết về các tác phẫm của Giáo
sư.
<!->
<!->
Đọc Vũ Ký là đọc cả
kiến thức và lý luận rộng sâu cùng
tấm lòng tha thiết với Quê hương, Dân tộc, với Đất nước và Con Người
của một học giả uyên bác, một Chiến sĩ Cách Mạng trung kiên, một sĩ
phu chân chính, một nhà Văn hóa sâu dày. Tác phẫm ‘Về Nguồn’ phần nào
thể hiện những tính cách , những ‘đức tính’ trên của nhà giáo Vũ Ký.
(Vũ
Ký, người từng được Chính quyền Vương Quốc Bỉ tổ chức tại Tòa Thị
Chính Bruxelles mừng lễ ‘Khánh Ngọc’ (Noces de diamant) 60 năm thành hôn
của ông và phu nhân, cũng là ngày Bát Tuần Thượng Thọ của nhà văn vào
ngày 30/03/2002. Báo chí Vương Quốc Bỉ hết lời ca ngợi nhà trí thức
Việt Nam đã góp phần khá lớn vào xã hội đa văn hóa Bỉ quốc. Đức Vua
và Hoàng hậu Fabiola cũng gởi thư chia xẻ niềm vui của nhà văn. Vũ Ký còn được Văn Bút Việt Nam hải ngoại đề cử dữ giải Nobel
Văn chương năm 2005). Giáo sư Vũ Ký vừa qua đời ngày
14/11/2008 tại Bruxelles, đã đẻ lại cho Văn học và Văn hóa VN trên 21
tác phẫm cùng bao nhiêu bài viết khác cùng bao bài thuyết trình tiếng
Việt, tiếng Pháp. Tiếc rằng Giáo sư đã ra đi, còn bao nhiêu tác phẫm
đang dự trù mà chưa hoàn tất được.
Nơi đây, xin
không đi vào toàn bộ tác phẫm ‘Về Nguồn’. Chỉ xin đề cập ba bài tiêu
biểu nói lên suy tư và ý hướng của Giáo sư vừa mang chở tính cách
Cách mạng, tính cách biên khảo và tính cách tư tưởng của nhà trí
thức nầy.
I/-Lễ Gia Tiên hay Ý nghĩa
một cuộc Trở Về Nguồn :
‘Lễ Gia Tiên’, người VN nào cũng biết và luôn nói đến mỗi
khi đề cập đến thuần phong mỹ tục VN, nhất là mỗi lần đón Tết vui
Xuân. ‘Lễ Gia Tiên’ là hình thức, là nghi lễ thể hiện truyền thống
‘Đạo Ong Bà’ của Văn hóa VN. Người VN nào cũng có mọt ‘bàn thờ ông bà’
nơi trang trọng nhất trong nhà. Giáo Sư Vũ Ký đã nói đến việc nầy,
đây không là điều mới lạ nên xin không đề cập đến nhiều. Điều quan
trọng mà Giáo Sư nói đến chính là tinh hoa của Đạo Ông Bà, nói
lên ý nghĩa Về Nguồn nơi tâm thức người Việt chúng ta từ xa xưa đến
nay.
Trước tiên, về mặt Đạo học,
theo Giáo sư, ‘Về Nguồn’ là trở lại với cái Cội Nguồn đã làm
phát sinh vũ trụ, làm phát sinh Sự Sống của muôn loài.. Đấy là cái
Đạo Thể (Être), cái Chân Không, cái Tính Thể Chân Như đã tạo nên cõi
Diệu Hữu (cõi hiện tượng) theo Phật giáo ; đấy là vị Thượng Đế
hay đấng Hóa Công đã sáng tạo nên vạn hữu theo Ki-Tô giáo, nói theo VN, đấy là đấng
Trời.
‘Hướng Vọng về Nguồn’
chính là hướng về với cái Nguồn Cội đó để nhìn ra được tương lai,
không riêng của từng cá nhân mà còn chung cho cả dân tộc, cả chủng
loại người chúng ta. Điều nầy, đức Phật đã bảo ‘Hồi đầu thị
ngạn’, quay đầu nhìn lại Cội Nguồn mới thấy được cái Bến phía
trước tức cái ‘Bờ Bên Kia’, cái ‘Bỉ Ngạn’ (đáo bỉ ngạn). Jésus, cũng ý đó đã nói : ‘’Ta
là đầu và là rốt, là Alpha và Oméga’ (từ ‘Ta’ nơi đây không
phải Jésus mà là Đức Chúa Trời, Jésus nhân danh Đức Chúa Trời để nói
với thế gian). Lời nầy của Jésus có nghĩa :
‘cái Alpha trở về trong Oméga, cái Khởi nguyên trở về trong cái Chung
cục ; theo lời Đức Thích Ca là cái ‘Bờ Bên Nầy’ trở về trong cái
‘Bờ Bên Kia’. (Bờ Bên nầy là Bờ Vật Chất, bờ có Sinh Tử ; Bờ Bên Kia là
Bờ của Niết Bàn, Bờ đoạn diệt được sinh tử luân hồi). Lão Tử cũng nói ý đó khi bảo : ‘Phản phục Đạo chi
động’. Trang Tử cũng bảo : ‘’Van vật phồn thịnh, giống nào
cũng trở lại nguồn gốc của mình. Vật nào cũng trở lạ̣i nguồn gốc
của mình mà không biết’ (1). Các nhà tư tưởng Cổ Hy Lạp cũng từng
nói điều nầy. F. Nietzche cũng bảo : ‘’Tôi là tôi hôm nay của
quá khứ nhưng tôi thấy nơi tôi một cái gì của ngày mai, của ngày mai
nữa và của cả tương lai’’ (2). M. Heidegger nhìn ra cái ‘Cội Nguồn’
dịch chuyển về Tương Lai qua câu : ‘’Cai quá khứ của bình minh
nhân loại trong cái ngày mai của tương lai’’ (3).
Triết học và Văn chương Tây Phương
gọi cái ‘Hướng Vọng về Nguồn’ là ‘Nỗi Hoài hương Hằng Thể’ (la nostalgie de
l’Être), đấy là Nỗi Nhớ Không Nguôi nơi tâm thức con
người mà Văn hóa Cổ Hy Lạp gọi là ‘Đại Ký Ức’ và mượn tên Nữ
Thần Mnémosyne để gọi. Vì Cội Nguồn luôn dịch chuyển về Tương Lai như
lời Heidegger trích trên nên Đạo Học Đông Phương từ nghìn xưa đã bảo là
‘Từ Một trở về với Một’ và hai mệnh đề ‘Hồi đầu thị ngạn’
cùng ‘Đáo bỉ ngạn’ của lời Phật đã nói rõ. Hướng về
Nguồn Cội để hướng về Tương lai, đấy là lộ trình của cuộc sống nhân
sinh. Quan điểm ‘Vạṇ vật đồng nhất thể ‘, ‘Vạn hữu
bản lai đồng’ và ‘Từ Một trở về trong Một’, lời nầy của
Đạo học Đông Phương nói lên diễn tiến tất yếu của nhân sinh trên dòng
tiến hóa cùng ý nghĩa, cứu cánh cuộc sống, cuộc đời.
Vì ‘sự trở về Nguồn’ là vấn đề
thuộc Đạo học, có tính cách siêu hình nên Giáo Sư Vũ Ký chỉ nói
lướt qua để giới hạn lại nơi ‘Lễ Gia Tiên’ và ‘Đạo Ông Bà’ của người
Việt chúng ta.
Đạo Ông Bà, từ Đạo nơi đây
vừa là Đạo lý, Đạo tâm vừa là Con đường. Đạo lý, Đạo tâm vì là Lẽ
Sống ; ‘con đường’ vì là lộ trình để đạt được Lẽ Sống đó.
Đạo Ông Bà, ta chú y hai từ
‘Ông, Bà’. Ta gọi ‘Đạo Ông Bà’ chứ không gọi là ‘Đạo Tổ Tiên’, vì
sao ? ‘Tổ Tiên’ hoàn toàn chỉ những người đã khuất núi trong lúc
‘Ông Bà’ vừa chỉ người khuất núi vừa chỉ người đang còn sống với
chúng ta hiện nay. Nhiều gia đình Việt Nam, cả Tây phương, bao gồm cả
ba, bốn thế hệ : Ông Bà Cố, Ông Bà Nội Ngoại, cha mẹ, con cháu,
có thể cả các ‘chắt’ còn sơ sinh, tất cả còn hiện diện trên dương
trần. Vì thế, ngày giỗ, ngày cúng là ngày hội họp cả bao người còn
sống của bao thế hệ trong gia đình, tộc họ để tưởng niệm ngưới quá
cố. Đạo Ông Bà, vì thế, nói lên mối quan hệ, mối liên đới giữa các
thế hệ qua quá trình lịch sử. Nếu hai từ ‘Tổ Tiên’ là từ Hán Việt
thì hai từ ‘Ông Bà’, theo người viết, là hai từ thuần Việt (tiếng Nôm).
Ngày giỗ, ngày cúng của người Việt chúng ta không chỉ riêng để giỗ
cúng người lớn tuổi đã khuất mà còn cho cả những người tuổi nhỏ,
những vai vế thấp hơn trong gia đình như người chồng giỗ vợ, người mẹ
giỗ con, anh chị giỗ em,…Và ngày giỗ, ngày cúng cũng không chỉ giới
hạn nơi những người trong gia đình mà còn mời cả bà con thân thích, cả
bè bạn, láng giềng, nhũng người đang còn sống để cùng tưởng nhớ
người xưa. Do đó, ngày giỗ, ngày cúng, theo Đạo Ông Bà vừa là ngày Lễ
Trọng đối với người đã qua đời, vừa là ngày Hội Vui để thắt chặt
tình nghĩa giữa những người đang sống.
Hai từ ‘Ông Bà’ chỉ hai giới tính
nam, nữ tức Dương và Âm, cặp lưỡng nhất, theo Đạo học, tương dung, tương
khắc, tương điều hòa để sinh thành vạn hữu.
Hai từ ‘Ông Bà’ còn nói lên tính
cách xưng hô, đối đãi giữa người và người trong xã hội : Thưa Ông,
thưa Bà,..., nói lên tính cách lễ phép, tôn trong và thân mật trong cuộc
tiếp xúc, giao lưu.
Không rõ tiếng Hán có thuật ngữ
nào tương đương mang đầy đủ những điểm nói trên qua hai từ ‘Ông, Bà’ của
tiếng Việt. Tây phương thì hầu như không có. Tây phương không có cái
Đạo gọi là ‘Le Tao Homme-Femme’ hay ‘Le Tao Monsieur-Madame’.
Người Pháp dịch ‘Đạo Ông Bà’ là ‘Le Culte des ancêtres’,
nghĩ ra không đúng. ‘Thờ cúng’ (le culte) chỉ một nghi thức, nghi
lễ chứ chưa là Đạo. Từ ‘Culte’ chỉ sự tôn kính, thờ phụng chứ không
diễn tả sự biết ơn cùng tính cách thân mật, gần gũi, ân tình.
Đạo Ông Bà, qua lịch sử và truyền
thống văn hóa VN, được Giáo Sư Vũ Ký nhấn mạnh đến Đạo Hiếu
Thảo. Dựa vào Nho giáo, Giáo sư đề cập đến Đạo Hiếu qua lời đức
Khổng. ‘Hiếu’, ai cũng biết rồi, là kính trọng, phụng dưỡng, biết ơn,
vâng lời, không làm bất kỳ điều gì sai trái khiến cha mẹ buồn phiền,
đau khổ, xấu hổ ; ngược lại luôn làm sao cho cha mẹ vui, phấn
khởi, hãnh diện về lớp hậu duệ. Dù có phải vì việc đời, việc nước, việc dân mà
phải ở xa cha mẹ, không thể thường ngày chăm sóc, phụng dưỡng thì
cũng luôn nghĩ về cha mẹ, quyết không làm điều gì gây buồn, gây khổ
cho mẹ cha mà còn tạo lập nên sự nghiệp nào đó để mẹ cha vui mừng.
Đạo Hiếu còn đi chung với Đạo Thảo, gọi chung là đạo Hiếu Thảo của
con cái. ‘Thảo’ có nghĩa tương nhượng, nhường nhịn, san sẻ, chịu đựng
lẫn nhau, đùm bọc, giúp đỡ, tương thân, tương ái giữa anh chị em, dòng
họ, thế nào cho mối liên đới giữa người và người trong phạm vi gia
đình cũng như trong phạm vi xã hội luôn luôn hài hòa, êm đẹp, tươi vui.
‘Thảo’, vì thế không chỉ nói lên lòng hiếu kính, biết ơn ông bà, cha
mẹ mà còn giữa anh chi em, họ hàng thân thuộc cùng mọi người trong sinh
hoạt hằng ngày. Do lòng Hiếu Thảo mà Đạo Ông Bà không chỉ ứng hợp với
cái Thiên Lý, Thiên Mệnh, với nỗi ‘Hoài Hương Hằng Thể’ về mặt Đạo
học mà còn phù hợp với Đức lý về mặt thực tiễn nhân sinh vì phát
huy được cái ‘Xã Hội tính’ (la sociabilité), một tính
chất bẫm sinh nơi con người.
Theo Giáo sư Vũ Ký, Đạo Ông Bà,
Đạo Hiếu Thảo không là một Tôn giáo vì không có Giáo chủ, không có
Kinh điển, không có hàng ‘tăng lữ’ rao giảng, thuyết pháp, không cần
thiết phải có nơi thờ tự, không cần thiết phải có nghi lễ, nghi thức
bắt buộc phải giữ đúng. Đạo Ông Bà, đạo Hiếu Thảo không do bắt buộc
của cấu trúc xã hội, không do bắt buộc của luật pháp, không do cần
thiết của cuộc tranh đấu mưu sinh mà do tự nguyện, do yêu cầu tự nhiên
của tâm thức, do từ cái ‘não bộ đạo tâm’ (sensorium religieux) hằng có nơi con người, nói theo G. Van Der Lew mà giáo sư đã
trích dẫn.
Đạo Ông Bà, Đạo Hiếu Thảo, thể hiện qua lòng tưởng nhớ, biết
ơn, nhiều khi không cần phải có phẫm vật cúng giỗ, trước tiên là một
‘tín ngưỡng’ rồi trở thành một ‘thuần phong mỹ tục’ truyền thống của dân tộc ta. Giáo sư Vũ
Ký đi xa hơn khi liên hệ đến sự ‘hồ nghi hiện sinh’ và ‘hồ nghi lý
lịch’ (doute
existentiel, doute identitaire) do hiện tượng khủng
hoảng lý lịch quốc gia (trang 27).
Giáo sư cũng đề cập đến khuynh hướng ‘thế giới hóa’, ‘vũ trụ
hóa’ (mondialisation,
universalisation) cùng chủ thuyết ‘đại đồng hóa’ (universalisme) sẽ làm mất biến cái đặc trưng của văn hóa từng dân tộc. Điều
nầy đúng thôi nếu cái ‘đại đồng hóa’ đó chỉ được hiểu và được thực
hiện trên bình diện ‘mặt bằng’ (plan horizontal), có nghĩa
tất cả đều đồng nhất (identique) như nhau. Trên thực tế, không bao giờ có
lối ‘đại đồng hóa’ như thế. Vì cuộc sống, cuộc đời là một ‘trường
hoạt động’ (champ d’activités) không ngừng nghỉ, một
trường tương tác (champ d’interaction) thường trực và bất biến của vạn pháp
nên dù ‘đại đồng’ vẫn không loại trừ cá biệt vì tổng thể bao giờ
cũng chứa đựng ‘cá thể’ và cá thể chỉ là ‘cá thể trong tổng
thể’ ; nếu không thế thì cá thể chỉ là từng cái một và tổng
thể chỉ là tổng số và cả hai chỉ
được dùng trong tính toán, đo đếm thôi.
Tóm lai, qua những điều được nêu trên và qua những trình bày của
Giáo sư, Đạo Ông Bà là cách thế ‘Trở Về̀ Nguồn’ vừa để hiện thực
hóa cái ‘siêu thức tâm linh’, cảm nhận hằng hữu nằm trong trực giác
ái quốc của Đạo Số́ng của giống nòi ta (trang 27) vừa để thoát khỏi cái ‘khủng hoảng lý lịch’ của dân tộc nơi người Việt tại quốc
nội đang bị đầu độc bỡi chế độ Cộng sản manh tâm chối bỏ, hủy diệt
truyền thống dân tộc và cũng nơi người Việt tỵ nạn Cộng sản nơi hải
ngoại. M. Heidegger bảo ;’’Con người là một hữu thể của viễn
ly, một hữu thể còn xa xôi’’ (l’homme est un être du lointain) ; xa xôi vì phát sinh từ một Nguồn gốc xa xưa thăm thẳm và đang
hướng về cái Nguồn gốc đó nơi cuối dòng sinh hóa của mình trong
tương lai vô hạn. Dân tộc ta luôn trong hành trình đó, hiện thực hóa qua
‘Đạo Ông Bà mà thường ngày chúng ta quen cho là một tập tục chứ ít
nghĩ đến cái ý nghĩa ẩn mật, sâu xa, huyền nhiệm trong đó.
Cũng trong thiên Tiểu luận ngắn nầy, Giáo sư Vũ Ký nói lên
niềm đau của mình trước cảnh Đảng
Cộng sản và chế độ của họ đang dìm chết cái truyền thống tốt đẹp
nầy của dân tộc. Dù cho Cộng sản có bày đặt lại Ngày Giỗ Tổ với
những chiếc bánh chưng, bánh dày ‘khổng lồ’ được đem vào Kỷ lục
Guiness, có cho tổ chức ngày Tết xa hoa bao nhiêu thì cũng chỉ là dịp
cho giới ‘tư bản đỏ’ hưởng lạc, vui chơi nham nhở cùng trang hoàng mặt
ngoài là họ có giữ gìn truyền thống ; thực ra, đấy chỉ là thủ
đoạn mị dân, giả hình vi tuyệt đại đa số nhân dân lầm than, điêu đứng,
đến ngày Tết chẳng đủ điều kiện có dược bữa giỗ, bữa cúng Ông bà
tươm tất vì nhà cửa, ruộng vườn bi Cộng sản cướp đoạt cho tư bản
ngoại quốc thuê, mua dài hạn hầu họ dễ ttham nhũng, làm giàu và hưởng
lạc ; đã thế, lại còn manh tâm ‘bán nước, buôn dân’ cho kẻ thù
phương Bắc hòng cố giữ được độc quyền thống trị, bóc lột, áp bức
lương dân.
II/- Bản Tường Trình (chưa hoàn tất) gởi Thế hệ Vị lai hay là ‘Lời Tâm Sự gởi đến các bạn trẻ sau
nầy’ :
Phát xuất từ lòng yêu nước, yêu dân tộc
và phục vụ văn hóa, cùng ‘Hướng vọng Về Nguồn’, Vũ Ký đã viết ‘Lời
Tâm Sự’ với tất cả nhiệt huyết của mình.
Có thể xem đây là một ‘Tiền Di Chúc’ của một chí sĩ, một sĩ phu gởi cho các
thế hệ Việt Nam chưa sinh ra.
Trong bài nầy, Giáo sư ôn lại cả giai đoạn bi thương của dân tộc
do tập đoàn Cộng sản cuồng tín theo chủ nghĩa ngoại lai đã gây nên
cuộc chiến tương tàn, dìm đất nước và nhân dân vào biển máu.
Hàng triệu nhân dân hai miền
Nam-Bắc, binh sĩ và thường dân đã phải bị hy sinh oan uổng ; hàng
triệu người phải chết hiu hắt, lạnh đau vì tù tội, vì dân công, vì
‘chỉnh huấn’, đấu tố, vì ‘cải cách ruộng đất’, vì không chiu khom
lưng quỳ gối, bịt mồm, bịt tai, bẻ cong ngòi bút mà dám bày tỏ ý
lời ích quốc lợi dân khác với ý đồ gian manh của Đảng và Nhà nước
Cộng sản. . Hàng vạn người bị chết đói, chết khát, bị phơi xác vì
trại tù ‘cải tạo’, vì lưu đày ‘kinh tế mới’, vì thủy lợi, vì bị đẩy
đến đường cùng, không phương sinh sống ; hàng triệu người phải vượt
núi, vượt biển, đành phải rời Tổ quốc ra đi tìm tự do, thất thểu nơi
xứ người, hàng trăm ngàn người đã làm mồi cho cá biển, cho bọn hải
tặc bất lương ; Triệu triệu người dù bên nầy hay bên kia dòng Bến
Hải đã phải chết thảm thương u uất, chung quy cũng chỉ do cuộc chiến
khốc liệt cùng kết quả của nó mà kẻ chủ mưu không ai khác hơn là tập
đoàn Cộng sản. Cho mãi đến nay, cho dù cuộc chiến đẫm máu đã tàn nhưng
trong cái gọi là ‘hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc’ của chế độ
Cộng sản, những cái chết tức tưởi, bi thương, nhục nhã vẫn tiếp tục
hàng ngày xảy đến với nhân dân khốn khổ, với tầng lớp tri thức, văn
nghệ sĩ, thanh niên, sinh viên, hàng ngũ tôn giáo, bao người yêu nước
thương nòi, do thủ đoạn tàn ác, bất lương : giam cầm, an trí, tra
khảo, xét nhà, cách ly, đoạt của, cướp bóc đất đai, ruộng vườn nhà
cửa dân nghèo, tịch thu gia sản, tài liệu,…Mồm Cộng sản oang oang ‘trung
với nước, hiếu với dân’ trong lúc bàn tay chúng với mã tấu, a-ka, dùi
cui, dùi lửa, hơi cay, hơi độc,…liên miên quất vào lưng, vào đầu dân chúng
chỉ biểu tình ôn hòa, tỏ bày lòng yêu nước chống bọn Tàu Cộng gian
manh lấn đất, giành biển, chiếm đảo, cố tình chiếm trọn lãnh thổ
của cha ông hay chỉ đội đầu nộp đơn khiếu nại đòi lại đất nhà đã bị
quan chức Cộng sản cướp bóc. Cộng sản cón ngày nào thống trị dân
nước thì giang sơn càng lọt vào tay ngoại bang, nhân dân càng bị tròng
vào vòng nô lệ, suốt đất nước chỉ là một ‘nghĩa trang đen’ chập chờn,
lãng đãng bóng kên kên. Hảy nghe nhà thơ Phương Triều, qua tác phẫm
‘Xóm Mộ’ thuật lại sự việc một ông già, ngày lang thang kiếm ăn, đêm
về nương thân nơi Xóm Mộ, chẳng có được chút gì cúng tổ tiên, chỉ
còn biết ‘mở gói đời quên’ tức cái bọc vải trong đó còn ít
giấy tờ và bài vị song thân, trưng ra để tưởng nhớ cha mẹ, trọn được
chút ‘Đạo Ông Bà’ :
Nghĩa địa góc quen chiều chợ Tết
Ông già mở lại gói đời quên
Bên kia chân mộ còn vuông đất
Lót lá làm mâm đón tổ tiên…
Qua thiên
tiểu luận, bản ‘di chúc’ cho hậu thế, Vũ Ký đã phản ảnh mọi thảm
cảnh trên. Giáo sư còn nêu rõ tên tuổi một số đầu não Đảng và Nhà
nuớc Cộng sản, những kẻ rêu rao, huênh hoang ba đời vô sản, ba đời bần
cố nông, nay tự phong là ‘đỉnh cao trí tuệ’ nghiễm nhiên trở thành
những tỷ phú đô la (trang 372, 373), ngất ngưỡng trong villa, biệt
thự, xe cộ đắt giá, hưởng thụ xa hoa, trác táng dâm ô bằng bóc lột
công sức, gia sản nhân dân, bằng ăn cắp của công, bằng hối lộ, tham
nhũng, bằng buôn lậu, kinh doanh bất hợp pháp, bằng chia chát tiền
đầu tư, viện trợ, tiền của người Việt hải ngoại gơỉ về giúp đỡ
thân nhân, bằng móc ngoặt với gian thương trong nước và ngoại quốc và
bằng bao nhiêu thủ đoạn gian tham khác nữa, không thể nào kể hết.
Trong bài nầy, tác giả không
nói cho người hiện nay mà cho những thế hệ mai sau, những lớp trai
trẻ sẽ sinh ra lúc lớp người hiện nay như Vũ Ký không còn tại thế.
Những lớp trẻ sắp tới đó và ngay cả lớp người sinh ra sau ngày 30
tháng Tư năm bảy lăm. Những lớp người nầy, cho dù chế độ Cộng sản bị
giải trừ, hàng ngũ cán bộ, đảng viên Cộng sản hoàn toàn tan nát, nào
biết gì giai đoạn lịch sử bi thương của dân tộc dưới gông cùm của chế
độ Cộng sản. Tất cả đều bị nhồi sọ, bị đầu độc bỡi luận điệu
cùng sách báo tuyên truyền một chiều, láo khoét, bẻ ngoặt, cải sửa
lịch sử theo ý đồ man trá của Cộng sản. Các thế hệ trẻ mai sau nào
hiểu ra thủ đoạn ‘vo tròn bóp méo’ thực tế lịch sử, nào nhìn ra bao
nhiều tội ác tầy trời của Đảng và Nhà nước Cộng sản đối với nước,
với dân ; nào hiểu được rằng số lớn cha ông đã phải rời Tổ quốc
ra đi ‘không để tìm đất sống mà để tìm đất thở’ (trang 362), nghĩa là để tìm Tự do, để có điều kiện xóa bỏ cái chế độ
bạo tàn, ma vương, ác quỷ hầu đưa đất nước và nhân dân đến cảnh sống
có đầy đủ nhân phẫm, nhân quyền.
Lớp trẻ mai sau sẽ bị nhiễm độc
bỡi ‘vi trùng Cộng sản, nỡi nọc độc Cộng sản để không thể phán xét
lịch sử một cách vô tư, khách quan, từ đó sẽ lầm lạc nghĩ rằng chỉ
có Cộng sản mới ‘có công’ với đất nước, còn tất cả đều là ‘phản
động, phản cách mạng’. Lớp trẻ vị lai nầy, vì chỉ đọc sách báo
một chiều của Cộng sản, sẽ khó lòng phân biệt được cha ông mình,
lớp người nào là thủ phạm, lớp người nào là nạn nhân, lớp người nào
đã dìm đất nước nhân dân vào biển máu, vào sa đọa, tối tăm ngu đần,
tụt hậu, lớp người nào thực sự trung thành với Tổ quốc, Quê hương.
Vũ Ký ‘di bút’ lại cho các lớp
trẻ vị lai đó biết nhìn lịch sử một cách công minh, sáng suốt để
hiểu do đâu, vì đâu một dân tộc không kém oai hùng so với thế giới năm
châu đã phải bị trải dài trong một giai đoạn tối tăm, u ám cùng cực,
băng hoại và tụt hậu cả hàng thế kỷ trong lúc nhân loại tiến thẳng
về tương lai, trong lúc bao quốc gia cùng cảnh ngộ như Việt Nam sau Đệ
Nhị Thế Chiến và trong quá khứ so ra kém sút VN lại trở nên sung túc,
phú cường. Vũ Ký làm nhiệm vụ tường trình lịch sử chứ không nhằm
gây hận thù nơi các lớp trẻ mai sau, không chủ trương ‘gây thù, báo oán’
mà chỉ nhằm sao giúp các lớp trẻ nầy biết nhìn lịch sử, thẫm định
lịch sử, nhìn ra được rõ ràng công, tội của những thế hệ trước dù
thuộc tầng lớp nào, hàng ngũ nào trong suốt giai đoạn lịch sử đã qua.
Bản Tường Trình Lịch Sử nầy,
bản Di Chúc Cho Thế Hệ Mai Sau nầy là cả tâm huyết của một sĩ phu yêu
nước, của một nhà chí sĩ gắn bó
suốt đời mình với Tổ Quốc, Dân Tộc, nhắc nhở các thế hệ vị lai
đừng quên gốc, quên nguồn, đừng quên Truyền Thống Văn Hóa dân tộc thể
hiện qua Đạo Ông Bà hầu biết phán đoán đúng đắn lịch sử đã qua để
không phải giẫm lên những bước ‘lỗi lằm lịch sử’ mà một số cha ông
vì chạy theo quyền lực và quyền lợi đã vấp phạm, đã đưa đất nước và
nhân dân vào tột cùng̣ lầm than, khốn khỗ, bi thương.
Vũ Ký không chi lo lắng cho bây
giờ mà còn lo cho cả tương lai của đất nước, dân tộc. Phần nào, qua
Bản Tường Trình nầy, Vũ Ký đã cùng tâm trạng của một Nguyễn
Du : ‘’Trắc thân bất khuất hữu hình ngoại, Thiên tuế trường ưu
vị tử tiền’’ (hai câu thơ chữ
Hán của Nguyễn Du. Xin tạm dịch : Hữu hình thân ấy không tồn
tại, Vẫn nghĩ nghìn sau chuyện thế trần). Tấm
lòng đó của một nhà Văn hóa nơi Vũ Ký cao quí biết dường nào !
3/- Truyện Kiều :
một tác phẫm siêu hình.
Thêm một khám phá về kiệt tác nầy của dân tộc. Truyện Kiều
-đúng hơn ‘Đoạn Trường Tân Thanh’- của Nguyễn Du càng ngày càng
được mở phơi thêm nhiều giá trị. Qua thiên Tiểu luận nầy, Giáo sư Vũ
Ký đã thêm một khám phá mới về tác phẫm. Không đi vào toàn bài, người
viết chỉ xin chú ý vào điểm chính sau đây :
Phân tích hình ảnh ‘Trăng’ thường
được dùng nơi Truyện Kiều, Giáo sư, học giả Vũ Ký cho rằng : ‘’Cung
tại Trăng, nhưng đây có phải là nỗi lòng u uất, vĩnh kiếp khó dồn nén
của một cô Kiều, suốt một cuộc đời nát tan, ê chề, tuyệt vọng, sau
lời thề thốt với chàng Kim ? Hay chính cái đau thương bất biến
thường trực của tâm hồn Nguyễn Du bị dằn vật bỡi một thẹn lòng khôn
nguôi, hơn thế nữa, bỡi một uất ức nào đó đối với chính mình mà
Người không giải tỏa được ?’’ (trang 324). ‘’Nhưng Nguyễn Du thẹn về cái gì ? Mà Nguyễn Du thẹn với
ai ? …Nguyễn Du không những thẹn với trăng mà còn sợ trăng…Sợ
gì ? Không ai rõ. Chỉ có Trời biết….Nỗi thẹn, nỗi sợ của thi
hào trong suốt tác phẫm, nếu có, hẳn là nỗi sợ về một cõi siêu linh
nào đó mà vốn là một tâm hồn nghệ sĩ cao độ lãng mạn, nhà thơ vẽ
vời, thêu dệt, làm thành một định kiến ám ảnh rợn người đến trong
kiếp chết…’’ (trang 325). Nỗi
thẹn, nỗi sợ đó, theo Vũ Ký, bắt nguồn từ cái Đạo Trời (thiên đạo) hay Mệnh
Trời (thiên mệnh) : ‘’Con người ta trên đời lưu hành trong
cái đạo biến hóa ấy của trời đất khác nào đàn cá lặn lội ở giữa
vùng nước chảy, tuy lúc nào cũng có năng lực vùng vẫy, chạy nhảy nhưng
vẫn phải trôi theo dòng nước xiết. Sức trôi theo dòng nước ấy tức là
thiên mệnh vậy’’ (trang 311). Theo Vũ Ký, ‘’Chữ Mệnh mà
thi hào nêu lên trong tác phẫm Kiều là một điệp khúc siêu hình vấn
vương ý thức và tâm lực Nguyễn Du. Nói như nhà Nho, đấy là điều bất
khả thăng ngôn (không thể nói hết), bất khả thăng số (không
thể đếm xiết), bất khả tư nghị (không thể bàn bạc
được) ; điều ấy quá đổi lạ lùng lắm vậy’’ (trang 312). Người viết chỉ xin lược trích như trên, không bàn bạc nhiều vì
sẽ phải đề cập đến Đạo học và Triết học rất dài dòng.
Riêng phần phân tích hình ảnh
Trăng và nhân vật Đạm Tiên, người viết vô cùng thích thú.
Thúy Kiều luôn nhìn trăng, thầm
thì, to nhỏ, chuyện trò, hỏi đáp với trăng về phận mình, về cuộc
sống chìm nổi của mình. ‘’Trăng diễm tình, trăng gợi ý, trăng
khiến sầu, trăng gieo ấn tượng, trăng tương tư, trăng hoài niệm, trăng
tủi hận, bao nhiêu trăng trong số phận đời Kiều. Trăng với nỗi lòng
Kiều là một. Trăng là một biểu tượng siêu hình trong tri giác thường
trực của Kiều. …Và Nguyễn Du say đắm trăng mà diễn tả một cách thi vị
và thú vị vô cùng trong tác phẫm’’ (trang 322). Ngòi bút Nguyễn Du vô
cùng điêu luyện và sinh động diễn tả đủ mọi sắc thái của trăng đối
với Kiều và đối với tâm thức của ông.
Vũ Ký phân tích nhân vật Đạm
Tiên vô cùng linh động. Đạm Tiên, ‘’môt nhân vật siêu thực, khi ẩn khi
hiện ; một phương diện của thiên tài Nguyễn Du qua một mẩu văn tự
sự 19 dòng, biểu dương sắc thái siêu hình và hấp lực tương quan giữa
thế giới vô hình và hữu hình luôn luôn hiện hữu trong thần trí chúng
ta trên cõi thế’’ (trang 331, 332).. Có thể
nói, Vũ Ký đặt mình vào vị trí
Nguyễn Du khi viết Truyện Kiều, để sống với cái huyền nhiệm
siêu hình ‘bất khả tư nghị’ nầy. Người viết không có ý kiến đúng,
sai về sự phát hiện ‘tính cách siêu hình’ của tác phẫm Truyện Kiêu.
Dù sao thì đây cũng là một khám phá thêm vào bao khám phá đã có trước
đây để người đọc càng thêm nhìn ra bao giá trị còn tiềm tàng, ẩn chứa
nơi kiệt tác nầy của dân tộc. Nếu
quả cái ‘Thiên Lý, Thiên Mệnh’ là một ‘huyền nhiệm siêu hình’ thì tâm
thức ‘Hướng về Nguồn’ của người Việt Nam qua ‘Đạo Ông Bà’ biểu hiện
được dòng vận hành của Thiên Lý, Thiên Mệnh đó nơi cõi thế, theo quan
điển Đạo học Đông phương ‘’Van hữu đồng Nhất Thể’’ và tất cả
đều ‘’từ Một trở về trong Một’’.
Bao nhiêu bài khác trong tập ‘Về
Nguồn’ nầy như ba bài về Hội An (viết bằng Hồi ức), Tôi đi
học, Vạn Tam Kỳ, Tôi đọc sách Thầy (Thầy Thích Như Điển), Nghệ
thuật bếp núc (biên khảo), giới thiệu Trà Lũ, Phù Vân, Lê Mỹ Như
Ý, Nghệ thuật chơi Bonsai, Xung quanh Chuổi Ngọc Đứt Rời,…, tất cả
đều xa gần liên hệ với chủ đề ‘Về Nguồn’ nơi nhan đề tác phẫm.
Về Nguồn, một tác phẫm
cần thiết cho thế hệ trẻ bây giờ và mai sau, không chỉ về mặt kiến
thức, kiến văn mà còn cả về mặt tâm tình, đạo đức và chí hướng cùng
ý nghĩa cuộc sống, cuộc đời. Về Nguồn, tác phẫm chất ngất
cái ‘hồn nước’ nơi một nhà làm Văn hóa đã cống hiến cả đời mình cho
Dân tộc và luôn ước mong các tầng lớp thế hệ trẻ vị lai tiếp tục
phát huy hơn nữa tinh hoa của truyền thống dân tộc để Việt Nam luôn
luôn huy hoàng, rực rỡ cùng thế giới năm châu trên hành trình hướng về
tương lai rạng rỡ, hồi phục cái Đạo Thể, Đạo Tâm, cái Cội Nguồn ban
sơ , cái Tính Thể uyên nguyên, đồng nhiên, đơn thuần của con người, của
lẽ sống.
Nguyễn
Thùy
_________________
Chú thích :
1) ‘Vạn vật vân vân, các phục kỳ
căn. Các phục kỳ căn nhi bất tri’ : Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản
dịch của Thu Giang Nguyễn Duy Cần, nxb Khai Trí, Saigon 1962, quyển 1.
2) ‘Je suis d’aujourd’hui de jadis mais
je sens en moi quelque chose de demain, de l’après demain et de l’avenir’ :
F. Nietzche : Ainsi parlair Zarathoustra, bản dịch Pháp ngữ của
Maurice Bettz trong Coll. Le Livre de Poche.
3) ‘Le jadis de l’Aurore dans le futur
de l’Avenir’ : M. Heidegger, trích dẫn bỡi Francoise d’Astur trong
‘Heidegger et la question du temps’.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét