Bước Vào Tuần Lễ Tưởng Niệm 51 Tháng Tư Đen! Cùng Sống Với Gây Phút Lịch Sử Thương Đau, 3 Ngày Nữa, Sài Gòn Miền Nam VN Hấp Hối, Giã Biệt Trên 20 Năm Dân Chủ, Tự Đo! Và Từ Đó Cả Đất Nước Chìm Trong Địa Ngục Đỏ Đến Nay! Tưởng Niệm Năm Mươi Mốt Năm (51) Tháng Tư Đen! Niềm Đau Quốc Hận!
<!>
-Tháng Tư Đen lại về! Đối với những người Việt Tị Nạn CS, thì đây là một thời điểm rất quan trọng, để tưởng niệm những anh hùng đã tử tiết ngay trong biến cố 30 Tháng Tư, cũng để tưởng niệm các đồng bào đã tử nạn trên đường đi tìm tự do, và cũng để nhìn lại con đường đấu tranh, chống độc tài CS đã qua.
Năm mươi năm mốt qua, dù qua nửa thế kỷ, tập thể người Việt tị nạn cộng sản đều ghi nhớ ngày đen tối này, đó là ngày đau thương của cả dân tộc, ngày đánh dấu hàng triệu đồng bào bỏ nước ra đi, gần nửa triệu người bỏ xác trong rừng sâu núi thẳm, trên đại dương mênh mông và cũng là ngày để chúng ta tưởng nhớ sự hy sinh, tử tiết, oai hùng của quân, dân, cán, chính VNCH. Các gương tiết tháo “thà chết chứ không hàng giặc!” của các vị ấy, đã để cho thế hệ đi sau hiểu được giá trị của sự đấu tranh cho lý tưởng tự do như thế nào. Nên năm mươi năm qua, cộng đồng người Việt khắp nơi, vẫn giữ được căn cước tị nạn tại xứ người, cờ vàng vẫn tung bay khắp nơi. “Quốc gia hưng thịnh, tùy thuộc vào người dân có lòng với đất nước.” Nếu một ngày chúng ta vẫn còn tranh đấu, thì ngày đó, chúng ta vẫn có quyền hy vọng, thấy đất nước Việt Nam sẽ có tự do, dân chủ và nhân quyền trong tương lai.
Ngay bây giờ, nếu chúng ta không làm gì, trong tương lai, đất nước của chúng ta, người dân càng đói khổ, và sẽ mất nước dần về tay Tàu Cộng. Qua tập đoàn bán nước “còn Đảng còn mình!” Ý thức được nguy cơ đó, có một cơ duyên đã nổi lên trong những năm vừa qua là, chưa bao giờ ngay trong nước, hàng trăm, hàng ngàn người trẻ, bị tù tội, vì đã cất lên tiếng nói đòi công lý, đòi tư do dân chủ! Nhờ những phương tiện truyền thông hiện đại, chưa bao giờ trong nước và hải ngoại bắt tay nỗ lực trong công tác đấu tranh. Điều này cho thấy “ánh sáng đã bắt đầu lóe lên…cuối đường hầm!”
Lịch sử Việt Nam chứng minh, Việt Nam không thiếu anh hùng, và tương lai Việt Nam, không thể để CS cai trị, Trung Cộng xâm chiếm. Cùng nhau lật đổ chế độ CS bạo tàn, giữ lấy quê hương. chúng ta tin tưởng như vậy. Tương lai Việt Nam sẽ tươi sáng. Bình minh, nắng ấm lại trở về trên đất Mẹ!
Nên ngày nào còn CS ngự trị, Tháng Tư Đen vẫn còn là một nhắc nhở cần thiết, cho công cuộc đấu trang dân chủ, đòi lại tự do cho người dân Việt Nam, cho dù đường dài đến đâu đi chăng nữa!
Mong lắm thay.
(LVH)
Ý Nghĩa Của Ngày Quốc Hận 30/4
-Ngày Quốc Hận là ngày buồn thảm, vì đó là ngày mà chúng ta, những người Việt ở Miền Nam Việt Nam, bị mất đất nước vào tay cộng sản Bắc Việt tàn ác, từ Hà Nội, bằng sự xâm lăng bạo lực và bất hợp pháp của bộ đội Miền Bắc vào lãnh thổ tự do của dân Miền Nam, năm 1975.
Nhân Ngày Quốc Hận 30 Tháng 4 sắp đến, trước hết xin nhắc giới trẻ sinh sau năm 1975, một ý nghĩa quan trọng mà nhiều em vẫn chưa biết: Ngày Quốc Hận là ngày buồn thảm, vì đó là ngày mà chúng ta, những người Việt ở Miền Nam Việt Nam, bị mất đất nước vào tay cộng sản Bắc Việt tàn ác, từ Hà Nội, bằng sự xâm lăng bạo lực và bất hợp pháp của bộ đội Miền Bắc vào lãnh thổ tự do của dân Miền Nam, năm 1975. Tóm tắt, Ngày Quốc Hận 30/4 là Ngày Mất Đất Nước, nói rõ hơn là Ngày mất nước Việt Nam Cộng Hòa, của tất cả những người Việt yêu tự do, nhân quyền, dân chủ, và hòa bình.
Vậy mà, có những em sinh viên ở Mỹ còn tụ tập thành nhóm, để ăn uống, vui chơi, và nhảy múa, ngay trong ngày và đêm 30/4, như đã thấy trong các năm qua. Năm nay, xin các cha mẹ nhắc nhở và giải thích cho con cháu hiểu về ý nghĩa lịch sử của Ngày 30/4 đau buồn này, vì sau ngày đó, vào khoảng nửa triệu dân Việt ở Miền Nam đã bỏ mình trên Biển Đông do vượt biển.
Tôi mong các phụ huynh người Việt vẫn còn nhớ để dạy con cháu một câu tục ngữ Việt thông thường đã được phổ biến trong các trường học Miền Nam của chính thể Việt Nam Cộng Hòa, trước năm 1975: Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ. Chúng ta nghĩ sao khi thấy loài ngựa biết chia sẻ nỗi đau cho nhau và biết cư xử với đồng loại của chúng tốt hơn con người cư xử với nhau? Sự hy sinh can đảm và đầy nước mắt đó của nửa triệu đồng bào vượt biển, đã Thức Tỉnh Lương Tâm của Liên Hiệp Quốc. Nên Cao Ủy Tị Nạn của LHQ đã lo chi phí cho các Trại Tị Nạn Cộng Sản (CS) được dựng lên trên các đảo ở Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan… vào khoảng các năm 1978-1988, để đón nhận những người Việt Tị Nạn đến sinh sống tạm thời ở đó. Rồi những người Mỹ có lòng tốt và Quốc Hội Mỹ đã kêu gọi được chính phủ Mỹ chấp thuận cứu xét giấy tờ cho người Việt Tị Nạn CS được định cư với cuộc đời mới ở Mỹ. Dần dần, các nước Tự Do khác trên thế giới cũng ủng hộ và cho phép chúng ta định cư trên đất nước họ, với lý do tị nạn chính trị, như: Úc, Gia Nã Đại, Pháp, Đức, Anh, Tân Tây Lan, Bỉ, Đan Mạch, Na Uy… Đồng bào của chúng ta đã chết cho chúng ta được sống. Vậy nỡ nào bây giờ, cha mẹ, những người Việt tị nạn trước đây, thản nhiên (hoặc vô tình không biết) để cho con cháu mình tụ họp, vui chơi, nhảy nhót trong các buổi tối, gần Ngày Quốc Hận 30/4?
Kế đến, tôi muốn các em biết điều quan trọng thứ hai đã xảy ra vào hai năm 1988-1989: Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan đã hoàn thành một việc vĩ đại, giúp các tù nhân chính trị của Miền Nam, đang thống khổ lúc đó, do bị kỳ thị và bị đàn áp bởi sự độc tài của chế độ CS độc đảng trong nước. Năm 1988, Tổng Thống Reagan đã ký lệnh cho phép tất cả các Quân, Dân, Cán, Chính của VNCH, thuộc mọi cấp bậc và trình độ (đã bị tù tập trung khổ sai, ít nhất 3 năm trở lên, dưới chế độ CSBV) và gia đình của họ, được nộp giấy tờ xin đi Mỹ, hợp pháp. Nghĩa là, họ và gia đình, không phải đi trốn bọn công an VC một cách lén lút, đầy nguy hiểm, bằng cách đi bộ qua Thái Lan, Cam Bốt…, hoặc vượt biển với những con thuyền nhỏ bé như một chiếc lá mong manh và chết trên sóng biển đại dương nữa.
Trước đó một năm, vào năm 1987, nhiều Nghị Viện của Quốc Hội Mỹ thuộc cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ, cùng với Phụ Tá Bộ Trưởng Ngoại Giao lúc đó, là ông Robert Funseth, đã nỗ lực hoạt động như những người điều đình để trình bày Nghị Quyết 212. Khi họ mang nội dung của Nghị Quyết này đến thương lượng với VC trong việc thả tù chính trị của VNCH đang bị hành hạ trong các trại tù tập trung khổ sai (mà VC gian manh gọi là “học tập cải tạo”) thì bị VC chống đối mãnh liệt. Đảng CS Hà Nội nói rằng: “Không, chúng tôi không thả. Nếu thả hết bọn tù chính trị và tù quân đội VNCH này ra thì chúng đứng lên làm loạn cả nước, làm sao đảng cai trị dân được? Nước Mỹ của các anh có dám nhận hết tụi tù (dơ dáy) này qua Mỹ không thì chúng tôi mới thả…”
VC không ngờ TT Reagan đã nhanh chóng xác nhận là Mỹ sẽ nhận các tù nhân VNCH vào nước Mỹ ngay, vậy VC cứ thả họ đi. Nhờ vậy, một hiệp ước thỏa thuận đã được ký ngày 30/7/1989 bởi Hoa Kỳ và nhà cầm quyền VC. Nghị Quyết 212 hợp pháp đã giải thoát khoảng 300.000 tù nhân chính trị, và cùng với gia đình, họ được rời khỏi Việt Nam để định cư ở Hoa Kỳ.
Rõ ràng, đối với các cựu tù nhân chính trị VNCH: sau cơn mưa, trời lại sáng. Hãy hy vọng và cầu nguyện, ngay cả khi chúng ta bị phản bội, đang thất bại, hoặc gặp hoạn nạn… Tất cả rồi cũng trôi qua với cuộc đời tạm bợ này… Và hãy tin rằng những ai làm việc cho chính nghĩa và nhân nghĩa, sẽ có cơ duyên hội tụ và ủng hộ nhau để thành công.
(Bầu Trời VN - Trần Quốc Kim, 16/04/2026)
Sinh Hoạt 30 Tháng Tư Năm Nay, San Jose Có Gì Lạ? Xin Mời Tham Dự Một Sinh Hoạt Ý Nghĩa Nhất, Nhiều Xúc Động, Đau Thương Nhất! Chạm Vào Trái Tim! Năm Ngoái, Gần 1 Ngàn Người Tham Dự! (Thứ Năm Tuần Này)
Chiều Nhạc Tưởng Niệm Truyền Thống Lần Thứ 2, 51 Năm Tháng Tư Đen, Nhớ Về Hành Trình Đau Thương Của Những “Boat People”, Gần Nửa Triệu Thuyền Nhân Đã Lấy Đại Dương Mênh Mông, Làm Mồ chôn Trên Đường Đi Tìm Tự Đo! Tại Tượng Đài Thuyền Nhân San jose!
*Năm ngoái, gần 1 ngàn người tham dự sinh hoạt ý nghĩa này!
*Đúng vào đêm 30 tháng tư, năm nay, vào ngày Thứ Năm, 30 Tháng 4, Tuần này! Năm 2026, từ 3 giờ chiều, tới 9 giờ đêm! Tại Đền Thánh Tử Đạo Việt Nam, 685 Singleton Road, San Jose, Ca 95111
Chương trình tưởng niệm 51 năm “Tháng Tư Đen”.
3:00pm – 6:00pm: Chương trình văn nghệ (Trong Hội Trường) do các ca nghệ sĩ nổi tiếng nhất trong vùng và thân hữu của VTLV phụ trách. Có triển lãm nhiều hính ảnh thuyền nhân vượt biển.
6:05pm – 6:45pm: Thánh Lễ cầu nguyện cho những thuyền nhân đã chết trên đường vượt biên, vượt biển, để tìm tự do và những nạn nhân bỏ mình trong chiến tranh.
6:45pm - 8:30pm: Đốt nến cầu nguyện, do nhóm Xóm Nhỏ cùng ca sỹ Diệu Linh phụ trách.
8:00pm tới 9:00pm, mời ăn tối nhẹ, với món bánh canh giò heo nổi tiếng! chè và nước giải khát!
Vào cửa tự do!
Thay mặt BTC
(LVH)
Sinh Hoạt Tưởng Niệm Của Cộng Đồng:
Nhân Tưởng Niệm 51 Năm Quốc Hận! Chuyện Kể Hành Trình Kinh Hoàng Trên Biển Đông: Thuyền Nhân Vượt Biển! Đã Đánh Động Lương Tâm Cả Thế Giới, Từ Đó Chữ “Boat People” Dành Riêng Cho Thuyền Nhân VN! Tường Trình Công Tác Cứu Người Vượt Biển Và Dựng Tượng Thuyền Nhân Tại San Jose.
*Gần nửa triệu Thuyền Nhân đã lấy đại dương mênh mông làm mồ chôn! Trên đường trốn chạy cộng sản!
*Thảm cảnh “Boat People” đã làm rúng động lương tâm thế giới! Hoa Kỳ bật đèn xanh, Nhiều quốc gia trên thế giới, ồ ạt nhận người tị nạn!
*Thời gian đau thương này, Bắc Cali, dắt đầu trong công tác cứu trợ, Anh Lê Văn Hải, đã cộng tác với Ủy Ban Báo Nguy Cứu Người Việt Biển, qua 6 chiến dịch “Tình Thương Dưới Ánh Mặt Trời” quyên góp trên một triệu đô la, yểm trợ những con tầu Tình Thương ra khơi, cứu vớt trên 3 ngàn Thuyền Nhân đến bến bờ tự do! Những công tác nhân đạo này, đã biến San Jose, có mỹ từ “Thủ Phủ Tình Thương Người Vượt Biển!”
*Anh cũng là Trưởng nhóm Vận Động và Xây Dựng “Tượng Đài Thuyền Nhân” tại San Jose, đã được khánh thành trong Tháng Tư 2024, cách đây đúng hai năm!
-Vậy mà đã 51 năm! sau 75, CSVN đã gieo rắc không biết bao nhiêu tội ác trên quê hương Việt Nam. Có thể nói, trên từng tấc đất, ngọn cỏ, lá cây, hòn đá… của quê hương Việt Nam, dưới mỗi mái gia đình, trong mỗi thân phận người Việt, đều có những dấu ấn đau thương mất mát, ghi lại những tội ác kinh tâm động phách, do người cộng sản gây ra.
Kể từ 30 tháng 4 năm 1975, CSVN đã thực hiện hàng loạt chiến dịch đàn áp, khủng bố, thủ tiêu, bắt bớ… dã man trên khắp lãnh thổ Miền Nam, để một mặt ăn cướp trắng trợn tài sản của người dân, mặt khác, nghiền nát mọi sức đề kháng, chống đối của những người yêu nước, khiến hàng triệu người dân Miền Nam phải vượt biển, vượt biên tìm tự do.
Hậu quả, trong thời gian hơn hai thập niên kể từ sau 1975, hàng trăm ngàn người Việt, trong đó phần lớn là phụ nữ, trẻ em, ông bà già,… đã bị thảm tử trên biển cả, trong rừng sâu, ngoài hoang đảo…. sau khi phải trải qua những bi kịch thương tâm, muôn vạn phần đau đớn. Không những thế, ngay cả với những người sống sót, những bi kịch đó, vẫn còn mãi mãi tiếp tục ám ảnh, giầy vò, tra tấn họ, cho dù họ có sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, có đi đến bất cứ chân trời góc biển nào…không thể nào quên!
“Những câu chuyện Kể Hành Trình Biển Đông”. Là những dòng chữ được viết bằng máu và nước mắt, của chính những người trong cuộc, với tấm lòng xót xa và những giọt nước mắt đau đớn, của những người tỵ nạn cộng sản cùng cảnh ngộ, sẽ hiểu được, tội ác của chánh phạm CSVN, đằng sau muôn ngàn bi kịch rùng rợn của người vượt biển. Qua đó, chúng ta sẽ thức ngộ được, lần đầu tiên trong lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc VN, và có thể nói lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, tội ác của một chế độ đối với chính người dân của chế độ, như chế độ CSVN, quả thực đã vượt khỏi biên cương quốc gia, tung hoành trong mỗi gia đình, mỗi cuộc đời, để rồi tiếp tục tràn lan trên khắp bề mặt địa cầu…Thảm cảnh thuyền nhân, đã làm thế giới rung động!
Biến cố tháng 4 năm 1975, khởi đầu một cuộc viễn xứ vĩ đại của hàng triệu người Việt trên những con thuyền mong manh ra biển Đông mưu cầu hạnh phúc. Những thuyền nhân sống sót bởi lòng bác ái của cộng đồng thế giới, đã tạo dựng nền tảng của tập hợp người Việt tha hương khắp nơi. Ước tính 3 triệu người Việt rời bỏ quê hương trên những con thuyền mong manh sau biến cố 1975.
Nhiều năm đã trôi qua, những ai đã từng lênh đênh trên những chiếc ghe thuyền mong manh, thường chỉ được sử dụng đánh cá ven biển, để vượt đại đương đi tìm tự do, họ không thể nào quên được những giây phút hiểm nguy kinh hoàng đã qua, nếu họ may mắn sống sót sau cuộc hải hành tử sinh ấy.
Hoa Kỳ cho biết một vài số liệu đáng quan tâm như sau: “Theo chỗ được biết, thuyền nhân bắt đầu từ sau 1975. Những người di tản từ 1975 thì có những người đi bằng đường thủy, nhưng đa số là người di tản. Phải đến ít nhất là tháng 8, tháng 9 năm 1975, tức là sau khi Cộng Sản vào Sàigòn rồi, mới bắt đầu có những người rời Việt Nam bằng đường biển đến Mã Lai, Thái Lan. Lúc đó không còn người Mỹ đón ngoài biển nữa. Lúc đó, coi như là vượt biên bằng đường biển thực sự. Theo thống kê của các cơ quan nhận được, từ 1975 cho đến 2005, trong 30 năm đã có gần 3 triệu người Việt định cư trên 126 quốc gia trên toàn thế giới. Trong số người đi bằng đường biển có gần 1 triệu người đi vượt biên. Thống kê của các trại tị nạn Đông Nam Á vào năm 1995 là 839.200 người, kể cả 42.900 người đi bằng đường bộ. Có phỏng chừng 3 trăm đến hơn 400 ngàn người đã bị bỏ mình không đi đến được bến bờ tự do.
Chữ “thuyền nhân” thế giới trước đây, thường nghĩ ngay đến những người dân Hồng Kông, sống trên các thuyền bè, 50, 60 năm trở về trước, đến khi có sự kiện người Việt vượt biển: “Kể từ khi có người Việt vượt biển và có biết bao nhiêu người chết, vào các trại tị nạn thì trong tự điển thế giới bắt đầu có chữ mới “thuyền nhân” – “boat people”, và định nghĩa “thuyền nhân” là những người tỵ nạn. Trong tất cả những gia đình người Việt ở hải ngoại, không có một gia đình nào là không có liên hệ với thuyền nhân, trực tiếp hay con cháu của thuyền nhân. Cho nên thuyền nhân là một ý nghĩa chính thức để xây dựng một cách toàn thể cộng đồng của người Việt ở hải ngoại.”
Thời kỳ cao điểm người Việt trong nước vượt biên nhiều nhất là những năm 1979, 1980 trở đi. Trong giai đoạn này, hải tặc Thái Lan bắt đầu hoành hành. Ngoài việc phải chấp nhận sóng gió trên biển cả, họ còn phải đối diện với nạn hải tặc. Không biết bao nhiêu phụ nữ đã bị hãm hiếp, thậm chí bị bắt đi mất tích. Những thanh niên liều mình chống lại hải tặc, đều bị chết thảm thương và xác thì bị quăng xuống lòng biển sâu. Có người thì bị giam giữ nơi sào huyệt của bọn chúng, trên những đảo hoang, nếu không may được cứu thoát, thì không biết số phận sẽ ra sao. Nhà văn Nhật Tiến, một trong những thuyền nhân đã từng là nạn nhân của bọn hải tặc Thái Lan, kể lại: “Tôi vượt biển vào tháng 10 năm 1979. Sau 10 ngày trên biển, tàu chết máy và trôi, sau vài lần bị cướp, cuối cùng bị hải tặc kéo vào đảo Kra, cách bờ biển Thái Lan khoảng 4 giờ tàu chạy. Sau 3 tuần lễ liền, bị nhốt trên đảo, là sào huyệt của hải tặc. Nhóm của tôi có 81 người, trong 3 tuần sau đó thì có thêm 3 ghe thuyền nữa, cũng bị hải tặc kéo vào, tổng số là 157 người. Ngày thứ 21, có một trực thăng của Liên Hiệp Quốc bay qua đảo, phát hiện thuyền nhân bị như vậy, Cao Ủy đã mang thuyền ra để cứu vào đất liền..
Trước thảm cảnh này, Cộng Đồng Việt Nam Họ mau chóng thành lập Ủy Ban Cứu Nguy Người Vượt Biển.” với sự cộng tác của những tấm lòng khắp nơi trên thế giới, như tại Bắc Cali, Có Nguyễn Hữu Lục, Lê Văn Hải.
Vào ngày 27 tháng 2 năm 1980, Ủy Ban Báo Nguy Cứu Người Vượt Biển, tức “Boat People SOS” được chính thức thành lập. Giáo sư Nguyễn Hữu Xương, hiện là giảng viên trường Đại Học San Diego, lúc bấy giờ là chủ tịch Ủy Ban, kể lại: “Lúc đầu, Uỷ Ban chỉ muốn lên tiếng để cho cộng đồng lưu ý chính phủ Mỹ và chính phủ Thái Lan biết để giúp đỡ thuyền nhân chống hải tặc. Nhưng đến năm 1984, 1985 thì thấy hải tặc tàn ác quá, nên chúng tôi mới nghĩ đến chuyện gửi tàu vớt người ngoài biển.”
Cũng vào thời gian ấy, tại Pháp, hội Y sĩ Không Biên Giới, đang tiến hành việc tổ chức đi cứu thuyền nhân Việt Nam, nhưng không ai được ai hỗ trợ về tài chính. Thế là nhân chuyến công tác tại Âu Châu, giáo sư Nguyễn Hữu Xương đề nghị Hội này kết hợp làm việc. Giáo sư Xương kể tiếp về nhiều buổi gây quỹ được tổ chức để ủng hộ cho chiến dịch vớt thuyền nhân: “Lúc ấy cộng đồng ta còn nghèo nàn, chưa có nhiều như bây giờ, nhưng việc vớt thuyền nhân lại rất nhiều. Có người chỉ có 5, 10 đồng nhưng họ hết lòng đóng góp. Trong 5 năm quyên lên đến trên hàng triệu đô la. Không hẳn chỉ ở bên Mỹ, mà còn ở Úc, Canada, ở Pháp. Nơi nào cũng lập ra ủy ban để quyên tiền cho việc vớt thuyền nhân. Vì thế mới gửi được 5 chiếc tàu đi. Một chiếc đi thường là 3 tháng. Trong 5 năm đi được 5 chuyến tàu, cứu được hơn 3000 người. Chúng tôi phải xin visa Âu Châu, hay Mỹ, thì Philippines, hay Malaysia mới nhận thuyền nhân lên. Xin visa là một chuyện rất khó khăn, chính phủ Pháp và Đức thì có nhiều visas. Chính phủ Mỹ thì không cho visa, nhưng giúp bằng cách là khi thuyền nhân được vớt lên trên đảo Palawan, Philippines, nếu có gia đình bên Mỹ thì chính phủ Mỹ sẽ nhận. Vì thế, visa còn lại sẽ được dùng để cứu thêm người.”
Theo như các tài liệu và thông tin của tổ chức Ủy Ban Báo Nguy Cứu Người Vượt Biển SOS, vào tháng 3 năm 1989, để chặn bớt làn sóng người vượt biên, Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đã ra chính sách thanh lọc tại các trại tỵ nạn Đông Nam Á, bắt đầu giai đoạn đóng cửa trại tị nạn.
Đồng thời lúc ấy, Hoa Kỳ cũng bắt đầu có chương trình di dân “ODP” (Orderly Departure Program), “HO” (Humanitarian Operation) và chương trình “Con lai” (Amerasian Resettlement Program). Trong thời gian đó, “người ta thấy đi bằng thuyền chết chóc nhiều quá, rồi ở trại tỵ nạn không được giải quyết, nên người ta cho chương trình “Ra Đi Có Trật Tự” thì mới giải quyết được bằng các diện người “Đoàn Tụ Gia Đình”, “HO”, hay “Con lai”. Ngay cả những người đến trại tỵ nạn rồi bị trở về Việt Nam cũng được Mỹ cho tái định cư theo chương trình gọi là “ROVR” (Resettlement Opportunity for Vietnamese Returnees)”.
Sau tháng 3 năm 1989, các trại tị nạn đóng cửa và bắt đầu chính sách thanh lọc. Tiến trình thanh lọc này có rất nhiều sai trái, bởi vì ý định của họ là loại bỏ thuyền nhân, giam giữ họ lại trại tị nạn, để làm bàn đạp đẩy họ về Việt Nam. Phần lớn thuyền nhân có rất nhiều kinh nghiệm đau khổ về chế độ Cộng Sản, mặc dù bị đàn áp nặng nề, nhưng vẫn bị mất quyền tị nạn.
Sau khi các trại tị nạn đóng cửa và bắt đầu chính sách thanh lọc, không còn visa vào các quốc gia, thảm cảnh thuyền nhân, được thế giới đóng lại, qua các chương trình định cư khác!
Để biết thêm về hành trình đau thương này, xin tham dự:
Giới Thiệu Một Sinh Hoạt Đặc Biệt Nhất, Nhân Mùa Tưởng Niệm 51 Năm Tháng Tư Đen, Hành Trình Kinh Hoàng Của Những Thuyền Nhân Việt, Gần Nửa Triệu Đã Chìm Xuống Biển Sâu! Và Kỷ Niệm 2 Năm San Jose, Có Tượng Đài Thuyền Nhân!
Đúng Ngày, Thứ Năm, 30 Tháng 4 Năm 2026, Tại Đền Thánh Tử Đạo Việt Nam, năm ngoái, đã có gần hàng ngàn người tham dự! Đủ thấy chương trình, rất xứng đáng tham dự! Tại 685 Singleton Road, San Jose, Ca 9511.
Thay mặt Nhóm Vận Động Và Xây Dựng Tượng Đài Thuyền Nhân San Jose
(Lê Văn Hải.)
LỜI PHÚT MẶC NIỆM LỄ TRUY ĐIỆU:
51 Năm Tháng Tư Đen (1975–2026) Và Những Vị Tướng, Chiến Sĩ VNCH Tuẫn Tiết! Tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt & Mỹ San Jose. (Lúc 9 Giờ Sáng Thứ Năm Tuần Này!)
Kính thưa quý vị,
Kính thưa quý đồng hương, quý chiến hữu, quý niên trưởng và toàn thể quý vị hiện diện,
-Trong giờ phút truy điệu trang nghiêm này, lòng chúng ta cũng lặng xuống trong nỗi đau chung của dân tộc.
Năm mươi mốt năm trước — cũng vào những ngày cuối tháng Tư như thế này — Sài Gòn, thủ đô của miền Nam Việt Nam tự do, đang thoi thóp trong những giờ phút cuối cùng. Một miền đất từng có tự do, dân chủ, no ấm và hy vọng… đang dần đi vào bóng tối.
Bằng giây phút này, 51 năm trước…Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên bắt đầu. Hàng trăm ngàn quân dân di tản trong tuyệt vọng, kẹt cứng trên Tỉnh Lộ 7B. Pháo kích dội xuống đoàn người không vũ khí. Tiếng khóc trẻ thơ, tiếng gọi nhau trong tuyệt vọng, xác người ngã xuống ven đường... Tỉnh Lộ 7B từ đó mang tên đau thương: Tỉnh Lộ Máu.
Bằng giây phút này…
Các tỉnh miền Trung lần lượt thất thủ.
Quân dân bỏ lại quê hương, chạy về phía Nam trong tuyệt vọng. Trên Đại Lộ Kinh Hoàng, trên Đèo Hải Vân, nơi cửa biển miền Trung — Xác người ngã xuống, chồng chất, tang tóc phủ kín một dải quê hương.
Bằng giây phút này…
Năm vị tướng lãnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và hàng trăm người lính anh dũng đã chọn cái chết để giữ trọn danh dự. Họ bắn vào tim mình… Họ giữ trọn lời thề với Tổ Quốc. Một hành động bi tráng làm rơi nước mắt cả thế giới.
Bằng giây phút này…
Hàng triệu người dân Việt Nam bắt đầu cuộc hành trình đau thương nhất lịch sử. Bỏ lại quê hương… Bỏ lại mồ mả tổ tiên… Bỏ lại tuổi thơ, ký ức và tất cả những gì thân yêu nhất… Sau đó… Hàng trăm ngàn thuyền nhân vượt biển.
Biển Đông trở thành nghĩa trang không bia mộ. Hơn nửa triệu người vĩnh viễn nằm lại trong lòng đại dương lạnh lẽo.
Kính thưa quý vị,
Tháng Tư Đen không chỉ là một biến cố lịch sử. Đó là nỗi đau của một dân tộc. Là ký ức không thể phai nhòa.
Là những giọt nước mắt còn rơi suốt nửa thế kỷ.
Hôm nay, trong giây phút mặc niệm thiêng liêng này, chúng ta cúi đầu tưởng nhớ: — Những chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh — Những quân dân cán chính đã ngã xuống — Những thuyền nhân bỏ mình trên biển cả — Những người đã chết trong lao tù, trại cải tạo — Và tất cả những đồng bào đã mất quê hương trong biến cố Tháng Tư Đen
Xin một phút cúi đầu… Xin một phút mặc niệm…Xin một phút cho lịch sử không bao giờ bị lãng quên…
Tháng Tư Đen — lần thứ 51
Chúng ta nghiêng mình tưởng niệm. Chúng ta giữ gìn ký ức. Chúng ta truyền lại cho thế hệ mai sau
Vì…
Mất Quê Hương là mất tất cả! Còn Quê Hương là còn tất cả những gì chúng ta yêu thương
Xin kính mời toàn thể quý vị Cùng cúi đầu… Phút mặc niệm bắt đầu!
(Người Lính LVH)
Chu Lynh Kinh chuyển đến Quý Vị:
Video "Thông Điệp 51" tưởng niệm ngày đau thương của Dân tộc
(30.4.1975 - 30.4.2026)
Bằng Giây Phút Này, 51 Năm Về Trước:
Miền Bắc đốt sách miền Nam như thế nào?
(Chép lại từ video của LKTC)
-Trước năm 1975, Sài Gòn là trung tâm văn hóa và giáo dục của miền Nam Việt Nam. Khoảng 900 nhà in hoạt động tự do, 180 nhà xuất bản lớn nhỏ. Ngành xuất bản miền Nam lúc đó sánh ngang với Nhật Bản, Hồng Kông và Singapore. Hơn nữa, một lớp nhà văn, nghệ sĩ tài năng di cư từ miền Bắc vào miền Nam đã làm cho không khí xuất bản và các hoạt động văn hóa ở Sài Gòn càng thêm sôi động. Nhưng chỉ vài năm sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hàng triệu cuốn sách của miền Nam đã bị đốt cháy thành tro trong những ngọn lửa dữ dội từ miền Bắc.
Năm 1977, một quan chức ở TP. Hồ Chí Minh khoe với báo chí quốc tế rằng đã nghiền nát 700 tấn sách từ miền Nam. Cùng năm đó, một quan chức ở Huế nói rằng hàng chục ngàn cuốn sách và tranh vẽ "lạc hậu" về "tình cảm lãng mạn" và "tìm kiếm khoái lạc thể xác" đã bị thiêu hủy. Một phần lớn trong số 80.000 cuốn sách tại Trung tâm Giáo dục Alexander de Rhodes ở Sài Gòn cũng bị đốt theo chính sách xóa bỏ "văn hóa tư sản". Đây là một cuốn sách về luật học tổng quát của giáo sư Vũ Văn Mậu, Khoa Luật, Đại học Sài Gòn, xuất bản tại Sài Gòn năm 1971.
Đây là cuốn sách về luật hiến pháp và thể chế chính trị của giáo sư Lê Đình Chân, Khoa Luật, Đại học Sài Gòn, xuất bản tại Sài Gòn năm 1973. Cả hai cuốn sách này lẽ ra đã bị đốt ở miền Nam sau năm 1975. Tại sao miền Bắc lại đi đốt sách của miền Nam? Sách miền Nam bị đốt như thế nào? Tất cả những gì bạn cần biết về vụ đốt sách sẽ có trong video này. Năm 1974, miền Nam có khoảng 180 nhà xuất bản lớn nhỏ, trong khi miền Bắc chỉ có 21 nhà xuất bản.
Từ năm 1954 đến 1972, hơn 1.000 đầu sách đã được xuất bản ở miền Nam. Năm 1963, Đoàn Thêm từng nói: "Miền Nam đã xuất bản 2.624 đầu sách, phần lớn là tiểu thuyết và thơ ca." Năm 1965, 1970 và 1973, miền Nam nhập hơn 96.000 tấn giấy cho hơn 700 nhà in, trong đó có 20 nhà in lớn có thể in tới một triệu cuốn sách mỗi năm. Những nhà in này đã in hơn 86 triệu cuốn sách ở miền Nam. Tuy nhiên, các nhà xuất bản và hiệu sách ở miền Nam, dù lớn hay nhỏ, đều chung một số phận sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Ngay sau khi tiếp quản miền Nam, chính quyền quân sự đã cấm lưu thông và tàng trữ tất cả sách báo ở miền Nam. Chỉ trong một tuần, một quận ở Sài Gòn đã tịch thu hơn 482.000 cuốn sách. Một hiệu sách ở Nha Trang phải giao nộp hơn 35.000 cuốn sách. Năm 1976, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định rằng "việc xây dựng một nền văn hóa mới đang được tiến hành trong cuộc chiến xóa bỏ những tàn dư mà Mỹ đã gieo rắc ở miền Nam. Đó là một nền văn hóa nô dịch, lai căng, suy đồi, cực kỳ phản động..."
Để thay thế những cuốn sách bị đốt cháy ở miền Nam, chính phủ đã chuyển hàng trăm tấn sách từ miền Bắc vào miền Nam. Tuy nhiên, chiến dịch đốt sách vẫn không dừng lại. Tháng 1 năm 1978, Bộ Văn hóa Thông tin tổ chức một "Hội nghị chống lại tàn dư văn hóa tân thuộc địa" ở TP. Hồ Chí Minh. Hai tháng sau hội nghị này, chính quyền TP. Hồ Chí Minh phát động chiến dịch tiêu hủy sách lần hai. Họ nói rằng lần quét sách trước đó vẫn chưa triệt để.
Vì vậy, lần này họ tiêu hủy sách trên diện rộng, từ tiểu thuyết văn học, thơ ca đến sách chính trị, pháp luật và kinh tế, chỉ giữ lại sách về khoa học tự nhiên. Nhiều tác giả cho biết chính quyền đã huy động trẻ em đeo băng đỏ đi vào nhà dân để tịch thu sách. Người ta kể rằng một chủ tiệm cho thuê sách đã ném lựu đạn khi lũ trẻ đeo băng đỏ ào vào nhà tịch thu sách. Đến tháng 6 năm 1981, chính quyền đã tịch thu khoảng 3 triệu ấn phẩm nữa.
Trong đó có 60 tấn sách ở Sài Gòn. Theo Nguyễn Văn Lục, chính quyền mới đã đốt tất cả sách miền Nam bất kể nội dung hay thể loại. Thậm chí cả sách thiếu nhi có giá trị giáo dục cao cũng bị thiêu hủy. Chính quyền nhắm vào quan điểm chính trị và thái độ của tác giả hơn là nội dung cuốn sách. Sự sụp đổ của ngành xuất bản tư nhân đã tạo ra một bóng đen lớn đối với các nhà văn miền Nam. Đến năm 1981, Chính phủ Trung ương công bố danh sách 122 tác giả mà toàn bộ tác phẩm của họ bị cấm lưu hành.
Tác giả Nguyễn Hiến Lê nói rằng sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhiều nhà văn miền Nam cảm thấy như chết lặng bên trong vì sự phân biệt đối xử và thù địch của chính quyền mới. Ngoài nỗi thất vọng trong sáng tác, họ sống trong lo lắng, không biết khi nào chính quyền sẽ đến gõ cửa nhà mình. Năm 1976, chính quyền đã bắt giữ 44 nhà văn, nhà thơ và nhà báo miền Nam. Vào tháng 4 cùng năm, chính quyền đã tập hợp khoảng 70 nhà văn và nghệ sĩ với cáo buộc "nghệ sĩ chống cộng".
Một loạt nhà văn bị bắt như Vũ Hoàng Chương bị giam đến chết, Nguyễn Mạnh Côn qua đời trong trại cải tạo, Nhã Ca bị tù 2 năm, Trần Dạ Từ 12 năm tù, Mai Thảo trốn thoát được, Duyên Anh bị tù gần 6 năm, Dương Nghiễm Mậu 1 năm tù, Doãn Quốc Sĩ 5 năm tù, Nguyễn Sĩ Tế 11 năm tù, Thanh Thương Hoàng 8 năm tù, Phạm Thành Tài 8 năm tù, Trần Tuấn Kiệt 10 năm tù, v.v. Một năm sau, chính quyền lại bắt thêm những nhà văn khác như Hồ Hữu Tường.
Ông bị kết án 2 năm tù, còn Hoàng Hải Thủy bị bắt hai lần và chịu án 8 năm tù. Nhiều nhà văn, nhà thơ đã qua đời trong sự khắc nghiệt của các trại cải tạo, người đầu tiên là Vũ Hoàng Chương, mất vào tháng 9 năm 1976. Năm 1979, hai nhà văn Ngọc Thứ Lang và Nguyễn Mạnh Côn cũng qua đời trong trại cải tạo. Nhà văn Hồ Hữu Tường mất vào tháng 6 năm 1980 khi đang bị giam giữ. Tuy nhiên, danh sách các tác giả bị bắt không chỉ dừng lại ở đó. Khoảng một tháng sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hơn 44.000 cựu binh, nhân viên và các quan chức chính phủ của Việt Nam Cộng Hòa đã ra trình diện theo yêu cầu của chính quyền mới.
Có những người lính có nhiệm vụ viết về chủ nghĩa chống cộng, nhưng cũng có những người viết dựa trên cảm xúc cá nhân. Nhà văn Nguyễn Ngọc từng viết về văn học của lính miền Nam: "Văn học miền Nam khác, họ viết sự thật về chiến tranh, về cảm xúc của người sống trong chiến tranh. Văn học miền Nam được phép đứng ngoài chính trị." Tuy nhiên, sau năm 1975, những nhà văn và nghệ sĩ thuộc Quân đội Việt Nam Cộng hòa là những người bị giam giữ lâu nhất.
Nhà thơ Tô Thùy Yên, một thiếu tá, trưởng bộ phận văn nghệ thuộc Phòng Chiến tranh Tâm lý, trực thuộc Tổng cục Chính trị, đã bị giam ba lần, tổng cộng 13 năm tù. Những tác giả khác như Văn Quang, trung tá Đài Phát thanh Quân đội, bị giam 12 năm; Phan Nhật Nam, đại úy đơn vị Dù, bị giam 14 năm; Thảo Trường, thiếu tá thuộc Phòng Chính trị của Bộ An ninh Quân đội, cũng bị giam 17 năm. Đến năm 1985, Ủy ban Vận động cho Tù nhân Chính trị Việt Nam tại Hoa Kỳ ước tính vẫn còn khoảng 300 nhà văn, nghệ sĩ và nhà báo miền Nam bị giam giữ trong các trại cải tạo.
Sau khi ra tù, dù là nhà văn quân đội hay không, nếu muốn tiếp tục sống ở Việt Nam, họ phải ngừng viết. Phần lớn nhà văn và nghệ sĩ miền Nam buộc phải rời bỏ quê hương. Nhà nước tiếp quản các nhà in. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, có 932 công ty in lớn nhỏ ở Sài Gòn, các cơ sở in ấn bị nhà nước tiếp quản. Chính quyền mới đã in hàng loạt ấn phẩm, như 300.000 bản báo Giải Phóng Sài Gòn đầu tiên, in 2 triệu tấm ảnh màu Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn 7 triệu cuốn sách giáo khoa chỉ trong 45 ngày.
Hai năm sau, giấy in ở miền Nam cạn kiệt. Chính phủ không nhập được giấy từ nước ngoài. Việt Nam phải tự sản xuất giấy chất lượng kém để tiếp tục in ấn. Các nhà máy in lớn được tập hợp thành các doanh nghiệp in ấn hoặc liên doanh, đánh số từ 1 đến 7.
Chẳng hạn, Nhà in số 1 gồm những nhà in mà nhà nước thu giữ như Tòng Bá, Nam Đường, Huê Dương Ly Ky, Lương Hữu và nhà in Tân Đại Minh. Doanh nghiệp in số 4 là nhóm các nhà in bị thu giữ gồm Văn Hữu, Thanh Niên, Trí Thức Mới, Văn hóa Mỹ thuật. Những nhà in nhỏ hơn được gom lại thành các doanh nghiệp in tập thể, đánh số từ 1 đến 10. Máy móc in hiện đại nhất lúc đó tập trung ở Sài Gòn đều được chuyển về Hà Nội và các tỉnh thành khác.
Cho đến thời điểm đó, nhà nước độc quyền ngành in ấn; không có doanh nghiệp in tư nhân, nghĩa là không có tự do xuất bản. Từ 180 nhà xuất bản trước năm 1975, chỉ sau 10 năm, tổng số nhà xuất bản trên toàn quốc giảm xuống còn 40. Năm 1993, chính phủ chính thức quy định "nhà xuất bản là tổ chức thuộc cơ quan nhà nước hoặc tổ chức chính trị, xã hội". Đến năm 2022, Việt Nam có 57 nhà xuất bản. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, xuất bản tư nhân ở Việt Nam đã biến mất.
Tinh thần xuất bản sôi nổi một thời của Việt Nam Cộng Hòa vẫn chưa hồi sinh được.
Một Nén Hương Và Một Lời Xin Lỗi, Từ Một Bộ Đội Miền Bắc:
-Hôm nay ngày 25.04.2026 tại Thủ đô Berlin, Liên hội người Việt tỵ nạn tại Cộng hòa Liên bang Đức đã tổ chức ngày Việt Nam Cộng Hòa mất nước. Tức là mất Miền Nam, mà họ gọi là ngày “Quốc hận”.
Tôi là người Bắc, vì tò mò nên tôi cũng đi tham gia xem người Miền Nam họ tổ chức về ngày này ra sao. Tôi để ý thấy họ đi biểu tình không ồn ào, huyên náo, khuân mặt ai cũng vui vẻ, hiền hòa, êm ả.
Ban tổ chức hướng dẫn thế nào là họ tôn trọng nghe và làm theo, chứ họ không cãi lộn hay chạy nhảy lăng xăng, rồi gào thét, nói to đóng góp ý kiến, rằng là phải thế này, rằng là phải thế kia, để cố thể hiện ta đây nói có lý hơn người khác, như dân Bắc mình.
Họ tổ chức rất khoan thai, bình tĩnh, bài bản và văn minh. Tôi thấy có hai xe ô tô của cảnh sát Đức và một số nhân viên của họ đi bộ với đoàn diễu hành để bảo vệ khâu an ninh.
Họ hô vang những khẩu hiệu bằng cả tiếng Đức lẫn tiếng Việt với Nội dung như là: Đả đảo CS, Đả đảo Tô Lâm, Tự do cho VN, Dân chủ cho VN. Nhiều bài phát biểu của các vị trong Ban tổ chức bằng tiếng Đức và tiếng Việt rất đanh thép tại sân nhà Quốc hội và tại Cổng thành Brandenburger Tor đòi tự do, dân chủ, nhân quyền, xóa bỏ CS và yêu cầu thả tù nhân Chính trị đã vang lên và được nhiều khách Đức và khách du lịch đi qua giơ tay chào đón và ủng hộ.
Có lẽ họ cũng cho rằng những đòi hỏi đó là chính đáng.
Tôi nghe thấy họ Đả đảo CS mà buồn thiu, vì tôi là Đảng viên, lại từng đã vào Nam xâm lược Đất nước của họ. Một Đất nước có chủ quyền, có cờ, có Quốc ca và có một Thể chế dân chủ văn minh.
Vâng tôi phải đau lòng nhận lấy câu đả đảo của họ. Vì họ đả đảo đúng. Không đời thủa nào một Đất nước tối tăm lạc hậu, đói rách triền miên, phi dân chủ, trọng bạo lực lại đi giải phóng một Dân tộc văn minh hơn mình, giàu có hơn mình để “giúp” cho họ trở thành khổ và ngu ngốc như mình.
Tôi thương họ và buồn cho họ vì để mất Tổ quốc. Tôi trách họ, vì đã để chúng tôi thắng; để rồi cả nước thua. Nên hôm nay họ kỷ niệm ngày đen tối của họ, thì cũng là ngày đen tối trong trái tim tôi – Một người từng bên kia chiến tuyến, khi nhận ra bộ mặt thật của CS Bắc Kỳ.
Vâng, thưa bà con, thế hệ chúng tôi đã bồng súng lên đường đi giải phóng ngược! Lẽ ra Bắc tiến mới thực là giải phóng.
Thật cảm động và xót xa khi thấy bà con người Miền Nam họ cúi mặt mặc niệm những người lính của họ, người dân của họ đã ngã xuống do chúng tôi vượt suối băng rừng ngày xưa từ ngoài Bắc vào gây ra. Họ cũng tưởng nhớ tới hàng ngàn người chết vì vượt biển làm mồi cho cá sau này.
Những người đứng giữa 3 lựa chọn ngày đó; mà một phần không nhỏ đã ra đi nằm dưới đại dương…
“Nhất con nuôi má
Nhì má nuôi con
Ba con nuôi cá.”
Có nghĩa là nếu vượt biên thoát được con sẽ gửi tiền về nuôi má; nhưng chẳng may con bị CS bắt thì má phải mang cơm vào nhà tù nuôi con. Còn cuối cùng rất có thể con sẽ phải làm mồi nuôi cá ngoài biển khơi mênh mông…
Tôi thật buồn rằng chúng ta hô hào hòa giải, hòa hợp mà 51 năm rồi vẫn chỉ là “võ miệng”. Người Bắc chúng ta đã không nhận ra hay cố tình không muốn nhận ra là chúng ta đã bị CS lừa. Chúng ta không như Dân Ukraine ngày nay là họ đánh độc tài, để bảo vệ nền Dân chủ; còn chúng ta u minh lại đi đánh Dân chủ để bảo vệ độc tài. Muốn hòa giải hòa hợp được chúng ta phải nhận ra rằng đó là một cuộc chiến vô nghĩa và ngu xuẩn.
Giải phóng ngược như thế, thà rằng không thống nhất còn hơn. Thì chúng ta còn vớt vát được một nửa nước như Nam Hàn và hơn Nam Hàn. Ai ngờ giờ đây mất cả nước rơi vào tay CS. do Ngoại bang chỉ đạo, giật dây.
Bà con yêu quý ơi, không có bên thắng cuộc đâu. Mà chúng ta ở cả hai miển đều thua cuộc mốt cách đau đớn xót xa.
Ngày này chúng ta hãy thắp một nén hương lòng không chỉ cho đồng bào và Chiến sĩ VN Cộng hòa mà cả cho những người dân chết vì Chiến tranh ở ngoài Bắc của tôi. Và không thể nào được phép quên là hãy thắp cả cho những người đồng đội của tôi. Các anh đã ra đi trên mảnh đất Cha ông mà không được may mắn như tôi, để sống, để biết chúng ta đã sai lầm.
Trước khi nhắm mắt chắc các anh vẫn cứ đinh ninh rằng các anh hy sinh vì Dân vì nước; chứ không ngờ:
“Cả cuộc đời ta hy sinh cuồng nhiệt
Lại dựng nên chính cỗ máy này”
(Thơ Bùi Minh Quốc)
Xin chia buồn cùng với bà con Miền Nam thương đau trong tháng 4 u sầu này. Và tôi cũng cúi đầu xin lỗi bà con, vì tôi đã từng nghe Đảng và Bác xui dại mà vào xâm lược Tổ quốc, Quê hương yêu dấu của bà con. Để giờ đây tôi và bà con đều là kẻ chiến bại bi hùng…
Cầu Chúa ban phước lành cho tất cả chúng ta.
Thủ đô Berlin, 25.04.2026
Nguyễn Doãn Đôn
Tại Sao Cộng Đồng Tỵ Nạn Không Thể Quên Ai Đã Cứu Mình Và Ai Đã Bỏ Rơi Mình?
“Kết thúc một cuộc xung đột không đơn giản chỉ là gọi nó lại và về nhà. Vì cái giá của loại hòa bình đó có thể là một ngàn năm bóng tối.”
(Ronald Reagan, A Time for Choosing, 1964)
-Tôi viết những dòng này không phải bằng mực, mà bằng máu của ký ức. Máu của những người lính miền Nam VNCH chết không phải vì hèn nhát mà vì hết đạn. Máu của những bà mẹ ôm con nhảy xuống biển và không bao giờ nổi lên. Máu của những người cha gầy trơ xương trong trại tù Cộng sản, chết trong im lặng, không một dòng cáo phó. Tôi không viết để gieo hận thù. Tôi viết vì sự thật đang bị lãng quên, và khi sự thật bị lãng quên, thì những người đã chết sẽ chết lần thứ hai.
Năm 1964, Ronald Reagan đứng trước cả nước Mỹ và nói một câu mà lịch sử sẽ chứng minh là lời tiên tri: “Kết thúc một cuộc xung đột không đơn giản chỉ là gọi nó lại và về nhà. Vì cái giá của loại hòa bình đó có thể là một ngàn năm bóng tối.”
Mười một năm sau, nước Mỹ làm đúng điều Reagan khuyến cáo: gọi cuộc chiến lại và về nhà. Và bóng tối phủ xuống Việt Nam — chưa đủ một ngàn năm, nhưng đủ lâu để hàng triệu người chết, hàng triệu người bị bỏ tù, và hàng triệu người phải rời bỏ quê hương mãi mãi. Câu hỏi mà bài viết này đặt ra rất đơn giản: ai đã gây ra bóng tối ấy, và ai đã thắp lên ngọn nến?
NHÁT DAO ĐẦU TIÊN — VỤ LẬT ĐỔ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM
Hãy quay về Sài Gòn, mùa thu năm 1963. Ngô Đình Diệm — con người đã nhận một miền Nam hoang tàn sau Hiệp định Geneva 1954 và xây dựng nó thành một quốc gia có chủ quyền giữa vòng vây của du kích Cộng sản — đang điều hành một đất nước non trẻ trong vỏn vẹn 9 năm, tuy chưa hoàn hảo nhưng đang đứng vững. Ông đã làm được điều mà ngay cả chính tổng thống Dwight D. Eisenhower đã phải thốt lên: “Người tạo nên kỳ tích của châu Á” (“Miracle man of Asia”).
Có thể trong mắt 1 số người, Tổng thống Ngô Đình Diệm không phải thánh nhân. Nhưng ông là đồng minh của Mỹ. Và đồng minh, trong mọi luật chơi của quan hệ quốc tế, không phải để giết.
Nhưng chính quyền của tổng thống đảng Dân Chủ John F. Kennedy lại nghĩ khác. Ngày 24 tháng 8 năm 1963, một bức điện tín từ Bộ Ngoại giao Mỹ — cáp điện DEPTEL 243, sáu chữ số sẽ khắc vĩnh viễn vào lịch sử như vết dao không bao giờ lành — được gửi tới Sài Gòn, bật đèn xanh cho các tướng lĩnh Việt Nam đã được Mỹ mua chuộc bằng tiền: Washington sẽ không cản đảo chánh
Đại sứ Henry Cabot Lodge Jr. thực thi mệnh lệnh với sự nhiệt tình mà sau này chính những người ra lệnh phải hối hận. Ngày 2 tháng 11 năm 1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu bị giết trong xe thiết giáp. Một vị tổng thống đồng minh bị chính đồng minh của mình giết. Và ba tuần sau, John Kennedy cũng bị giết tại Dallas — và như thể lịch sử có cách riêng để trả lại món nợ.
Hậu quả của cuộc lật đổ ấy là cơn hồng thủy chính trị: bảy cuộc đảo chính liên tiếp trong hai năm, miền Nam rơi vào hỗn loạn, và chính sự hỗn loạn ấy cho phép chính quyền Dân Chủ tiếp theo — Lyndon B. Johnson — đổ nửa triệu quân Mỹ vào Việt Nam năm 1965 với Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ — dựa trên một sự kiện mà lịch sử xác nhận đã bị phóng đại và bóp méo. Xin hãy nghe kỹ lôgic tàn nhẫn này: họ giết nhà lãnh đạo đồng minh, tạo khoảng trống quyền lực, rồi dùng chính khoảng trống ấy để đổ quân vào. Hơn 58.000 quân nhân Mỹ và hàng triệu người Việt chết trong cuộc chiến mà đảng Dân Chủ khởi động nhưng không có chiến lược kết thúc. Đây là nhát dao đầu tiên.
NHÁT DAO THỨ HAI — JOHN KERRY VÀ LỜI PHẢN BỘI TRƯỚC QUỐC HỘI
Nếu vụ lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm là nhát dao chém vào đầu, thì lời điều trần của John Kerry ngày 22 tháng 4 năm 1971 trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện là nhát dao xoay trong vết thương còn đang rỉ máu. Hãy hình dung khung cảnh: một chàng trai 27 tuổi, mặc quân phục, đeo huy chương Silver Star và ba Purple Hearts, ngồi trước ống kính truyền hình quốc gia và nói với cả nước Mỹ rằng những người lính đồng đội của anh ta — và, bằng nghĩa mở rộng, những người lính đồng minh miền Nam — là những kẻ “hiếp dâm, cắt tai, cắt đầu, dùng dây điện gắn vào cơ quan sinh dục, tàn phá làng mạc theo kiểu Thành Cát Tư Hãn.”
Hãy để những lời ấy lắng xuống trong lòng bạn một giây. John Kerry so sánh những người lính Mỹ và đồng minh Việt Nam với kẻ xua quân tàn sát khắp lục địa với Thành Cát Tư Hãn. Và cả nước Mỹ xem. Và cả thế giới nghe. Và Hà Nội — Hà Nội đặc biệt ghi nhận, cất giữ, và sử dụng từng lời của Kerry như đạn dược tuyên truyền trong suốt những năm còn lại của cuộc chiến. Người lính Việt Nam Cộng Hòa — người đã bỏ lại vợ con để vào sinh ra tử, người mà sau này sẽ chết trong trại tù cộng sản hoặc chìm dưới đáy biển Đông — bị Kerry gộp chung vào bức tranh tội ác mà không một lời phân biệt, không một chút công bằng, không một giọt đồng cảm.
Nhưng điều đau đớn hơn cả lời nói là hậu quả. Kerry không chỉ nói — ông tạo ra môi trường. Ông giúp biến cuộc chiến tranh Việt Nam thành vết nhơ trong lương tâm Mỹ, và từ vết nhơ ấy, Quốc Hội Đảng Dân Chủ có cơ sở đạo đức để cắt viện trợ, bỏ rơi đồng minh, và rửa tay khỏi máu của hàng triệu người. Và để nghịch lý lên đến đỉnh điểm: năm 2004, chính Kerry ra tranh cử tổng thống với tư cách ứng viên Đảng Dân Chủ, dùng kinh nghiệm Việt Nam làm vốn chính trị. Rồi với tư cách Ngoại trưởng dưới thời tổng thống Obama, Kerry tiếp tục xích lại gần Hà Nội, nâng cấp quan hệ song phương, và không bao giờ — không một lần — đặt nhân quyền làm điều kiện tiên quyết. Người phản bội người lính đồng minh năm 1971 giờ ôm hôn chế độ đã bỏ tù chính những người lính ấy. Phản bội kép. Và cả hai lần đều dưới ngọn cờ Dân Chủ.
NHÁT DAO THỨ BA — CẮT VIỆN TRỢ VÀ THÁNG TƯ ĐEN
Năm 1973, Tổng thống Cộng Hòa Richard Nixon ký Hiệp định Hòa bình Paris, kèm theo một lời hứa — lời hứa của cường quốc số một thế giới với một quốc gia nhỏ bé đã đổ máu suốt hai mươi năm vì niềm tin của Mỹ: chúng tôi sẽ tiếp tục viện trợ. Các bạn sẽ không bị bỏ rơi.
Lời hứa ấy bị phản bội ngay trước mắt những người đã tin. Tu Chính Án Case-Church năm 1973, do hai nghị sĩ Dân Chủ chủ xướng, cấm mọi hành động quân sự của Mỹ tại Đông Dương. Rồi Quốc Hội Dân Chủ ra tay nghiền nát: viện trợ cho miền Nam bị cắt từ 1,4 tỷ đô la xuống 700 triệu, rồi xuống 300 triệu — trong khi Liên Xô và Trung Quốc đổ vũ khí cho Bắc Việt như nước sông. Quân đội miền Nam không còn đạn để bắn, không còn nhiên liệu để chạy xe, không còn phụ tùng để sửa máy bay. Họ chiến đấu bằng tay không chống lại đạo quân được trang bị tận răng. Và họ thua. Không phải vì họ hèn. Mà vì họ bị phản bội.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe tăng Bắc Việt húc đổ cổng Dinh Độc Lập. Một quốc gia biến mất. Hàng triệu người bị đưa vào trại tù “cải tạo” cái tên thật khốn nạn dành cho trại tù của Cộng sản — làm việc khổ sai, bị đánh đập, bị bỏ đói, nhiều người chết trong im lặng. Hàng trăm ngàn người liều mạng ra biển trên những chiếc thuyền mỏng manh, và biển Đông trở thành nghĩa trang không bia mộ lớn nhất thế kỉ 20. Lời tiên tri của Reagan thành hiện thực: bóng tối đã phủ xuống Việt Nam. Và những người tắt đèn chính là Quốc Hội do Đảng Dân Chủ nắm quyền.
NHÁT DAO THỨ TƯ — BIDEN VÀ CÂU NÓI MÀ NGƯỜI VIỆT KHÔNG BAO GIỜ QUÊN
Trong những giờ phút tăm tối nhất ấy, khi Sài Gòn đang hấp hối và Tổng thống Cộng Hòa Gerald Ford cầu xin Quốc Hội bật đèn xanh cho lệnh di tản, có một giọng nói trẻ trung và lạnh lùng vang lên trong Toà Bạch Ốc ngày 14 tháng 4 năm 1975. Đó là giọng của Thượng nghị sĩ Joe Biden, 32 tuổi. Và ông nói: “Tôi sẽ bỏ phiếu cho bất kỳ khoản nào để đưa người Mỹ ra. NHƯNG —Tôi không muốn gộp chung với việc đưa người Việt ra.”
Hãy đọc lại câu ấy. Chậm. Từng. Chữ. Một. “Tôi không muốn gộp chung việc đưa người Việt ra.” Trong khi hàng trăm ngàn người đã làm việc cho Mỹ — phiên dịch, tài xế, nhân viên, quân nhân đồng minh — đang run rẩy chờ chết dưới họng súng Bắc Việt. Joe Biden còn nói: “Hoa Kỳ không có nghĩa vụ, về đạo đức hay gì khác, để di tản công dân nước ngoài” và “Hoa Kỳ không có nghĩa vụ di tản một — hoặc 100.001 — người miền Nam Việt Nam.” Không có nghĩa vụ đạo đức. Với những người đã đổ máu vì tin Mỹ.
Nhưng Gerald Ford — một tổng thống Cộng Hòa không được bầu, không có chỉ lệnh của nhân dân, nhưng có lương tâm — đã nói “có”. Ông bất chấp Biden. Bất chấp Quốc Hội Dân Chủ. Bất chấp dư luận mệt mỏi chiến tranh. Và ông ra lệnh di tản. 130.000 người Việt được đưa đến Mỹ an toàn. 130.000 cuộc đời mà Biden muốn bỏ lại. Hãy tự hỏi: bạn, hoặc cha mẹ bạn, hoặc ông bà bạn, có nằm trong 130.000 người ấy không?
NHÁT DAO THỨ NĂM — BILL CLINTON VÀ CHIẾC PHAO CỨU MẠNG CHO CHÍNH QUYỀN HẤP HỐI
Xin hãy theo tôi quay về đầu thập niên 1990 — một trong những khoảnh khắc quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam mà ít người nhận ra. Liên Xô vừa sụp đổ, cuốn theo nguồn viện trợ sống còn của Hà Nội. Nền kinh tế Việt Nam kiệt quệ. Lạm phát phi mã tới 700%. Người dân đói khổ. Cán bộ cộng sản tìm đường tẩu tán tài sản bỏ đi ra hải ngoại. Bộ máy đảng lung lay. Chế độ Cộng sản Việt Nam đang ở đúng nơi mà Liên Xô, Đông Đức, Ba Lan, Rumani đã đứng trước khi sụp: bên bờ vực thẳm. Cấm vận của Mỹ là cái thòng lọng đang siết chặt cổ họng một chế độ đã hết ợ dựa. Lịch sử đang mở một cánh cửa — cánh cửa mà, nếu Mỹ giữ vững áp lực, có thể dẫn đến sự sụp đổ của chế độ và tự do cho tám mươi triệu con người.
Tổng thống đảng Dân Chủ Bill Clinton đóng sập cánh cửa ấy. Năm 1994, ông bỏ cấm vận thương mại. Năm 1995, ông bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hà Nội. Năm 2000, ông bay đến Hà Nội — vị tổng thống Mỹ đầu tiên đặt chân lên đất Việt Nam kể từ chiến tranh — và bắt tay với những người đã giết 58.000 quân nhân Mỹ, những người vẫn đang giam cầm tư tưởng, đàn áp tôn giáo, và cưỡng chế đất đai của dân. Clinton thả chiếc phao cứu mạng xuống giữa lúc chế độ đang chìm. Dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào. Thương mại mở ra. Và đảng Cộng sản — với bộ máy đàn áp vẫn nguyên — được tiêm máu mới để sống thêm ba thập niên.
Clinton và những người ủng hộ ông nói rằng bình thường hóa sẽ “mở cửa tự do”. Ba mươi năm sau, hãy kiểm kê: cửa tự do ở đâu? Việt Nam năm 2026 vẫn là nhà nước độc đảng. Người bất đồng chính kiến vẫn bị bỏ tù. Truyền thông vẫn bị kiểm soát. Tôn giáo vẫn bị sách nhiễu. Đất đai vẫn bị cưỡng chế. Nhưng đảng Cộng sản thì giàu lên, quan chức thì xây biệt phủ, con cái họ thì du học ở Mỹ, và hệ thống độc tài thì vững chắc hơn bao giờ hết — tất cả nhờ chiếc phao mà một tổng thống Dân Chủ đã quăng xuống. Bình thường hóa không giải phóng người dân Việt — nó giải phóng chế độ khỏi sự sụp đổ.
NGỌN NỀN GIỬA BÓNG TỐI — FORD VÀ REAGAN
Giữa bức tranh đen tối ấy, hai vị tổng thống đảng Cộng Hòa nổi lên như những ngọn nến mà gió không dập tắt được.
Gerald Ford — tổng thống không ai bầu, không có chỉ lệnh của nhân dân, không có vốn chính trị để đốt, nhưng có một thứ mà tổng thống đảng Dân Chủ Joe Biden không có: lương tâm. Ông đứng lên trước Quốc Hội đang nói “không”, trước dư luận đang mệt mỏi, trước các cuộc thăm dò đang chống, và ông ra lệnh di tản. 130.000 người Việt được đưa đến Mỹ.
Julia Taft, người phụ trách tái định cư, nói với NPR: “Họ là phiên dịch, là nhân viên, là một phần của quân đội đồng minh. Lẽ ra họ phải được giúp đỡ.” Và Ford đã giúp.
Rồi đến Ronald Reagan — người mà với người Việt tỵ nạn, tên ông gắn liền với hai chữ: hồng ân. Năm 1984, Ngoại trưởng Shultz tuyên bố trước Quốc Hội rằng Mỹ sẵn sàng nhận tới 10.000 tù nhân chính trị. Năm 1987, Nghị quyết 205 và 212 tạo khung pháp lý cho chương trình Nhân đạo. Ngày 30 tháng 7 năm 1989, dưới thời Bush cha, hiệp định HO được ký. Và cánh cửa tự do mở ra cho 180.000 cựu tù nhân cải tạo và gia đình — những người đã chịu tra tấn, lao động khổ sai, và mất mát không thể đo đếm. Trong bài Diễn văn Chia tay ngày 11 tháng 1 năm 1989, Reagan nhắc nhở nước Mỹ về nghĩa vụ đối với người tỵ nạn Việt Nam — ông không nói suông như Clinton, ông hành động. Và 180.000 cuộc đời được cứu là bằng chứng.
Nhiều gia đình Việt tại Mỹ ngày nay — những gia đình HO — không biết rằng sự tồn tại của họ trên đất Mỹ bắt nguồn từ một quyết định của Reagan. Con cái họ học trường Mỹ, đậu đại học Mỹ, làm bác sĩ kỹ sư luật sư tại Mỹ — tất cả bắt đầu từ một tổng thống Cộng Hòa đã nghĩ đến họ khi không ai khác buồn nghĩ. Đây không phải lý thuyết chính trị. Đây là lịch sử gia đình. Và lịch sử gia đình không nên bị quên bởi bất kỳ chiến dịch vận động nào.
LÁ PHIẾU LÀ KÝ ỬC, VÀ KÝ ỬC LÀ MÓN NỢ KHÔNG THỂ QUÊN
Tôi đã dẫn bạn đi qua sáu mươi năm lịch sử. Sáu mươi năm máu và nước mắt. Và mô hình lặp đi lặp lại với sự tàn nhẫn của máy đồng hồ: đảng Dân Chủ giết đồng minh, đổ quân không kế hoạch, Kerry phản bội người lính, Quốc Hội cắt viện trợ, Biden nói “không có nghĩa vụ”, Clinton thả phao cứu chế độ đã giam cầm chính chúng ta. Trong khi Ford cứu 130.000 người. Reagan mở cửa cho 180.000 tù nhân. Đây không phải tình cờ. Đây là lịch sử.
Mỗi lá phiếu của người Việt tỵ nạn không chỉ là lựa chọn chính trị. Nó là hành động ký ức. Là câu trả lời cho câu hỏi mà cha ông chúng ta đã trả bằng máu: bạn có nhớ ai đã cứu mình không, và bạn có nhớ ai đã bỏ rơi mình không?
Reagan đã nói: cái giá của loại hòa bình dễ dãi là một ngàn năm bóng tối. Người Việt đã và đang sống trong bóng tối ấy. Và lá phiếu chính là cách duy nhất để bóng tối không quay lại — cho Việt Nam, cho nước Mỹ, và cho những đứa trẻ mà cha ông đã liều mạng vượt biển để chuyển giao cho chúng một điều duy nhất: TỰ DO.
Lá phiếu là ký ức. Ký ức là món nợ. Và món nợ, đối với người Việt tỵ nạn, là điều thiêng liêng mà Tháng Tư Đen 1975 không bao giờ cướp được.
Bức Tường Đá Đen
(Thơ Trần Quốc Bảo)
Tháng Tư, tường đá còn thao thức!
Tôi gọi tên anh có tiếng vang
Trong lòng đá xôn xao ký ức,
Đoàn hùng binh, uy dũng hiên ngang!
Tháng Tư, tôi đứng bên tường đá,
Chiến trường xưa thấp thoáng hiện sinh,
Ánh hỏa châu, Pleiku, Bình Giã,
Pháo mịt mù, Đồng Xoài, Tây Ninh!
Anh hiện diện khắp nơi… tất cả,
Từ hậu phương, đến tuyến địa đầu.
Yểm trợ chúng tôi, anh gục ngã!
Tình đồng minh ơn trọng, nghĩa sâu.
Tháng Tư hồn vẫn chưa yên giấc,
Trăn trở ngàn năm, chuyện thắng thua.
Tâm sự buồn, như mây u uất,
Xót xa gió thở dài đêm khuya…
Lòng đá chợt quặn đau, rên xiết!
Hỏi sao kết cục Tháng Tư Đen?
Sớm rời chiến trường… anh không biết, (*)
Bọn chính trị, đốn mạt đê hèn!
Chính lúc chiến trường đang mạnh thế,
Chúng phản đồng minh! Bán các anh!
Cúp viện trợ… cuốn cờ tồi tệ!
Tháng Tư uất hận ghi sử xanh.
Tường đá lưu danh, anh còn đó,
Phấp phới Cờ Hoa, Hồn hiển linh!
Tình chiến hữu chúng mình gắn bó,
Đã một thời huynh đệ chi binh.
Tháng Tư. Tôi đến hôn tường đá,
Thấy bạn bè xưa, quen thật quen.
Từng giọt máu chiến trường, vô giá!
Mà sao rốt cuộc Tháng Tư đen! (?)
Tin Quốc Tế Đó Đây
Theo Một Báo Cáo, Ít Nhất 266 Triệu Người Thiếu An Ninh Lương Thực Trong Năm 2025
(Hình RFI / Florence Miettaux: Hàng người chờ phân phát bữa ăn tại trại tị nạn Bulukat ở Malakal, Nam Sudan, ngày 20/2/2026.)
-Theo báo cáo toàn cầu về khủng hoảng lương thực, được công bố hôm 24/4/2026, ít nhất 266 triệu người phải đối mặt với tình trạng thiếu an ninh lương thực trong năm 2025. Con số này cao gần gấp đôi so với 10 năm trước.
Sự gia tăng các cuộc xung đột, hạn hán, biến đổi khí hậu và cắt giảm viện trợ sẽ khiến nạn đói toàn cầu tiếp tục ở mức báo động trong năm nay. Từ Geneva, thông tín viên Jeremie Lanche của Đài Phát Thanh Quốc Tế Pháp (RFI) cho biết thêm:
Con số 266 triệu người thực ra là thấp hơn so với báo cáo gần đây nhất về khủng hoảng lương thực toàn cầu, báo cáo được nhiều tổ chức biên soạn hàng năm, trong đó có FAO (Tổ chức Lương-Nông Liên Hiệp Quốc). Sự sụt giảm này không đúng với thực tế, đơn giản là do thiếu dữ liệu của rất nhiều quốc gia. Không có gì đáng ngạc nhiên, nạn đói được cảm nhận rõ rệt nhất ở các quốc gia bị chiến tranh tàn phá, theo giải thích của bà Beth Bechdol, nhân vật số 2 của FAO. Bà nói: "Hơn 80% trường hợp là những người đang sống trong các cuộc khủng hoảng kéo dài, đa phần họ sống ở một số ít quốc gia, trong đó có Nigeria, Cộng hòa Dân chủ Congo và Sudan".
Danh sách này cần phải được bổ sung thêm A Phú Hãn, Bangladesh, Miến Điện, Pakistan, Nam Sudan, Syria và Yemen. Đây là những khu vực mà ngày càng khó tiếp cận viện trợ nhân đạo, vì giao thông hàng hải ở Vịnh Ba Tư bị gián đoạn và vì viện trợ quốc tế bị cắt giảm. Beth Bechdol cho biết thêm: "Gần 370 triệu người đang ở mức độ 2 về mất an ninh lương thực, mà chúng ta gọi là mức độ căng thẳng. Chỉ cần thêm một cuộc khủng hoảng nữa thôi là họ sẽ rơi vào mức độ tiếp theo. Nếu chúng ta không nhanh chóng hỗ trợ họ, số người cần viện trợ lương thực khẩn cấp sẽ là 370 triệu".
Chỉ trong năm 2025, hai nạn đói đã được tuyên bố, một ở Sudan và một ở Gaza, điều chưa từng có tiền lệ từ 10 năm qua, kể từ khi báo cáo bắt đầu được thực hiện".
Thông tấn xã Reuters hôm 22/4, người đứng đầu Cơ quan Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP), ông Alexander De Croo cho biết hơn 30 triệu người trên toàn thế giới sẽ rơi vào cảnh nghèo đói trở lại vì hậu quả của cuộc chiến ở Iran. Tình trạng thiếu phân bón, trở nên trầm trọng hơn do việc phong tỏa các tàu chở hàng ở eo biển Hormuz, đã và có thể sẽ tiếp tục làm giảm năng suất nông nghiệp từ nay đến cuối năm.
Ngoại Trưởng Iran Đến Pakistan, Phía Mỹ Chuẩn Bị Đến, Nhưng Không Chắc Hai Bên Đàm Phán Trực Tiếp
(Hình AP - Anjum Naveed: Khu vực gần khách sạn Serena, trước vòng đàm phán thứ hai giữa Mỹ và Iran, tại Islamabad, thủ đô của Pakistan, ngày 20/4/2026.)
-Hoa Kỳ và Iran có thể sẽ nối lại đàm phán nhằm chấm dứt chiến tranh, với Ngoại trưởng Iran có mặt tại Islamabad hôm 25/4/2026, các nhà thương thuyết Hoa Kỳ chuẩn bị lên đường sang Pakistan. Tuy nhiên, không chắc là hai bên thảo luận trực tiếp với nhau, 2 tuần sau thất bại của vòng đàm phán đầu tiên, cũng tại thủ đô của Pakistan.
Ngoại trưởng Iran, ông Abbas Araghchi đã đến Islamabad tối qua để thảo luận với các lãnh đạo cao cấp của Pakistan. Tuy nhiên, trên mạng X, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Iran tuyên bố "không có cuộc gặp nào được lên kế hoạch giữa Iran và Hoa Kỳ". Trước đó, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc thông báo là các Đặc phái viên của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, Steve Witkoff và Jared Kushner, sẽ đến Pakistan vào tối 25/4 để đàm phán "với các đại diện của phái đoàn Iran". Từ Islamabad, thông tín viên Online de Gaulle của Đài Phát Thanh Quốc Tế Pháp (RFI) tường trình:
"Về mặt chính thức, Teheran chỉ thông báo một chuyến công du khu vực. Ngoại trưởng Iran dự kiến sẽ tiếp tục với các chuyến thăm Oman và sau đó là Mạc Tư Khoa. Chính quyền Iran nói rõ là các cuộc thảo luận tại Islamabad sẽ vẫn hoàn toàn mang tính chất song phương ở cấp cao nhất với các viên chức Pakistan. Hiện giờ chưa có cuộc gặp nào được lên kế hoạch giữa Iran và Hoa Kỳ. Các Đặc phái viên Mỹ Steve Witkoff và Jared Kushner tối nay mới đến đến Pakistan.
Teheran cũng nói rõ là những đề xuất của họ sẽ được chuyển đến Hoa Thịnh Ðốn thông qua Pakistan. Một số nhà quan sát nói đùa rằng đây là các cuộc thảo luận bàn về các cuộc thảo luận, bởi vì phía Iran đặt điều kiện là Hoa Kỳ phải dỡ bỏ lệnh phong tỏa các hải cảng Iran trước khi nối lại bất kỳ đối thoại trực tiếp nào. Chừng nào chưa có tiến triển về điểm này, các nhà trung gian Pakistan dự kiến sẽ tiếp tục đóng vai trò ngoại giao con thoi giữa hai bên. Cũng trong vai trò này mà vào tuần trước, tổng tham mưu trưởng quân đội Pakistan, Assem Munir, đã đến Teheran và đã chuyển các thông điệp từ Hoa Thịnh Ðốn đến chính quyền Iran.
Tuy nhiên, từ góc nhìn của Islamabad, chuyến thăm của Ngoại trưởng Iran, Abbas Araghchi, dường như là một tín hiệu đáng khích lệ, kết quả của những nỗ lực ngoại giao tích cực phía sau hậu trường do Pakistan tiến hành trong những ngày gần đây".
Trong khi đó, Hoa Thịnh Ðốn gia tăng áp lực đối với Iran. Theo hãng tin AFP, hôm qua, trên mạng X, Bộ trưởng Tài chánh Scott Bessent thông báo chính phủ Hoa Kỳ phong tỏa số tiền điện tử trị giá 344 triệu Mỹ kim "có liên quan đến Iran". Còn theo báo Le Monde, chính quyền Donald Trump vừa ban hành các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với một nhà máy lọc dầu lớn của Trung Quốc và khoảng 40 công ty vận tải biển và tàu chở dầu tham gia vận chuyển dầu của Iran.
Tin giờ chót: Theo báo Le Monde, Ngoại trưởng Iran, ông Abbas Araghchi đã rời Pakistan sang Oman, rồi tới Nga. Trong khi đó, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố các nhà thương thuyết Hoa Kỳ hủy chuyến đi sang Pakistan, sau đó, ông lại cho biết hai bên có thể gặp nhau tại Pakistan vào thứ Ba (28/4).
Phái Đoàn Đàm Phán Hoa Kỳ Không Đến Pakistan
(Hình AP - Jacquelyn Martin: Hai Đặc sứ Hoa Kỳ Jared Kushner (trái) và Steve Witkoff họp báo ở Islamabad, thủ đô của Pakistan, ngày 12/4/2026.)
-Phái đoàn Hoa Kỳ, gồm Đặc sứ Steve Witkoff và Jared Kushner - con rể của Tổng thống Donald Trump - không đến Pakistan như dự kiến. Trả lời báo giới ngày 25/4/2026 khi từ Palm Beach, tiểu bang Florida, trở lại Hoa Thịnh Ðốn để dự Gala thông tín viên tại Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Mỹ cho biết đã hủy chuyến công du và nêu khả năng tiến hành một cuộc họp với Iran vào "thứ Ba" (28/4) tại Pakistan. Tuy nhiên, vụ tấn công tại Gala tối 25/4 tại khách sạn Hilton ở Hoa Thịnh Ðốn có thể làm thay đổi lịch trình.
Theo Tổng thống Donald Trump, ông "không nghĩ là vụ tấn công có liên quan đến Iran, căn cứ vào những gì chúng tôi biết". Tuy nhiên, ông khẳng định "chuyện này sẽ không khiến tôi từ bỏ việc giành chiến thắng trong cuộc chiến ở Iran". Trước đó, khi giải thích lý do hủy chuyến công du của phái đoàn Hoa Kỳ, Tổng thống Trump cho rằng nội bộ Iran bất đồng:
"Họ đang tranh giành nhau; nội bộ đang đấu đá để tranh giành quyền lực. Tôi sẽ nói chuyện với những người cần thảo luận. Nhưng không có lý do gì để phải chờ hai ngày mới gặp mặt, để các Đặc sứ phải di chuyển 16 hoặc 17 tiếng.... Mọi chuyện sẽ không diễn ra như vậy: Họ có thể gọi cho tôi bất cứ khi nào họ muốn. Chúng ta nắm giữ tất cả các quân bài; chúng ta đã thắng.
Lẽ ra họ phải đưa ra một đề xuất tốt hơn. Và ngay khi tôi hủy chuyến công du của phái đoàn, chúng tôi lại nhận được một đề xuất mới, tốt hơn nhiều. Rất đơn giản: họ sẽ không có vũ khí nguyên tử. Iran không thể có vũ khí nguyên tử".
Cùng lúc, Hoa Kỳ tiếp tục gia tăng các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Iran khi áp đặt các biện pháp trừng phạt thứ cấp đối với các thực thể kinh doanh với Iran (trong đó có một nhà máy lọc dầu lớn của Trung Quốc và khoảng 40 công ty vận tải biển và tàu chở dầu tham gia vận chuyển dầu của Iran) nhằm cắt đứt nguồn xuất cảng dầu của Iran, vốn là nguồn thu chính của nước này.
Trong khi đó, chính quyền Teheran vẫn kiên định với điều kiện ngồi lại vào bàn đám phán. Theo truyền thông Quốc gia Iran, trong cuộc điện đàm với Thủ tướng Pakistan - nước trung gian đàm phán, Tổng thống Iran nhắc lại Hoa Kỳ "trước tiên nên dỡ bỏ các trở ngại hoạt động, bao gồm cả lệnh phong tỏa". Còn Ngoại trưởng Iran, ông Abbas Araghchi tiếp tục vòng công du khu vực đến các nước Pakistan, Oman và Nga.
Theo thông tấn xã Reuters, hy vọng về một bước đột phá ngoại giao trong tuần tới đang dần tan biến trong bối cảnh Teheran và Hoa Thịnh Ðốn vẫn giữ vững lập trường.
Iran Đang Bên Bờ Vực Sụp Đổ Như Tuyên Bố của Tổng Thống Mỹ Donald Trump?
-Trong tuần qua, đàm phán giữa Hoa Kỳ và Iran vẫn bế tắc, tình hình tại eo biển Hormuz tiếp tục căng thẳng. Ngay sau khi Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đơn phương triển hạn Lệnh Ngừng bắn vô thời hạn với, nhưng tiếp tục phong tỏa các hải cảng của Iran, thì chính quyền Teheran tuyên bố thắt chặt phong tỏa eo biển Hormuz. Hôm 23/4/2026, chính quyền Teheran cũng thông báo đã thu được khoản phí trung chuyển đầu tiên của tàu thuyền ngoại quốc tại eo biển Hormuz.
Chưa bàn đến hiệu quả của cơ chế thu phí trong khi chiến tranh tiếp diễn, theo phân tích trên Đài Phát Thanh Quốc Tế Pháp (RFI) ngày 24/4 của chuyên gia về Iran, Luật sư - nhà nghiên cứu Ardavan Amir Aslani, thông báo này của Teheran có thể báo hiệu định hướng chính sách của Iran trong khu vực những năm tới:
"Tôi cho rằng, một cách tất yếu, Iran đang hướng tới việc thiết lập một loại phí trung chuyển, nhưng trên thực tế sẽ không được gọi tên như vậy. Nó có thể được thể hiện dưới hình thức khác, chẳng hạn như phí bảo hiểm mà các bên sẽ tăng lên và trả trực tiếp cho Iran. Nhưng đúng là Iran muốn thiết lập cơ chế này.
Ở một mức độ nào đó, họ cũng không hoàn toàn sai, bởi chiểu theo luật pháp quốc tế thì cuộc chiến do Hoa Kỳ phát động là bất hợp pháp, nên sớm hay muộn thì Hoa Kỳ và Do Thái cũng sẽ bị đòi bồi thường những thiệt hại họ đã gây ra.
Không quân Mỹ đã thực hiện 25.000 lần xuất kích và tấn công khoảng 18.000 mục tiêu tại Iran, phá hủy nhiều bệnh viện, cơ sở công nghiệp, các nhà máy, trường học và các trường Đại học. Ai sẽ bồi thường cho Iran trong trường hợp này? Thế nên, tôi cho rằng đây có thể được xem là một cách để Iran 'tự bù đắp thiệt hại'".
Cũng trong tuần này, Tổng thống Hoa Kỳ cho rằng chế độ Teheran đang cạn kiệt thanh khoản và sẽ sớm sụp đổ, đặc biệt khi Iran không còn khả năng dự trữ dầu mỏ do Hoa Kỳ phong tỏa các cảng biển nước này. Cũng theo nguyên thủ Hoa Kỳ, Hoa Thịnh Ðốn chứ không phải Teheran là bên có nhiều thời gian hơn. Kinh tế Iran liệu có đang bên bờ vực sụp đổ như tuyên bố của ông Trump hay không?
Trên thực tế, đúng là kinh tế Iran đa phần lệ thuộc vào nguồn thu từ dầu mỏ, nhưng từ lâu nay Teheran cũng đã quen với việc đối phó với các sức ép từ bên ngoài. Trên đài RFI ngày 24/4, Luật sư - nhà nghiên cứu Ardavan Amir Aslani, chuyên gia về Iran, phân tích:
"Kinh tế Iran là một nền kinh tế đã thể hiện sự bền bỉ trong suốt 47 năm qua. Iran bị tách khỏi hệ thống tài chính quốc tế, bị loại khỏi hệ thống giao dịch tài chính SWIFT, đồng tiền của nước này không thể chuyển đổi, và Iran gần như tự cung tự cấp về lương thực. Iran sản xuất hầu hết những gì cần thiết cho hoạt động của mình, và các cơ sở dầu mỏ vẫn tiếp tục hoạt động để đáp ứng nhu cầu năng lượng trong nước.
Việc đóng cửa Vịnh Ba Tư hiện nay gây nhiều thiệt hại hơn cho kinh tế của các nước Ả Rập theo chế độ quân chủ trong khu vực so với kinh tế Iran. Tôi cho rằng Iran có nhiều thời gian hơn với Mỹ".
Đức Điều Tàu Rà Phá Thủy Lôi Đến Địa Trung Hải, Sẵn Sàng Cho Một Chiến Dịch Tiềm Tàng Tại Eo Biển Hormuz
(Ảnh AP - Gero Breloer, tư liệu: Những tàu rà phá thủy lôi của các nước NATO được khai triển tại Kiel, Đức, tháng 4/2014.)
-Hôm 25/4/2026, Bộ Quốc phòng Đức thông báo sẽ điều 1 khinh hạm chuyên rà phá thủy lôi cùng với 2 hộ tống hạm tới khu vực Địa Trung Hải, nhằm sẵn sàng phối hợp trong trường hợp các đồng minh tiến hành một chiến dịch chung tại eo biển Hormuz.
Từ thủ đô Bá Linh của Đức, thông tín viên Nathalie Versieux của Đài Phát Thanh Quốc Tế Pháp (RFI) cho biết cụ thể:
Tổng cộng có 3 khinh hạm của Đức có thể sớm ra khơi hướng về phía Nam: Một tàu rà phá thủy lôi và 2 hộ tống hạm. Khi đến Địa Trung Hải, các tàu này sẽ chỉ chờ "đèn xanh" từ Quốc hội Đức (Bundestag) để tiến về eo biển Hormuz.
Cách đây hơn 1 tuần, Thủ tướng Friedrich Merz đã bày tỏ sự ủng hộ đối với một chiến dịch rà phá thủy lôi có sự tham gia của Pháp và Anh Quốc sau khi Lệnh Ngừng bắn bền vững được thiết lập. Việc Đức điều một phần Hải quân đến Địa Trung Hải nhằm rút ngắn thời gian khai triển, bởi các tàu này hiện đang đóng tại Biển Bắc, cần nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần, để đi vòng qua Pháp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.
Hải quân Đức, lực lượng thỉnh thoảng vẫn còn phát hiện thủy lôi dưới đáy biển từ thời Đệ nhị Thế chiến, có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực rà phá thủy lôi trên biển.
Được Liên Hiệp Âu Châu Thông Qua Khoản Cho Vay 90 Tỉ Euro, Ukraine Gây Áp Lực Để Được Cấp "Tư Cách Thành Viên Đầy Đủ"
-Sau nhiều tháng bị Hung Gia Lợi cản trở, hôm 23/4/2026 tại Chypre, nước hiện giữ Chủ tịch luân phiên Liên Hiệp Âu Châu (EU), với sự hiện diện của Tổng thống Ukraine ,Volodymyr Zelensky, các nhà lãnh đạo Liên Hiệp Âu Châu đã chính thức thông qua khoản 90 tỉ Euro cho Kiev vay. Trước đó vài hôm, Kiev thông báo sửa xong đường ống dẫn dầu Druzhba đi qua Ukraine cung ứng dầu lửa của Nga cho Hung Gia Lợi.
Trong số 90 tỉ Euro đó, có 60 tỉ để Ukraine tăng cường phòng thủ, nhất là phòng không. 30 tỉ còn lại là để bảo đảm sự vận hành của bộ máy chính phủ Ukraine. Khoản vay 90 tỉ Euro được phân bổ trong 2 năm tới đây, và sẽ được hoàn trả khi Ukraine được Nga bồi thường chiến tranh. Kiev hy vọng từ nay đến cuối tháng 05 đầu tháng 06 sẽ nhận được khoản giải ngân đầu tiên của Liên Hiệp Âu Châu.
Bên cạnh đó, theo thông tấn xã AFP, tại cuộc họp ở Chypre, nguyên thủ Zelensky của Ukraine một lần nữa lại gây áp lực với Liên Hiệp Âu Châu, khi nói rằng Ukraine xứng đáng được "gia nhập hoàn toàn" Liên Hiệp Âu Châu, chứ không chỉ là được hưởng những "lợi thế chỉ mang tính biểu tượng".
Tuy nhiên, đây là một vấn đề nhạy cảm trong nội bộ 27 nước thành viên Liên Hiệp Âu Châu, và hiện nay nhiều nhà lãnh đạo vẫn giữ thái độ thận trọng. Thủ tướng Lục Xâm Bảo, ông Luc Frieden cảnh báo: "Ukraine đúng là một phần của gia đình Âu Châu, nhưng trên con đường gia nhập, mỗi quốc gia phải đáp ứng một số điều kiện nhất định. Không có đường tắt". Thủ tướng Bỉ, ông Bart De Wever cũng nhấn mạnh: "Không có thủ tục rút gọn", đồng thời kêu gọi một "cách tiếp cận dựa trên thành tích" trong các cải cách và cuộc chiến chống tham nhũng.
Trong khi đó, Chủ tịch Hội Đồng Âu Châu, ông Antonio Costa tỏ ra cởi mở hơn. Ông cho rằng cần "chuẩn bị bước tiếp theo", tức là "chính thức mở các vòng đàm phán đầu tiên" về việc cho Ukraine gia nhập Liên Hiệp Âu Châu.
Ukraine: 40 Năm Sau Thảm Họa Tchernobyl, Nỗi Lo Phóng Xạ Vẫn Hiện Hữu, Nhất Là Do Bom Đạn, Drone Nga
(Hình AP: Nhà máy điện nguyên tử Chernobyl ở Ukraine, nơi xảy ra thảm họa nguyên tử kinh hoàng nhất thế giới. Ảnh chụp vài hôm sau vụ nổ ngày 26/4/1986.)
-Ngày 26/4/2026 Ukraine tưởng niệm 40 năm thảm họa nhà máy điện nguyên tử Tchernobyl. Vụ nổ lò phản ứng số 4 của nhà máy điện nguyên tử Tchernobyl đã gây ra một thảm họa cho cả môi trường và con người, khiến hàng chục ngàn cư dân địa phương phải di tản khỏi khu vực trong những ngày sau vụ nổ, trong số đó có các công nhân của nhà máy.
Thông tín viên Emmanuelle Chaze của Đài Phát Thanh Quốc Tế Pháp (RFI) tại Kiev đã tìm gặp và được một số người chia sẻ ký ức về vụ nổ và kể lại những hậu quả của thảm họa nguyên tử đối với bản thân họ và gia đình:
"Tại Troieshchyna, một khu dân cư ở phía Đông-Bắc thủ đô Kiev, có những cây anh đào đang nở hoa và các dãy chung cư 20 tầng giống hệt nhau. Sau thảm họa nguyên tử Tchernobyl, những người tham gia khắc phục hậu quả của vụ nổ và gia đình của họ đã được di tản đến những tòa nhà này.
Ông Volodymyr Vassilievitch là một trong những cảnh sát giao thông tham gia di tản dân thường vào thời điểm đó. Ông kể lại những ngày đầu sau thảm họa: "Chúng tôi lên một chiếc xe bọc thép. Buồng lái được phủ chì để chặn bức xạ, rồi chúng tôi đi đến bệnh viện".
Từ tháng 04/1986 đến năm 1988, ông Volodymyr Vassilievitch đã tham gia vài chục cuộc di tản. Ngày nay, ước tính có khoảng 300.000 người đã được di tản khỏi khu vực. Vào thời đó, tầm mức, quy mô thảm họa, cũng như những hậu quả đối với con người và môi trường vẫn chưa được biết đến nhiều, ngay cả đối với những người làm công việc di tản và các viên chức phụ trách chiến dịch di tản.
Bản thân ông Volodymyr Vassilievitch đã bị nhiễm phóng xạ trong nhiều những lần thực hiện nhiệm vụ và được chẩn đoán nhiễm xã vào mùa thu năm 1986. Sau đợt điều trị đầu tiên tại bệnh viện, ông lại tiếp tục tham gia di tản, sau đó ông tai biến tim mạch. Ông kể tiếp: "Năm 1987, một cơn đột quỵ khiến toàn bộ bên trái cơ thể tôi bị liệt. Tôi không thể nói được. Khuôn mặt và lưỡi của tôi bị biến dạng như của một xác chết. Khi đó tôi mới 46 tuổi, và bây giờ thì tôi đã 86".
Dưới chân tòa nhà mà ông Vassilievitch sinh sống, bà Lioubov, 55 tuổi, đang trò chuyện với các hàng xóm. Khi còn nhỏ, bà từng nghỉ hè ở nơi mà nay đã trở thành vùng cấm. Người phụ nữ này chia sẻ: "Chú của tôi là một người tham gia khắc phục hậu quả của vụ nổ, khi đó ông đang làm việc tại nhà máy điện Tchernobyl. Trước khi cảy ra vụ nổ, nơi đó đẹp giống như trong truyện cổ tích vậy. Quý vị biết không, ở đó có một con sông rất đẹp, có rừng và các hồ nước. Hàng năm, mỗi khi chúng tôi quay lại, mọi thứ vẫn còn đó, nguyên vẹn, như thể chỉ mới hôm qua".
Bà Lioubov cũng tìm cách đến xem lớp vỏ bọc mới đang bảo vệ thế giới khỏi phóng xạ phát tán từ lò phản ứng số 4, nhưng công chúng không được tiếp cận khu vực xung quanh nhà máy. Bà nói tiếp: "Có lẽ cần giấy phép đặc biệt. Dường như năm nay không ai được phép vào vùng này".
Vùng cấm hiện cũng đã trở thành một chiến trường. Vào tháng 02-03/2022, nơi đây đã bị quân đội Nga chiếm đóng. Tuy vậy, ký ức về thảm họa Tchernobyl cần phải là lời cảnh tỉnh để ngăn chặn bất kỳ biến cố nguyên tử nghiêm trọng nào trong tương lai, bởi hậu quả của nó có thể sẽ lan rộng vượt xa biên giới Ukraine".
Vụ nổ nhà máy điện Tchernobyl cho đến nay vẫn là thảm họa nguyên tử dân sự lớn nhất trong lịch sử nhân loại. 40 năm sau vụ nổ, tình hình vẫn gây lo ngại, nhất là do cuộc chiến xâm lược của Nga, nguy cơ bom đạn nhắm trúng nhà máy không phải là ít. Hôm 14/4, Greenpeace cảnh báo sự sụp đổ không thể kiểm soát của mái vòm bảo vệ bên trong nhà máy có thể làm tăng nguy cơ phát tán phóng xạ. Mái vòm này có từ năm 1986. Đến năm 2016, nhà máy có thêm một lớp vỏ bảo vệ bên ngoài hiện đại hơn. Vào tháng 02/2025, cấu trúc bảo vệ lớp ngoài này đã bị một drone của Nga xuyên thủng. Cho dù cấu trúc bảo vệ lớp ngoài đã được sửa chữa, nhưng khả năng ngăn chặn phóng xạ vẫn chưa được "khôi phục hoàn toàn", làm tăng nguy cơ phát tán phóng xạ, đặc biệt là trong trường hợp lớp bảo vệ bên trong sụp đổ.
Ukraine Tưởng Niệm 40 Năm Thảm Họa Tchernobyl Trong Bối Cảnh Chiến Tranh
-Người dân tại đài tưởng niệm các lính cứu hỏa và công nhân thiệt mạng sau thảm họa nguyên tử Tchernobyl năm 1986 tại Slavutych, Ukraine, ngày 25/4/2026. (Hình AP - Dan Bashakov
Ngày 26/4/2026, Ukraine tưởng niệm tròn 40 năm thảm họa nguyên tử Tchernobyl trong bối cảnh cuộc chiến đang diễn ra làm dấy lên nỗi lo ngại lịch sử sẽ lặp lại. Một cuộc tấn công bằng drone của Nga năm 2025 đã làm hỏng mái vòm được dựng năm 2016 để bảo vệ mái vòm cũ có từ năm 1986 bao phủ nhà máy bị tai nạn nhằm ngăn phóng xạ.
Theo thông tấn xã Reuters, ngày 26/4/1986, lò phản ứng số 4 tại nhà máy, khi đó thuộc Liên Xô, nằm ở phía bắc Kiev khoảng 100 cây số, đã phát nổ và bốc cháy sau khi cuộc thử nghiệm bảo trì bị mắc lỗi hàng loạt. Ba mươi mốt người thiệt mạng trong thảm họa, nhưng sau đó, rất nhiều người đã chết vì các bệnh do phơi nhiễm phóng xạ gây ra. Hàng chục ngàn người đã được di tản vĩnh viễn khỏi Pripyat, thành phố gần nhà máy điện nhất và có khoảng 50.000 người vào thời điểm đó. Hàng ngàn tấn cát, đất sét và chì được thả từ trực thăng để dập tắt đám cháy và hạn chế sự phát tán của vật liệu phóng xạ cao. Vụ nổ đã khiến một đám mây phóng xạ lan rộng một phần lớn Âu Châu.
Trả lời RFI, ông Jean de Gliniasty, giám đốc nghiên cứu tại Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp - IRIS, nguyên đại sứ Pháp tại Nga, cho rằng thảm họa này đã góp phần vào sự sụp đổ của Liên Xô:
"Sự thiếu chuẩn bị của các kỹ thuật viên, những sai sót trong thiết kế nhà máy, sự thiếu kỷ luật nói chung - vì chúng ta biết rằng các kỹ thuật viên, nói một cách tế nhị, đã hơi say xỉn, và nhiều sai lầm đã bị mắc phải trong việc giải quyết biến cố. Tiếp theo phải nói đến sự tàn bạo của chế độ, đã hy sinh hàng chục người để dập tắt đám cháy. Tất cả những điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến Gorbachev, Tổng Bí thư đảng Cộng sản Nga, và không thể phủ nhận, nó đã thúc đẩy ông hướng tới những cải cách hệ thống Xô Viết mà ông là hiện thân, và những cải cách này cuối cùng đã dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô".
Nhà máy điện hiện nằm trong vùng cấm rộng 2.600 cây số vuông. Năm 2025, Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) đã tuyên bố vòm bảo vệ lò phản ứng bị hư hại của nhà máy điện Tchernobyl không còn khả năng thực hiện chức năng bảo vệ. Hiện tại chưa phát hiện rò rỉ nào, nhưng theo Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Âu Châu, cần ít nhất 500 triệu Euro để sửa chữa nhằm ngăn ngừa thiệt hại vĩnh viễn.
Trong một thông cáo được công bố tuần này, Bộ Ngoại giao Ukraine lên án thảm họa Tchernobyl là do "vi phạm các quy trình an toàn, tiếp theo là những lời nói dối và che đậy". Ngày 26/4, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky cho rằng "thế giới không được phép để chủ nghĩa khủng bố nguyên tử này tiếp diễn, và cách tốt nhất để chấm dứt nó là buộc Nga phải ngừng các cuộc tấn công vô trách nhiệm của mình". Liên Hiệp Âu Châu cũng kêu gọi Mạc Tư Khoa ngừng các cuộc oanh kích vào các nhà máy điện nguyên tử ở Ukraine. Các vụ oanh kích mới nhất của Nga nhắm vào Dnipro và nhiều khu vực khác của Ukraine, khiến 10 người thiệt mạng, đúng ngày tưởng niệm 40 năm thảm họa nguyên tử Tchernobyl.
TIN VẮN - TIN TỔNG HỢP
(AFP/RFI) – Trung Quốc trừng phạt các công ty bán vũ khí cho Đài Loan. Hôm 24/4/2026, Bộ Thương mại Trung Quốc thông báo áp đặt các hạn chế đối với 7 công ty và thực thể Âu Châu hoạt động trong lĩnh vực vũ khí và quốc phòng, bị cáo buộc bán vũ khí hoặc "thông đồng" với Đài Loan. Cụ thể, các nhà xuất cảng Trung Quốc bị cấm cung cấp cho các công ty và thực thể nói trên những mặt hàng có thể được sử dụng vào mục đích dân sự lẫn quân sự.
(Reuters/RFI) – Chủ tịch ASEAN kêu gọi Miến Điện trả tự do cho thêm nhiều tù nhân, trong đó có Aung San Suu Kyi. Phi Luật Tân, nước hiện giữ chức Chủ tịch luân phiên Hiệp hội các Quốc gia Ðông Nam Á (ASEAN), đánh giá Lệnh Ân xá gần đây là một bước tích cực hướng tới đối thoại quốc gia toàn diện. Trong thông cáo ngày 24/4/2026, nước Chủ tịch luân phiên ASEAN "tái khẳng định cam kết hỗ trợ Miến Điện, với tư cách là một phần không thể thiếu của ASEAN, để đạt được giải pháp hòa bình và bền vững cho cuộc khủng hoảng chính trị ở nước này". Trước đó, theo lời Ngoại trưởng Thái Lan, tân Tổng thống Miến Điện Min Aung Hlaing cho biết đang xem xét "những điều tốt đẹp" cho bà Aung San Suu Kyi, đang thụ án 27 năm tù sau khi bị kết tội nhiều tội danh.
(Yonhap/RFI) – Nam Hàn và Gia Nã Ðại lần đầu tập trận chung. Ngày 24/4/2026, Bộ binh Nam Hàn thông báo sự kiện diễn ra 11 ngày, từ ngày 27/4 đến ngày 7/5 tại Trung tâm Huấn luyện Chiến đấu Nam Hàn (KCTC), huy động nhiều kỹ thuật tiên tiến. Gia Nã Ðại cử 44 binh sĩ thuộc Trung đoàn Bộ binh nhẹ Princess Patricia, phía Nam Hàn là binh sĩ thuộc Sư đoàn Bộ binh số 7. Hám Thành nhấn mạnh hoạt động này là nhằm tăng cường quan hệ quân sự giữa hai nước.
(Yonhap/RFI) – Nam Hàn: Cựu Tổng thống Yoon bị đề nghị án 30 năm tù vì điều drone bay qua Bình Nhưỡng. Ngày 24/4/2026, nhóm điều tra đặc biệt cho rằng ông phạm tội tiếp tay cho kẻ thù, khi ra lệnh khai triển drone quân sự trên không phận Bình Nhưỡng vào tháng 10/2024. Mục đích là để khiêu khích Bắc Hàn trả đũa để lấy cớ áp đặt Thiết Quân luật. Cho dù Bình Nhưỡng không trả đáp trả, cựu Tổng thống Yoon được cho là vẫn quyết định tuyên bố Thiết Quân luật, dẫn đến các sự kiện tháng 12/2024. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Kim Yong Hyun cũng bị đề nghị án 25 năm tù với cùng tội danh "chống chính phủ và nhân dân".
(AFP/RFI) – "Ukraine gia nhập Liên Hiệp Âu Châu ngay lập tức là không khả thi". Đây là phát biểu của Thủ tướng Đức Friedrich Merz sau cuộc họp thượng đỉnh của Liên Hiệp Âu Châu (EU) ngày 24/4/2026 tại Cộng hòa Cyprus, nước đang giữ chức Chủ tịch luân phiên. Tuy nhiên, ông ủng hộ việc Kiev dần dần xích lại gần hơn với các định chế Âu Châu, đặc biệt là thông qua việc tham gia các cuộc họp của Hội Đồng Âu Châu nhưng không có quyền bỏ phiếu. Ukraine tăng cường nỗ lực gia nhập Liên Hiệp Âu Châu, nhưng thường vấp phải sự phản đối của Thủ tướng Hung Gia Lợi, Viktor Orbán. Thất bại của đảng của ông Orbán tại kỳ bầu cử Quốc hội Hung Gia Lợi đã làm sống lại hy vọng của Kiev về giai đoạn tiếp theo.
(AFP/RFI) – Ba Lan: Giáo hội cho nướng thịt ngày 1/5 ở Warsaw. Theo truyền thống, thứ Sáu là ngày ăn cá trong các gia đình Công giáo mộ đạo ở Ba Lan, nhưng hôm 24/4/2026, Tổng Giám mục Warsaw thông báo dỡ bỏ lệnh cấm nướng thịt vào thứ Sáu 1/5, ngày bắt đầu kỳ nghỉ cuối tuần dài để sum họp gia đình. Các giáo phận khác đã chủ động và quyết định miễn cho giáo dân kiêng ăn thịt vào ngày đó. Giáo luật cho phép một Giám mục "miễn cho các tín hữu tuân thủ các luật lệ kỷ luật chung và riêng do thẩm quyền tối cao của Giáo hội ban hành" nếu xét thấy điều đó "có lợi cho đời sống tâm linh của họ".
(AFP/RFI) – Zelensky thăm Azerbaijan. Hôm 24/4/2026, Tổng thống Ukraine, ông Volodymyr Zelensky đã đến Azerbaijan để hội đàm về an ninh và năng lượng, theo lời một viên chức cấp cao của chính quyền Kiev. Chuyến đi này diễn ra sau chuyến thăm Ả Rập Saudi, nơi Tổng thống Ukraine đã gặp Thái tử Mohammed bin Salman. Đều là hai nước Cộng hòa thuộc Liên Xô cũ, Ukraine và Azerbaijan có quan hệ tốt đẹp, với việc quốc gia vùng Kavkaz bày tỏ sự ủng hộ đối với toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine và gửi viện trợ nhân đạo cho Kiev sau khi Nga bắt đầu cuộc xâm lược quy mô lớn vào tháng 2 năm 2022.
(AFP/RFI) – Úc Ðại Lợi "sẽ không hồi hương" công dân bị tình nghi liên quan đến tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS). Thông tin được phát ngôn viên chính phủ Úc Ðại Lợi xác nhận trong thông cáo gửi đến thông tấn xã AFP ngày 25/4/2026. Trước đó, đài truyền hình Quốc gia Úc Ðại Lợi ABC đưa tin 4 phụ nữ Úc Ðại Lợi cùng với 9 người con, cháu đã rời trại Roj, Đông-Bắc Syria, ngày 24/4. Lực lượng Syria đưa họ đến Damascus để giúp họ trở về Úc Ðại Lợi bằng máy bay. Thông cáo cũng nhấn mạnh "những người trong nhóm này cần biết rằng nếu họ phạm tội và trở về Úc Ðại Lợi, họ sẽ bị truy tố theo pháp luật một cách nghiêm khắc nhất".
(AFP/RFI) – Venezuela và Colombia hợp tác quân sự, chống mafia và các băng đảng tội phạm. Tổng thống Colombia, ông Gustavo Petro đã được Quyền Tổng thống Venezuela, bà Delcy Rodriguez tiếp đón tại thủ đô Caracas ngày 24/4/2026. Ông Petro là nguyên thủ quốc gia đầu tiên thăm Venezuela kể từ khi quân đội Hoa Kỳ bắt giữ Nicolas Maduro ngày 3/1. Hai nước có chung hơn 2.000 cây số biên giới "sẽ phối hợp chặt chẽ để giải phóng người dân vùng biên giới khỏi các băng đảng tham gia vào nhiều hoạt động kinh tế bất hợp pháp, bắt đầu từ cocain, vàng lậu và buôn người".
(AFP/RFI) – Lần đầu tiên từ khi chiến tranh bắt đầu, người dân Palestine đi bầu cử. Ngày 25/4/2026, khoảng 1,5 triệu cử tri ghi danh tại Cisjordan và khoảng 700.000 cử tri ở khu vực Deir el-Balah, miền Trung Dải Gaza, đi bầu Thị trưởng và Dân biểu địa phương. Hầu hết các danh sách ứng cử viên đều liên kết với Fatah, đảng Dân tộc Chủ nghĩa và Thế tục của Tổng thống Palestine 90 tuổi Mahmoud Abbas, hoặc không liên kết với đảng nào. Hamas không có ứng cử viên nào. Lực lượng Hamas, đối thủ của Fatah, kiểm soát gần một nửa Dải Gaza và đã tấn công Do Thái ngày 7/10/2023, châm ngòi cho cuộc chiến ở Dải Gaza.
(AFP/RFI) – Lãnh đạo TotalEnergies kêu gọi đầu tư vào các ống dẫn dầu mới. Hôm 24/4/2026, Chủ tịch-Tổng Giám đốc tập đoàn dầu khí Pháp TotalEnergies, ông Patrick Pouyanné đề nghị là trước việc phong tỏa eo biển Hormuz, nên đầu tư vào các đường ống dẫn dầu mới để giảm sự phụ thuộc vào tuyến hàng hải chiến lược này. Theo ông Pouyanné, giải quyết vấn đề eo biển Hormuz là "rất quan trọng". Ông cho biết TotalEnergies đã "mất 15% sản lượng ở Trung Đông" do cuộc chiến này.
(AFP/RFI) – WHO cấp phép cho thuốc điều trị sốt rét cho trẻ sơ sinh. Hôm 24/4/2026, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thông báo lần đầu tiên cấp phép cho một loại thuốc điều trị sốt rét dành cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, mang lại hy vọng cho 30 triệu trẻ em sinh ra mỗi năm tại các khu vực mà bệnh sốt rét hoành hành ở Phi Châu. Chứng nhận này cho phép các cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc, như Liên minh Vắc-xin (Gavi) và UNICEF, mua thuốc này để phân phối tại các quốc gia có nguồn lực hạn chế. Loại thuốc điều trị mới được cấp chứng nhận là công thức thuốc chống sốt rét đầu tiên được thiết kế đặc biệt cho bệnh nhân nhỏ tuổi mắc bệnh sốt rét. Cho đến nay, trẻ sơ sinh được điều trị bằng các công thức dành cho trẻ lớn hơn, làm tăng nguy cơ về sai liều lượng, tác dụng phụ và độc tính.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét