<!>
Ngày xưa các cụ cũng thường ví von, ẩn dụ để tránh sự đụng chạm với triều đình, quan phủ… Ngày nay được thịnh hành hơn từ chính trị đến vài lãnh vực khác.
* Cà kê
Về ý nghĩa thì “cà” có hai cách giải thích:
1.- “Cà” có thể là cách gọi cổ của con gà (gà), còn “kê” chính là gà (từ Hán-Việt)… The cụ “nói chuyện dông dài”. Vấn đề đặt ra con cà, con kê là gì? Cà là nói tắt có phải cà cưỡng, cà cuống, cà dúi, cà tng…?
2.- Tác giả Hàng Văn Hành trong “Kể Chuyện Thành Ngữ Tục Ngữ” cho rằng “cà” và “kê” ở đây là cây cà và cây kê.
Ngày xưa người nông dân đến mùa trồng cà, kê, thường nhổ cây non rồi bó thành từng bó để đem ra ruộng trồng lại. Đây là việc đòi hỏi sự tỉ mỉ nên tốn thời gian, làm mãi không xong. Từ đó tạ ra thành ngữ “cà kê” mới được dùng để chỉ việc dai dẳng, hài không dứt.
Trong ca da cũng có câu:
“Hết kê rồi lại đến cà
Nhổ lên, trồng lại mãi mà không xong”
Đại Nam Quốc Âm Tự Vị (1885) do cụ Huỳnh Tịnh Của chủ biên cũng định nghĩa: “con thuốc: cây thuốc mới ương, mới mọc”. Như vậy, cách gọi “con cà, con kê” để chỉ cây cà, cây kê là có lý.
Lãng Nhân Phùng Tất Đắc là học giả, nhà nghiên cứu, thông thạo nhiều thứ tiếng. Khi còn trẻ đóng góp văn học, thời kỳ ngài Bắc từ tờ Đông Tây ban đầu chỉ có hai người viết là Hoàng Tích Chu và cụ. Sau nầy quy tụ nhiều cây bút nổi tiếng Phan Khôi, Trần Tuấn Khải, Vi Huyền Đắc, Thiết Can, Hàng Ngọc Phách...
Ngoài ra, cụ từng đóng góp bài vở ch các báo như Cri de Hanoi, Fléchettes, Nhựt Tân, Duy Tân, Hải Phòng tuần báo, Ích Hữu…
Năm 1954, cụ đưa gia đình di cư và Sài Gòn được người bạn nhờ trông coi nhà in Taupin do Pháp để lại; cơ sở này là hậu thân của nhà in lớn IFM (Imprimerie Française d'Outremer) thời Pháp thuộc để trở thành Kim Lai ấn quán.
Sau các tác phẩm Trước Đèn (1939), Chuyện Vô Lý (1942), Chơi Chữ (1960), Cá Tồn (1963), Giai Thại Làng Nho (1963), Hán Văn Tinh Túy (1965), trong quyển Chuyện Cà Kê của nhà nghiên cứu Lãng Nhân Phùng Tắc Đắc, gồm 28 bài phiếm, sách dày 274 trang do Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn xuất bản năm 1968. Sách nổi tiếng với văn phong dí dỏm, sâu sắc, chân thực xã hội qua những câu chuyện nhỏ nhưng ý nghĩa, thâm thúy. Phản ảnh đời sống xã hôi, văn hóa, thói hư tật xấu, nét đẹp trong xã hội Việt Nam, mang tính châm biếm nhẹ nhàng.
Khi đặt tên sách Chuyện Cà Kê, cụ Lãng Nhân giải thích khi đặt câu hỏi “Chuyện gì là chuyện cà kê?”. Cụ không giải thích “cà kê” mà nói:
- Rõ khé, chuyện con cà con kê mà còn phải hỏi!
- Kê là gà đành rồi. Thế cà là con gì? Hay là gà kê, nói chạnh ra cà kê cho xuôi tai?
- Ồ, thế thì khi người ta nói cà kê dê ngỗng, gà là kê, không lẽ dê lại là ngỗng?
Và cụ nói tiếp:
- Thì ta cứ cho chuyện cà kê là chuyện “dây cà ra dây muống”, “ông nói gà bà nói vịt”, “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, cũng là được đi. Chúng ta ngồi đây, có thiếu gì chuyện, chuyện mưa nắng, chuyện nhạt chuyện nồng, “chuyện bà còng đi chợ trời mưa, cái tôm cái tép đi đưa bà còng”, chuyện “muốn cho chợ họp đến chiều, cho lắm kẻ bán cho nhiều người mua”, tóm lại là “nói bỡn nói cợt mà chơi”, chứ “áo ai nấy mặc có mùi gì đâu”…
Thế nào là cà kê?
Hỏi như thế vì lâu nay ta thường nghe nói đến “chuyện nổ như pháo ran”, “chuyện nổ như bắp rang”, “chuyện nọ xọ chuyện kia”, “chuyện hươu chuyện vượn”, “chuyện trên trời dưới đất”… Thậm chí ở Quảng Nam còn có câu “chuyện ông huyện để dái” là ngụ ý câu chuyện mà họ đang nói đến, bàn đến chỉ tàm xàm, bá láp, nói dông dài mất thời gian, chẳng đâu và đâu.
Chuyện ở đây là hiểu theo nghĩa từ hai đến vài người cùng trò chuyện, nói chuyện với nhau lúc “trà dư tửu hậu”, họ nói chuyện gẫu, nói cách khác chính là lúc rảnh rỗi cùng “buôn dưa lê”. Ủa, sao lại “buôn lê”? Chẳng có trái lê, trái lựu gì đây sất, đơn giản là người ta tách “lê” từ câu quen thuộc “ngồi lê đôi mách” để tạo ra hai chữ mới mang sắc thái bông phèng, tếu táo khiến nội dung không còn “nghiêm trọng” như vốn có.
Với người dân miền Nam, nhất là Sài Gòn với “bỏ đi tám” là cách nói “tám” có thể hiểu là “tám chuyện” (nói nhiều) dần dà trở nên thành ngữ “bỏ qua đi tám” (thôi đi), “bỏ đi mà sống” (phớt đời). Và thường ví von nam/nữ nói chuyện không đâu vào đâu với chữ “tám”… thay vì “cà kê dê ngỗng”.
Năm 2021, bài viết của Hoàng Tuấn Công trên tuần báo Saigon Nhỏ “Con cà, con kê” là con gì?.
Trích:
“Con cà con kê” là thành ngữ thông dụng, nghĩa bóng hầu như ai cũng hiểu. Tuy nhiên, đúng như nhận xét của một độc giả: “nghĩa đen của “con cà con kê” mới là thứ tốn hao giấy mực, lôi nhiều nhà ngôn ngữ học, xã hội học, dân tộc học, thậm chí cả côn trùng học vào cuộc, để phân tích hai con quái đó, trong hơn nửa thế kỷ, trải dài trên cả 3 miền đất nước. Mà tới nay vẫn chưa ngã ngũ, vì chưa có lời giải thỏa đáng.”…
Đều là con gà (nhóm một):
“Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” (GS Nguyễn Lân): “con cà con kê (Cà là do từ cổ có nghĩa là gà). Chê người nói dài dòng, hết chuyện này sang chuyện khác”.
“Từ điển tiếng Việt” (New Era): “cà kê 1. Kéo dài lằng nhằng mãi không hết. Chuyện cà kê (cũng nói chuyện con cà con kê). Kê: có nghĩa là gà. Trong từ ngữ trên, tiếng cà do tiếng gà đọc trại ra. 2. (ngb) Chuyện vặt vô tích sự, chuyện mà ai cũng biết, không cần nói tới, nói ra chỉ mất thời giờ vô ích. Chuyện cà kê vô bổ”.
“Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam trong hành chức” (GS.TS Đỗ Thị Kim Liên chủ biên): “con cà con kê (cà: do từ cổ ka có nghĩa là “gà”; kê: từ Hán có nghĩa là “gà”.
Nhà nghiên cứu Văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ: Con gà âm Hán là kê, tiếng Mường là kha, tiếng Nghệ Tĩnh là ga, cổ âm đồng hóa với ca, cà. “Con cà con kê” là nói đi nói lại cùng một chuyện, dài dòng, luẩn quẩn và trùng lặp, “hết con gà lại quay lại… con gà”
GS.TS Vũ Quang Côn, Hội Côn Trùng Học Việt Nam lại nhìn nhận, gà là con vật hay lang thang bới móc tìm kiếm thức ăn, đường đi của chúng cũng lòng vòng. Con cà hay con kê đều là con gà sẽ phù hợp với cách nói lòng vòng, nhăng cuội, không có chủ đích, mất thời gian.
Cây cà và cây kê (nhóm hai):
Lê Gia, trong sách “1575 thành ngữ, tục ngữ cần bàn thêm” giải thích: Quả cà và bông kê là hai thứ “rất nhiều hột”, khi gieo ương thì mọc rất nhiều cây con và thường gọi là “con cà con kê”, để “chỉ sự sinh sản ra quá nhiều, thường dùng chỉ về sự nhiều việc, nhiều chuyện xảy ra”.
TS Phạm Văn Tình trong bài “Con cà con kê: có phải đều là gà?” đống ý quan điểm “cà” và “kê” chẳng liên quan gì tới “gà qué”, mà là cây cà và cây kê. Phân tích sau đây của ông gần như là một bản sao của bài “Con cà con kê” trong sách “Kể chuyện thành ngữ tục ngữ”:
“Trăm nghìn cây cà còn nhỏ mọc lên kín luống. Kê cũng gieo thành đám, mọc ken dày như mạ. Cây cà, cây kê đến độ trồng tỉa, người ta nhổ lên, bó thành từng bó nhỏ rồi đưa đi cấy giặm từng cây một. Một luống cây cà hay cây kê non có thể nhổ đem trồng trên một thửa ruộng khá lớn. Công việc trồng cà, trồng kê đòi hỏi phải tỉ mẩn, nhất là vào những ngày mưa, với việc tỉa ra từng cây, rề rà, chậm chạp (vì cây non mềm, dễ gãy và giập nát). Chính từ đó mà hình thành nên nghĩa đen của thành ngữ này là: mất nhiều thời gian, hết cây cà lại sang cây kê, kéo dài mãi như không dứt. Cách giải thích này xem ra thuyết phục hơn, vì nó có cơ sở thực tế (từ nhà nông ta) và phù hợp với ngữ nghĩa biểu trưng của thành ngữ “con cà con kê” như cách dùng phổ biến hiện nay trong dân gian…
“Tục ngữ lược giải” (Lê Văn Hoè): “Kể lể con cà con kê: Kể lể những việc lặt vặt nhỏ nhen như chuyện con cà và con kê. Con cà là cây cà con để làm giống. Con kê là cây con để làm giống. Nói cả chuyện con cà, con kê thì còn chuyện gì là chuyện không nói nữa”.
Xuất xứ từ Pháp: Caquet (từ tượng thanh đọc là ca kê) chỉ tiếng gà cục tác, nghĩa bóng là ba hoa. “Caqueter (động từ) nghĩa là nói không ngừng, nói dông dài, nói chuyện tầm phơ khiến người nghe phải khó chịu”. Ta đã “nhập cảng” caquet của Pháp, rồi Việt hóa thành “cà kê”…
TS Phạm Văn Tình và Nhóm Hoàng Văn Hành đã hoàn toàn đúng khi viết: “Nhiều người cho rằng “con cà con kê” là một thành ngữ có sự kết hợp của hai từ cùng ý nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Hán, đó là “cà” (trong tiếng Việt cổ “ca” nghĩa là “gà”) và “kê” (tiếng Hán có nghĩa là “gà”). Song nếu vậy thì nghĩa đen của thành ngữ này hiểu một cách nôm na là: dài dòng luẩn quẩn, trùng lặp, “hết con gà lai quay lại con gà”? Mà như thế thì nghĩa đen này không phù hợp với nghĩa biểu trưng của thành ngữ theo cách dùng phổ biến hiện nay”.
Vậy, “con cà con kê” được hiểu nghĩa đen thế nào?. “Con cà con kê” (dị bản “cà kê dê ngỗng”) là chuyện lan man, dông dài, hết chuyện này sang chuyện khác, không theo chủ đề nào, giống như từ chuyện “cây cà” chuyển sang chuyện “cây kê”; từ “dê” lại sang chuyện “ngỗng”, dù “cà” với “kê”, “dê” với “ngỗng” là những giống loài hoàn toàn khác nhau, vốn chẳng dính dáng, liên quan gì đến nhau…
Như vậy, con cà, con kê; hay con dê, con ngỗng ở đây đều là những sự vật quen thuộc, nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày, không có gì lạ, hay đặc sắc; chẳng khác nào những câu chuyện vãn, chuyện phiếm, chuyện vặt, cốt giết thời giờ rảnh rỗi. Vì là chuyện gẫu (gặp đâu nói đó) nên đặc điểm của “con cà con kê” là chuyện không đầu không cuối, từ chủ đề này chuyển sang chủ đề khác lúc nào không hay. Mặt khác, chính bối cảnh nhàn rỗi, chẳng có gì thúc bách về thời gian đã tạo nên tính chất rề rà của chuyện “con cà con kê”, chứ không phải việc trồng cà, trồng kê tỉ mẩn, rề rà, chậm chạp, lâu xong, nên mới thành nghĩa đen…” (ngưng trích)
Chuyện Cà Kê của tác giả Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, sách được nhà xuất bản Nam Chi Tùng Thư ấn hành đầu năm 1968. Tuyển tập gồm 28 bài phiếm luận, giai thoại hài hước, sách dày 274 trang.
Gọi là “chuyện cà kê”, lối hành văn hóm hỉnh, phản ảnh đời sống bình dân, văn hóa làng xã, thói hư tật xấu và nét đẹp trong xã hội Việt Nam, thường mang tính châm biếm nhẹ nhàng.
* Dê, ngỗng
Dê và ngỗng có lẽ chẳng liên quan gì với nhau?
Con ngan có tên khoa học là Cairina moschata, là loại gia cầm thường được gọi là vịt xiêm. Vịt và vịt xiêm là khác nhau. Vịt xiêm là cách gọi của người miền Nam về con ngan. Vịt thích nghi sống ở dưới nước, ngan có thể bơi dưới nước nhưng thích nghi nuôi trên cạn tương tự gà.
Ngan không phải là ngỗng. Con ngỗng là loại gia cầm thuộc họ Vịt (Anatidae). Ngỗng có nhiều giống khác nhau như ngỗng trời, ngỗng xám, ngỗng sư tử, các đặc điểm như cổ dài (nhưng không dài bằng thiên nga), thân to, ăn cỏ và các loại rau, cám.
Thiên nga (swan) là loại chim nước lớn cũng thuộc họ Vịt (Anatidae). Thiên nga và ngỗng tuy gần gũi, nhưng lại thuộc những chi khác nhau. Một số loài thiên nga phổ biến là thiên nga trắng (cygnus olor), thiên nga đen (cygnus atratus) và thiên nga cổ đen (cygnus melancoryphus)…
Thiên nga nổi tiếng qua vở ballet Hồ Thiên Nga của nhạc sĩ tài danh Tchaikovsky, sáng tác khoảng năm 1875. Kịch bản năm 1895 của Modest Tchaikovsky, Marius Petipa và Lev Ivanov.
Hình ảnh đêm trăng sáng, hồ thiên nga hiện ra giữa đống tàn tích đổ nát của một ngôi nhà nguyện xưa. Nhiều người đặt tên cho gái là Thiên Nga (không có Gà, Vịt, Ngan, Ngỗng… Chị tôi gọi các cháu nội khi sinh ra là gà, vịt để gọi trong nhà nhưng gắn liền với tên tuổi. Tôi cũng nhầm lẫm tên các cháu).
Vì vậy khi gọi cà, kê thì phải đi cùng với ngan, ngỗng, những con tương cận mới hợp lý nhưng có lẽ vần “ê”, dê ngỗng cho có vần, có điệu (?)
*
Trong cuốn Văn Học Miền Nam, nhà văn Võ Phiến nhận xét: “Thời kỳ 1954-1975, các nhà văn gốc Nam khi nói đến chiến tranh trên đất nước thường chỉ nói về cuộc chiến chống Pháp mà tránh cuộc chiến chống cộng. Viết truyện như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam đều thế. Đến lượt Lê Xuyên, ông cũng thế. Mặt khác, các vị gốc Bắc thì chuyên về cuộc sống và con người đô thị, còn các vị gốc Nam thường viết về nông dân, nông thôn. Lê Xuyên cũng thế. Chuyện ấy dễ hiểu. Người Nam chưa biết qua chế độ cộng sản thì không mặn nồng với việc chống cộng; người Bắc di cư, bao nhiêu văn nhân, nghệ sĩ trí thức vào Nam đều sống ở đô thị nên chỉ biết viết về đô thị.
Người đọc văn Lê Xuyên có thể là giới bình dân, lao động, thợ thuyền, nông dân nhưng bên cạnh đó cũng phải kể đến giới trí thức miền Nam, kể cả những người Bắc “di cư” vào Nam năm 1954…”.
Trong các tác phẩm văn học Miền Nam thường có những đoạn văn hay đối thoại lan man, dông dài, mang tính “cà kê dê ngỗng”. Tiêu biểu như nhà văn Lê Xuyên, viết tiểu thuyết theo kiểu ngồi nghe người kể chuyện, nói chậm, nhớ đâu kể đó, không lan man để khoe chữ, mà lan man vì đời sống thường nhật trong cuộc sống. Những mẩu đối thoại của ông “dài dòng văn tự” hỏi, đáp… chuyện nầy chuyện kia với văn phong miêu tả chi tiết quá mức, gây cảm giác lê thê, chậm chạp.
Theo nhận xét của Nguyễn Mạnh Trinh “Viết feuilleton cho báo hàng ngày thời đó không phải dễ dàng mà còn là một nghệ thuật. Trường thiên tiểu thuyết của ông dường như tranh đua một cách gián tiếp với truyện kiếm hiệp Kim Dung lúc đó đang ở tuyệt đỉnh chú ý của mọi người, ở đâu cũng nói chuyện Cô gái Ðồ Long, Anh Hùng Xạ Ðiêu thì những trường thiên tiểu thuyết như “Chú Tư Cầu” như “Ðêm Không Cùng” phải có một hấp lực rất lớn.
Số lượng độc giả hàng ngày của các nhật báo là mức đo sự lôi cuốn của tờ báo mà những truyện nằm ở trang trong là một biểu hiện. Tiểu thuyết của Lê Xuyên có những đời sống chân chất ruộng đồng, những suy nghĩ giản dị của người bình dân, những ngôn ngữ của đời bình thường nhưng vào trong đối thoại truyện lại thành những lôi cuốn mở ra những cảm giác sẵn có cho những cuộc tình nóng bỏng đầy ắp dục tình. Ðối thoại của Lê Xuyên cứ nửa kín nửa hở, cứ vừa đố vừa giảng một cách “tửng tửng” nhưng tự nhiên gợi đến những cảm xúc của thịt da, của những giây phút nóng hổi của cuộc sống. Nhưng chẳng phải là ngôn ngữ của trụy lạc khiêu dâm. Mà còn có một điều gì ẩn khuất của con người, của nét nhân bản phảng phất.
Nhớ đến nhà văn Lê Xuyên, thì tự nhiên người đọc nhớ ngay đến tiểu thuyết Chú Tư Cầu nhưng thực ra vẫn còn những tiểu thuyết dài viết từng ngày đăng ở trang trong các nhật báo cũng lơi cuốn độc giả không kém như Nguyệt Đồng Xoài, Rặng Trâm Bầu, Vợ Thầy Hương, Kinh Cầu Muống… độc giả theo dõi diễn biến cốt truyện hàng ngày với phong cách vừa đố vừa giảng…”
Nhà văn Mai Thảo viết: “Tuy đăng từng ngày, mỗi ngày một tiểu đoạn nhưng cách viết và lối dựng truyện phải là những bí quyết sắc bén giam nhốt không rời thần trí và ham thích người đọc, đã bước chân qua cửa truyện là không thể trở lui, phải từng số từng ngày đợi chờ đọc tiếp. Người người viết truyện trữ tình đăng trên nhật báo bây giờ thảy đều mơ tưởng trở thành một Kim Dung kiếm hiệp. Một mở đầu đã dầy dặc những tình tiết bốc cháy từ những mê đắm thứ nhất. Chuyển đoạn vừa đố vừa giảng. Chuyện đang chân trời hiện tại thoắt đã chân trời tương lai. Đang những diễn biến bây giờ, bằng hồi tưởng, đột ngột kéo ngược hết về quá khứ. Bất ngờ cắt đứt một xáo trộn, đóng khung trong một cảnh trí này, ném bổng xáo trộn ấy vào một cảnh trí hồn tồn khác biệt. Đang thuật đang tả chuyển thành viết thư nghiêng sang nhật ký. Và thuật tả cũng luôn luôn phải đối thoại len vào. Trăm nghìn xảo thuật hâm nóng cảm giác làm ngỡ ngàng mọi tưởng trước, sai lạc mọi phán đoán ấy đã được chuyên chở bộn bề vào tiểu thuyết đăng báo chúng ta hiện nay, bằng con đường điện ảnh bằng vay mượn và phối hợp cách thức viết với cách thực hiện phim ảnh. Nói chung đó là kỹ thuật của loại phim truyện trinh thám, nghẹt thở, giật gân, bao giờ cũng tạo được tác dụng làm căng thẳng giác quanh ta…”
Với nhà báo Vũ Ánh: “Ngày Mồng Một tháng Giêng năm 1966, tôi bước vào làng báo viết trong khi vẫn tiếp tục làm công việc của một phóng viên báo nói (truyền thanh). Cả hai thứ tôi đều mê cả. Người đưa tôi vào làng báo viết là nhà văn Lê Xuyên tức “Chú Tư Cầu”. Chính ở ông tôi đã học được phương pháp hệ thống hóa kiến thức thời sự và xã hội cần thiết cho nghề báo viết nhất là cách thực hiện trang trong của một tờ nhật báo. Cho đến khi vào làm Tổng Thư Ký cho tờ Dân ý ông đã đưa tôi làm việc với ông với tư cách một phóng viên làm tin địa phương…
… Cái hấp dẫn nhất nơi Lê Xuyên là nhân cách, sự hòa nhã nhưng hết sức cương quyết của ông. Tôi đi tù về năm 1988 gặp lại ông và chứng kiến nhiều người bạn cũ đang cộng tác với báo chí chế độ mới đến rủ ông viết lại nhưng ông đã từ chối và tiếp tục thu tấm thân còm cõi với chiếc mũ “phở” sau quầy thuốc lá và bữa nào cũng đói cả…”.
Nguyễn Mạnh Trinh viết: “Sau năm 1975, vì là nhà văn vừa là nhà báo lại là một lãnh tụ của một đảng phái quốc gia (ông thuộc Ðại Việt Quốc Dân Ðảng của đảng trưởng Trương Tử Anh) nên ngay sau tháng 5/1975 bị Cộng sản nhốt vào đề lao Gia Ðịnh. Lê Xuyên là người tù ít nói nhất và thường quay mặt vào tường lặng thinh suy tư. Ra tù, Lê Xuyên cũng ngồi bán thuốc lá lẻ nhìn đời ở lề đường Ngô Quyền sống thiếu hụt và thường xuyên đói ăn thèm uống. Nhưng ông vẫn mặc kệ thiên hạ bon chen. Nhiều người đến gạ in lại sách hoặc viết để kiếm thêm tiền nhưng ông từ chối. Ông nói nhà văn Lê Xuyên đã chết rồi sau ngày 30 tháng Tư năm 1975”.
Chú Tư Cầu là một trong những tiểu thuyết tiêu biểu nhất của Lê Xuyên, nổi tiếng không phải vì cốt truyện gay cấn mà vì cách kể đời, kể người rất… lê thê mà thấm. Chú Tư Cầu, người đàn ông từng trải, vốn dốt nát, chỉ biết đọc năm ba chữ quốc ngữ, giang hồ nửa mùa giống một đời người được kể lại, chứ không phải “một câu chuyện”. Nhật báo Sài Gòn Mai đăng Chú Tư Cầu trong suốt hai năm liền, từ tháng 2/1961 đến tháng 2/1963.
Với nhật báo đã đăng suốt hai năm cũng hiểu dài lê thê rồi. Nội dung tóm lược về cuộc đời tình ái của một chàng nông dân - Chú Tư Cầu - ngây thơ, nhân hậu, có số đào hoa, không ve vãn gái mà gái vẫn chạy theo quyến rũ chàng rần rần. Trước hết là cô Phấn, bạn gái cùng quê, dám hiến thân cho chàng, rồi rủ chàng lên Sài Gòn để xây tổ uyên ương. Nhưng khi tới Cần Thơ, bị tên khách trú Lâm Sanh dụ dỗ, Phấn chịu làm vợ và dùng kế gạt chàng xuống tàu để trở về quê.
Tư Cầu đi lộn tàu lên Nam Vang. Dọc đường gặp đồng hành là chú Bảy. Chú ta cảm thương Tư Cầu nên khi tới Nam Vang giới thiệu chàng giúp việc cho tiệm cơm người chị ruột chú là cô Năm. Tại đây, Tư Cầu có nhiều dịp tiếp xúc với phường trộm cắp, phường dao búa, và được lòng cô Ba Xá Lỵ gái nặc nô xinh đẹp, uy trấn một góc xã hội du côn nho nhỏ trên đất này. Cô ta mê chàng vì tấm lòng nhân hậu và hào hiệp của chàng, tìm mọi cách để quyến rũ chàng. Rồi cả hai tằng tịu say mê nhau. Nhưng sau một thời gian sống hạnh phúc trên đất Chùa Tháp, vì nhớ quê, Tư Cầu xin trở về quê, rủ nàng theo, nhưng cô ta biết rằng chốn ruộng đồng không phải là chốn môi sinh thích thú của mình nên từ chối.
Tư Cầu về quê, được mẹ chàng cho chàng biết Phấn đã có chồng Lâm Sanh, có về quê vài lần và lần nào cũng đến thăm hỏi chàng. Cô ta giúp đỡ gia đình chàng trong cơn ngặt nghèo nên bà rất cảm kích cô ta lắm. Rồi cha mẹ chàng buộc chàng phải cưới cô Thơm làm vợ. Cô này vốn là gái Việt gốc Miên rất được chàng yêu thương quý trọng. Cuộc sống lứa đôi của chàng tạm bình yên hạnh phúc.
Nhưng vào lúc xảy ra cuộc chiến Nhật- Pháp, Sài Gòn bị dội bom. Phấn về quê để gặp Tư Cầu, rủ chàng đến chỗ khác xây dựng lại cuộc sống lứa đôi đã từng dang dở. Cô cũng cho chàng biết đứa con trai của cô vốn là con ruột của chàng. Cô Thơm bắt gặp quả tang cả hai lén lút tâm sự nhau nên ghen lồng lộn. Rốt cuộc Phấn phải trở về Sài Gòn, tiếp tục sống với người chồng như cũ.
Biến động xảy, trong các Sóc Thổ, người Miên nổi dậy phong trào “cáp duồng” (giết người Việt). Cô Thơm dù vốn là gốc Miên nhưng đã từng được cha mẹ Việt nuôi từ thở ấu thơ, rồi khi lớn lên lấy chồng Việt nên cũng bị người Miên cho là thứ Miên gian. Trong một chuyến về quê thăm cha mẹ nuôi, cô bị bọn Miên hãm hiếp và bị chúng hạ sát. Tư Cầu điên tiết giết chúng để báo thù cho vợ.
Tư Cầu nghe theo lời Ba Kiên gia nhập vào nhóm du kích kháng chiến, bị bắt giải lên Sài Gòn, chuyển qua dinh cơ của sĩ quan người Pháp có phận sự canh giữ các tù nhân trước khi giải họ đi Côn Đảo. Không ngờ viên sĩ quan này là chồng hờ của cô Ba Xá Lỵ. Tình cũ gặp nhau, cô Ba Xá Lỵ hết lòng giúp đỡ Tư Cầu để được gần gũi ân ái với chàng. Chàng chỉ làm phụ dịch nhẹ nhàng thôi. Một hôm, Tư Cầu theo nhóm tù nhân đến tiệm bán cây mà viên sĩ quan đã đặt tiền mua để chất cây lên đoàn vận tải quân xa đem về nhà hắn. Tình cờ Tư Cầu gặp Phấn, vợ tên khách trú ngày trước, nay trở thành chủ nhân tiệm bán cây ấy. Phấn cùng cô Ba Xá Lỵ giúp đỡ Tư Cầu ẩn trú. Tại nhà riêng do Phấn thuê, Tư Cầu bị lính tuần tiễu bố ráp nên bị bắt đưa về bót cảnh sát Catinat để cho bọn bao bố (để khỏi nhận diện) nhìn mặt nhưng không nhận chàng là Việt Minh nội thành và cho nên chàng được tha.
Tư Cầu lại về quê, nhập vào toán du kích kháng chiến địa phương. Trong cuộc tấn công quân xa của lính Tây, Tư Cầu cùng đồng bọn hạ sát được tên chồng sĩ quan hờ của cô Ba Xá Lỵ. Nhưng chàng không cứu được cô. Tên chánh trị viên giết cô ta. Tư Cầu toan báo thù cho người yêu của mình nhưng hắn đã kịp thời cao bay xa chạy mất rồi.
Tư Cầu lên Châu Đốc tìm chú Bảy và làm vườn cho chú. Chàng chiếm được trái tim cô Thắm, và được chú Bảy gả con gái cưng của chú cho chàng. Nhưng rồi chàng lại đi theo kháng chiến bị chết trong trận đánh Tây. Trong khi đó ở quê nhà, cô Phấn mang thai. Rồi đứa con trai của chàng chào đời. Nhưng dù sao chàng cũng đuợc an ủi vì trong lúc lâm chung, thằng em vợ của chàng đọc cho chàng nghe bức thư báo tin mừng của vợ.
Chuyện dài dòng văn tự như vậy, hết chuyện nọ xọ chuyện kia nhưng vì sự tò mò, hiếu kỳ của độc giả diễn tiến thế nào nên lôi cuốn độc giả.
Tác phẩm Dưới Rặng Trâm Bầu (1965) mang bối cảnh màu hoài niệm rất Nam Bộ, hàng cây trâm bầu đặc biệt ở miền quê ven kênh rạch đất Nam Kỳ Lục Tỉnh. “Ông tám” đèo “bà tám” trên chiếc xe đạp, “tám” chuyện nọ chuyện kia qua những mẫu đối thoại “cà kê dê ngỗng”
Sau năm 1975 người ta mới thấy rõ con người ‘nhẫn nhục’ của Lê Xuyên. Một con người ‘khí tiết’ đã chịu sống an phận trong nghèo khổ, hằng ngày ngồi sau tủ thuốc lá lẻ tại ngã tư đường Bà Hạt - Ngô Quyền, Chợ Lớn… khi cảm thấy ngòi bút ngày trước không còn là của mình. Trải qua sau 2 năm trời bệnh hoạn vì cơ cực và nghèo khổ nhưng nụ cười luôn nở trên môi. Nhà văn Lê Xuyên qua đời ngày 2 tháng 3 năm 2004 tại Sài Gòn!
Nhà văn, nhà báo Thanh Thương Hoàng, bạn cố tri của Lê Xuyên viết: “Buổi chiều ngày 5 tháng 3, đúng hai giờ lễ động quan bắt đầu, giữa trời nắng chang chang, chúng tôi đưa người quá cố đến nghĩa trang Bình Hưng Hòa. Có rất nhiều người bên hè phố lặng lẽ tiễn đưa anh. Đám tang nhà văn Lê Xuyên không ồn ào, không có những bài điếu văn “lâm ly bi đát” nhưng đám tang Lê Xuyên đầy ắp những tình yêu thương từ xa xưa đọng lại, từ bốn phương tám hướng lãng đãng bay về phủ kín chân trời Sài Gòn.”
Sống trên xứ Cờ Huê, với nội tình chính trị đang xảy ra giữa đảng nầy đảng kia, mỗi người có quan điểm khác nhau (ngay cả trong gia đình giữa vợ chồng, con cái) nếu hàng ngày gặp nhau cà phê cà pháo cùng tán gẫu liên quan đến nội tình rồi cũng rả đám! Chỉ có “cà kê dê ngỗng” mới có chuyện dài ngày nầy năm nọ, giữ được tình bằng hữu.
Ngay cả mục “Chuyện Vãn” cho tờ báo cũng không đề cập đến nội tình chính trị ở đây vì giữa độc giả với nhau… Biết chết liền!
Little Saigon, January 2023
Vương Trùng Dương
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét