Tìm bài viết

Vì Bài viết và hình ảnh quá nhiều,nên Quí Vị và Các Bạn có thể xem phần Lưu trử Blog bên tay phải, chữ màu xanh (giống như mục lục) để tỉm tiêu đề, xong bấm vào đó để xem. Muốn xem bài cũ hơn, xin bấm vào (tháng....) năm... (vì blog Free nên có thể nhiều hình ảnh bị mất, hoặc không load kịp, xin Quí Bạn thông cảm)
Nhìn lên trên, có chữ Suối Nguồn Tươi Trẻ là phần dành cho Thơ, bấm vào đó để sang trang Thơ. Khi mở Youtube nhớ bấm vào ô vuông góc dưới bên phải để mở rộng màn hình xem cho đẹp.
Cám ơn Quí Vị

Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Hai, 19 tháng 1, 2026

Lời Cảm nhận và tập truyện Một Thời Lãng Quên của GS Nguyễn Bảo Hưng


Tôi được biết thi sĩ Đỗ Bình qua mấy tập thơ Bóng quê, .Mùa Xưa Vỗ Cánh.., bởi vậy khi nhận được tập chuyện ngắn Một thời lãng quên anh vừa cho ra mắt, tôi vội đọc liền, chăm chú đọc, và tôi đã không uổng công bỏ thời giờ để đọc tập truyện ngắn này. Bởi vì Một thời lãng quên không chỉ là một loại văn học như tiểu thuyết, kịch, hồi ký. v.v.v. kể cho ta về những mảnh đời với những tình tiết li kỳ hấp dẫn giúp ta mua vui giải tri những giờ rảnh rỗi. Bởi vì tập truyện ngắn còn chuyển tải những phần tư duy thâm trầm sâu sắc về con người trong các môi trường sống khác nhau. 
<!>
Nói khác đi, mỗi câu chuyện kể đều chuyển tải một nội nội dung hàm ý sâu sắc mang ý nghĩa biểu tượng như những bài thơ thuộc trường phái biểu tượng. Thí dụ như chuyện Chuột nhà không phải chỉ la một câu chuyện tếu về loài chuột , mà còn là một bức tranh hiện thực bóc trần sự thật về con người, những con người trong môi trường sinh hoạt xã hội. Hay như câu chuyện Dòng tóc bên đời không chỉ là câu chuyện tình lãng mạng dang dở với người đẹp ông thương mến. Trái lại phần kết của câu chuyện này đã cho ta biết được hạnh phúc là gì. Hạnh phúc không phải sở hữu được điều ta mong ước. Hạnh phúc thực là tình cảm đẹp dẽ , tinh khiết, trong sáng, mong manh như sợi tơ trời nhưng luôn luôn bền vững. Tóm lại, ta không nên coi tập truyện ngắn Một thời lãng quên chỉ là một sáng tác thuộc thể loại văn chương. Trái lại mỗi cấu chuyện mỗi câu chuyện còn chuyển tải một nội dung mang ý nghĩa biểu tượng. Có thế, ta mới cảm nhận được cái ý vị văn chương hàm súc của nó. ... mong manh như sợi tơ trời nhưng luôn luôn bền vững.
Đoạn kết của câu truyện này làm tôi liên tưởng tới câu viết của nhà văn phi công Pháp Antoine de Saint-Exupery trong tác phâm "Terre des hommes" của ông : Yêu nhau không phải nhìn nhau mà là nhìn chung một hướng. (Aimer ce n' est pas regarder l' un l' autre mais regarder dans la même direction). A. de Saint - Exupery - Terre des hommes. Edition Gallimard p. 169

Nguyễn Bảo Hưng

Tập Truyện Ðỗ Bình ‘Một Tời Lãng Quên
Nguyễn Thùy

Mỗi một tác phẩm viết về khoảng thời gian đã qua là một ‘hồi ức’, một ‘cái nhìn’ về quá khứ. Một Thời Quên Lãng viết về thời kỳ chiến tranh, về lịch sử, về xã hội bằng những ‘câu truyện’ kể lại những sự kiện có thực mà tác giả đã trải chịu được trình bày trong một số buổi ‘sinh hoạt Văn học Nghệ thuật’ do Câu Lạc Bộ Văn Hóa Paris tổ chức tại Thủ đô Ánh sáng). Ðỗ Bình vừa là nhà thơ, nhà văn, làm báo, vừa là người soạn nhạc (nhạc của anh phổ biến trên youtube. Trong ‘Khung Trời Hướng Vọng’ viết về 16 nhà thơ hải ngoại, người viết đã nhận xét:‘’Ðỗ Bình trước đây cũng như bây giờ đang lưu lạc nơi xứ người, lúc nào cũng ôm ấp nơi mình bốn tính chất căn bản: ‘người dân, người lính, người chiến sĩ và người nghệ sĩ lãng mạn’. Bốn tính chất nầy luôn gắn bó, quấn quít nơi anh đã tạo nên ‘chất thơ’ diễn đạt cái ‘hình tượng mùa Xuân Tổ Quốc nơi tâm thức’ với nụ hương tình, với màu hoa năm xưa cùng ý hướng tìm về, hồi phục ‘màu trăng Tính thể’ cho Quê hương’’*.

-Nếu thật hồn quê không còn nữa
Xuân về cũng chỉ nụ hương thừa
Dù mai có rộ vàng lối ngõ
Thì vẫn đâu là hoa năm xưa!…
Ðỗ Bình (Chưa thấy mùa Xuân)

Bốn tính cách căn bản cùng hai hướng vọng đó đã khiến các sáng tác của anh luôn mang chở tính nhân bản khai phóng đậm sâu. ‘Nhân bản’ vì luôn luôn hướng về Tình người, về cái ‘Hồn quê’, khai mở cái Tính Thiện nơi con người, để cuộc sống chung luôn luôn là mùa Xuân hoa nở, không gây cho nhau những trầm luân giữa ‘cuộc đời bể khổ’ do của cải, quyền uy, danh vọng, chức vị, tiếng tăm,….‘Khai phóng’ vì không chỉ dừng lại nơi một thực tại gần gũi mà luôn khai mở cái Thực tại sao cho tốt đẹp hơn, vượt qua mọi sai biệt, thi phi về màu da, sắc tộc, tín ngưỡng, ngôn ngữ cùng quan điểm, lập trường hay những khác biệt nào khác để không còn chiến tranh, hận thù mà chỉ có Tình yêu. Công việc sáng tác phần nào chẳng khác công việc kẻ trồng hoa vì ‘Trồng có nghĩa là cấy xuống đất để từ đất trổi lên Cây tiêu biểu cho Sự Sống’. Qua tập truyện Môt hời Lãng Quên, nhà văn đang trồng cây, đang ươm hoa, đang cấy ước mơ trên mảnh đất khô cằn sỏi đá của quê hương, trên hiu hắt, tang thương, đổ vỡ của phận mình, của bao lớp người dù có khác nhau chiến tuyến, bởi chiến tranh và sau chiến tranh.
Một Thời Lãng Quên, tập truyện dày 153 trang, gồm tám truyện nhưng suốt tập truyện, ta luôn thấy hình ảnh của quê hương trong quá khứ của một thuở thanh bình và những tàn phá của chiến tranh và những gì đã xảy ra với đất nước, nhân dân lúc chiến tranh kết thúc. Vói những sự kiện trên, tác giả muốn nói gì ẩn sâu trong từng câu chữ ?

1.- ‘Paris, Những mảnh đời’, mảnh đời của người thiếu phụ xứ Ðông Âu, mảnh đời của một em bé hát dạo trên các toa xe điện ngầm, và những mảnh đời lưu lạc khác trong đó có tác giả.
‘Ba mảnh đời’ chung một số phận: cùng là nạn nhân chiến tranh, nạn nhân của chế độ Cộng sản nên phải tha phương. Nhưng khác nhau ở số tuổi: thiếu phụ và em bé hát dạo đang còn quá trẻ, không công ăn việc làm phải cảnh lang thang, tìm sống nơi lòng từ tâm của kẻ khác; Còn tác giả đã trưởng thành trong chiến tranh nơi quê nhà, và trải qua những thăng trầm vinh nhục. Mục đích của sự ra đi của anh là tìm tự do, và đã có cuộc sống vững vàng nơi xứ người.
‘Paris, Những mảnh đời’ có thể xem là một thiên ‘phóng sự’ có xen ít nhiều tâm tình chủ quan của tác giả lúc tường thuật lại những gì mắt thấy tai nghe. Ba mảnh đời thường gặp nơi cuộc sống hằng ngày nhưng cái hay không nơi tường thuật sự việc mà nơi những chi tiết rất thông thường nhưng lại nói lên nội dung nhân bản của truyện.
Người thiếu phụ Ðông Âu trẻ đẹp, rất tự nhiên vạch cặp vú trắng đẹp, đầy sữa cho con bú trước ngạc nhiên của hành khách trên toa xe (vi nơi đây không là bãi tắm, không là nơi phô bày vẻ đẹp thân xác) nhưng nhìn em bé bú ngấu nghiến, lại ‘loáng ánh reo vui như chia niềm hạnh phúc’. Riêng anh (nhân vật ‘tôi’ trong truyện) nhìn ra cái ‘tình mẹ’ cao quí và nhớ lại quảng đời thơ ấu cùng người mẹ mình. Hình ảnh em bé hát dạo gợi cho anh cả quảng đời thơ ấu hạnh phúc và khoảng thời gian ngày qua trong trại tù Cộng sản đã ‘từng bị đày ải và bỏ đói, từng ăn củ chuối, uống nước lả hay nhai những loài cỏ dại, từng thèm những hạt cơm, mẩu đường, miếng tóp mỡ…’ Cậu bé thông minh, kháu khỉnh với số tuổi đời lên tám, giờ đây bàu nhàu, lem luốc, phải đi hát dạo, ăn xin để sống qua ngày, ‘tiếng hát não lòng , có lẽ em đã khóc cho thân phận làm người’. Cái ‘nhoẻn miệng cười’ của người thiếu phụ khi bỏ ít bạc cắc vào lon em bé, nói lên niềm vui đồng cảm cảnh ngộ mình với em bé. Cử chỉ tốt đẹp của người thiếu phụ nghèo, cùng ‘diện’ với em bé, đã tạo nên những cảnh đời ‘lá rách đùm lá nát’ khi nhìn người thiếu phụ nhoẻn cười bỏ ít bạc cắc vào lon em bé. Nơi mọi hành khách trên tàu là nỗi ngạc nhiên trước sự việc khác thường cùng nỗi nhàm chán vì sự việc xảy ra quá nhiều. Nhưng, sau cái ngạc nhiên và nhàm chán đó ‘vài cặp mắt theo dõi đều loang loáng ánh reo vui như chia niềm hạnh phúc’ và ‘chắc hẳn trong tâm tư mỗi người đều có chút bâng khuâng’. Tình thương vẫn không cạn tắt nơi trái tim con người, cho dù vì điều kiện hay lý do nào đó (ngạc nhiên trước cảnh thiếu phụ vạch vú cho con bú, nhàm chán trước cảnh hát dạo trên tàu, bản tính Á Ðông khiến do dự) ) đã ‘ngăn chặn’ thể hiện bằng việc làm. Một chi tiết khác là ‘miên man về những danh từ ‘chiến tranh, thù hận và tình yêu’. Ở đoạn văn, môt người đàn ông bản xứ vô gia cư được nhân vật tôi trong truyện khi nhìn thấy người hành khất khốn khổ, chợt động lòng đã tặng cho ông ấy cả tập chi phiếu ăn nhà hàng của mình trong tháng. Thay vì người vô gia cư đó giữ lấy một mình để có thể ăn dần trong tháng, nhưng ông đã đi xuống hầm métro tìn các bạn đồng cảnh để chia lại chi phiếu ăn đó cho các bạn. Tác giả đã đề cao tấm lòng san sẻ của tình người, dù ở trong hoàn cảnh khốn cùng. Những chi tiết này lại là giá trị nội dung của câu truyện. Những cử chỉ, thái độ nhỏ nhặt bình thường thôi vừa diễn tả cảnh đời vừa nói lên tâm trạng ; tất cả phát xuất từ Tình Thương, không lớn lao, qui mô gì mấy nhưng ‘thiếu một cánh tay nương, một lời tri ngộ’, mỗi chúng ta sẽ thấy đường dài hun hút lạnh căm và cảnh đời em bé nọ, người thiếu phụ kia sẽ phải bi thảm đến chừng nào ?.

Ðỗ Bình viết truyện không theo lối kết cấu thường thấy trước nay. Anh rung cảm trước những cảnh đời rời rạc, những sự việc được thấy, nghe, rồi làm công việc người nhiếp ảnh chụp vào máy. Những sự việc đó tự nhiên liên kết nhau, đồng quy về với tâm trạng tác giả, dẫn về chủ đề : Tình Thương (hoặc thể hiện bằng việc làm hoặc bằng đôi thái độ, cử chỉ đơn sơ). Tình thương không ‘chết’ nơi lòng người nhưng chỉ riêng những người cùng cảnh ngộ đói nghèo, khốn khổ mới biểu lộ tự nhiên, rõ ràng, chân thật. Nội dung nhân bản của câu truyện nơi đây là những cảnh đời đen tối đó phát sinh do từ chiến tranh, từ thù hận nhưng những người như thiếu phụ kia, như em bé hát dạo nầy ‘’làm sao hiểu được cặn kẽ những từ hoa mỹ ‘Cách mạng và giải phóng’ ?’’. Và chính đăm chiêu về những từ đó mà tác giả (‘tôi’ trong truyện) đã quên lửng thói quen thường ngày phải dùng ly cà phê trước khi vào sở. ‘Chiến tranh, thù hận và Tình yêu’, đấy là chủ đề của câu truyện, luôn luôn là những suy tư cho con người, cho chung nhân loại. Bao nhiêu kẻ, bao nhiêu chủ nghĩa đem ‘tình thương’ làm chiêu bài để gây thù hận và gieo chiến tranh, thù hận. Nhưng cũng bao nhiêu người vì ‘Tình Thương’ đã hy sinh đời mình mong cứu độ, giải thoát sinh linh như một Thích Ca, Jésus. Bình thường hơn, cũng đã bao người suốt đời tận tụy vì ‘Tình Thương’ như một Simone Weil (từ bỏ chiếc ghế Giáo sư Ðại học lăn mình vào sống kiếp người cùng khốn), một Mẹ Thérésa, một tu sĩ như Abbé Pierre và bao bao nữa khắp Ðông Tây.

Cái ‘hay’ khác của câu truyện còn ở lời văn. Qua đoạn nói về Paris, tác giả không đưa ta đến những vàng son của Thủ đô ánh sáng với Tháp Eiffel tiêu biểu, với Bảo tàng viện Louvres danh tiếng, với những nhà thờ Notre Dame hay Sacré Cœur đồ sộ, với điện Versailles thời phong kiến lẫy lừng mà nói đến sự phát triển của Paris với những khu phố mới đầy đủ những nét văn minh hiện đại nhưng ‘vẫn có những mảnh đời vụn vỡ’, vẫn còn ‘giới bụi đời sống mờ nhạt trong cõi trần ai, xa rời thế giới cực kỳ vật chất, lắt lay ở các vĩa hè và hầm Métro’ không phải ai cũng là hành khất mà có đủ hạng người’từ những người trước kia từng làm chủ một công ty, giám đốc một xí nghiệp hay thuộc giới trí thức khoa bảng đến những kẻ sa cơ’. Sau cái bề ngoài mĩ miều của văn minh, vẫn còn những cảnh đời nheo nhóc, tăm tối, âm u. Ðến bao giờ Văn minh mới thật sự hoàn toàn phổ quát, đến với toàn thể mọi người, không còn là ‘cái may’ riêng , cái ‘hưởng thụ’ riêng của một số người có điều kiện, có phương tiện.

2 Chuột Nhà
Nhân vật chính trong truyện là ông Giáo già và chú chuột lắt. Qua hai nhân vật nầy, ta thấy tác giả như muốn trình bày hai xã hội : xã hội trí thức VN tỵ nạn nơi các xứ tự do và xã hội loài chuột nơi khu chung cư nhân vật chính định cư để từ đó gián tiếp nói về hiện tình đất nước.
‘Xã hội người VN’ nơi Paris, thủ đô ánh sáng của nước Pháp gồm toàn những trí thức khoa bảng, nhà văn, nhà nhạc, nhà thơ, định cư tại Pháp hơn mấy chục năm. Bốn khuôn mặt tiêu biểu được tác giả nói đến nhiều nhất trong số trí thức nầy là Cụ Giáo, giáo sư Ðại học ; Ðốc-tờ Lê Chí, Nhạc sĩ Phong Trần và vị Giáo sư Toán học thích làm thơ. bút hiệu Viễn Mơ.
Ngoài đôi người hành nghề tự do như Cụ Giáo từng du học Pháp, Mỹ, đỗ hai bằng Tiến sĩ, về nước, không tham chính dù được mời mà chi đạy Ðại Học, còn tất cả đều đã lăn lộn vào cuộc chiến, đều đã từng chứng kiến cảnh quê hương và đồng bào qua bao năm trời bom đạn, đã phải lãnh bao đòn thù tàn bạo của kẻ chiến thắng sau ngày 30 tháng Tư bảy lăm. Sang được xứ Tự do, các nhà khoa bảng nầy ‘luôn ôm ắp mối sầu quê hương’.
‘Xã hội chuột’ được trình bày qua cuộc ‘đối thoại’ giữa chuột Lắt con với chuột mẹ và qua màn chuột Lắt con đi tìm ăn nơi nhà cụ Giáo.
Cuộc ‘đối thoại’ đi từ loài người sang loài chuột. Nghe lời than của chuột Lắt:’Loài người bọn chúng quả thật chúng ác mồm lắm mẹ ạ !…Chúng đặt tên và xếp loại chúng ta vào loài chuột !’, chuột mẹ bảo :’Con ơi ! Hơi đâu mà nghe mồm người ! Tâm địa chúng còn hiểm độc hơn nhiều ! Lắm đứa còn bẩn hơn cả chuột nữa!’. Chuột Lắt kể lại lần bới bao rác, tìm được cây dồi thơm quá, chuột Chù và chuột Cống cạnh đấy định giật lấy nhưng may sao, Lắt nhanh chân phóng vào góc kẹt. Chuột Cống, chuột Chù phóng theo nhưng vì to lớn đành đứng ngoài chõ mõm chửi… Chuột mẹ giận run lên rồi nói cả họ nhà chuột. ‘’…Con tưởng loài chuột Chù thơm lắm sao ? Con xem bộ dạng nó đầu đít chẳng cân xứng….trông mà phát gớm ! …Con tưởng chuột Cống sạch lắm hả ? Hủi đấy ! …’. Rồi chuột mẹ xuống giọng nói khẽ như sợ có ai nghe trộm : ‘Nó xơi cả thịt chuột nữa đấy con !’. Nghe chuột con run run ’Ðâu có ai nghe sao mẹ sợ dữ vậy ?’, mẹ chuột hạ giọng bảo : ‘Con ngây thơ lắm !…Là chuột mà chẳng hiểu chuột ! Chuột là tổ sư của nghành rình mò và báo cáo đấy con…Con người mới học lóm sau nầy thôi !’. Rồi trước thắc mắc của chuột con, chuột mẹ nói : ‘… Ý niệm con người thật ác độc ! Cái gì bẩn nhất họ trút lên đầu mình, ngay cả việc lên án giữa con người với con người, hễ ai có hành động bẩn là họ ví là chuột ! Thế có tức không chứ ?!’’.
Cụ Giáo hôm nay đi vắng. Chuột Lắt thừa cơ viếng nhà Cụ, chạy nhảy tung tăng rồi leo lên cả bàn thờ. Trên bàn thờ, những đĩa đựng hoa quả, nhất là đĩa gà khiến ‘mắt nó long lên, mùi thơm đã động não làm ứa đầy nước bọt..’. Lắt mon men trườn đến bỗng ‘giật mình khi nhìn thấy những bức ảnh trên bàn thờ chăm chăm nhìn nó với ánh mắt rất nghiêm khắc’. Nó như bị thôi miên, …’chân cứ mềm nhũn ra... Nó rít lên, thiếp đi trong sợ hãi’.…Tĩnh dậy, thấy những hình người bất động, Lắt yên tâm và chợt hiểu : ‘Thì ra tất cả chỉ là hình tượng giống như thứ gỗ đá…Những hình tuợng nầy đều là những người chết, thế nào mà họ hiền đến thế !’. Quan sát kỹ hơn, Lắt nghĩ :’…Chỉ có người chết là tử tế và có thể sống chung được với họ’… Lắt tiến về phía dĩa gà, ‘ăn ngấu nghiến, rồi rít lên sung sướng…’. Sau khi ăn no nê, ‘Lắt lăn ra ngủ. Ðang ngon giấc, nó bỗng giật mình do những tiếng động ồn ào trước cửa, chân run lên vì thấy chủ nhà đã về…Lắt cuống lên,… , nên không dám leo xuống’.

Chuột và Người . Hôm nay là ngày họp bạn của Cụ Giáo. Cuộc họp gồm toàn những người ‘biệt xứ, luôm ôm ấp mối sầu quê hương’ nên ‘trong tiếng cười nói lại ẩn chứa một niềm đau miên viễn’.. Tiếng cười nói ồn ào, lẫn tiếng động cơ của một phi cơ bay ngang nhà làm chuột Lắt hoảng sợ, tưởng có người trèo lên bắt , bèn phóng vào góc bàn thờ, làm đổ chiếc bình hoa. Mọi người cùng buột miệng : ‘Chuột ! Chuột !’ Ðốc tờ Lê đứng phắt dậy hỏi : ‘Nhà cụ Giáo có chuột ?’. Thế là cuộc nói chuyện tầm phào trêu chọc nhau xoay qua một đề tài hiện thực : Chuột và người cùng cách diệt chuột.
Thoạt tiên, ‘thi sĩ Viễn Mơ vỗ đùi cười rú : Nhiều lúc sống với chuột còn khá hơn sống với người đấy, các cụ ạ !’. Trả lời nhạc sĩ Phong Trần, đốc-tờ Lê Chí bảo: ‘ …Những thứ được gọi là bẩn và phá hoại đều đáng tởm cả !’, rồi hỏi cụ Giáo : ‘Cụ Giáo đã có cách nào diệt chuột chưa ?’. Nghe Cụ Giáo than thở, Phong Trần đề nghị : ‘’Muốn cho chuột khỏi phá bàn thờ chỉ còn cách dời bàn thờ đi chỗ khác, chuột sẽ mất dấu…’’. Cụ Giáo la lên : ‘’…Ai lại dời bàn thờ gia tiên chỉ vì một con chuột ?’. Lê Chí tiếp thêm : ‘’Ông tưởng dời mà yên được sao ? Dời đi chỗ nào mà hủi không bò đến !’’. Rồi Lê Chí đề nghị : ‘’Theo moi, nên kiếm một tay thiện xạ trong đám bạn cũ, độp một phát là toi đời nhà chuột’’. Cụ Giáo lại la lên : ‘’ Ấy chết !..Biện pháp đó không được đâu ; vả lại, tôi e rằng lâu ngày các ông ấy không còn dùng đến súng, lỡ bắn trật lại trúng vào di ảnh của ông bà tôi thì tội chết !’’. Phong Trần chen vào : ‘’Sá gì chuột Lắt mà tốn viên đạn. Tôi đề nghị làm một con chuột Lắt khổng lồ bằng giấy,…chuột lắt có chui vào sẽ ngán và cút mất vì thấy sư tổ loài chuột đang ở đấy’’. Cụ Giáo lắc đầu nguây nguẩy : ‘’Ðã tởm không muốn nhìn cái mặt chuột…ai lại làm hình nộm chuột ! Nhìn thấy nó mà bực mình chết sớm hả ?’’. Lê Chí đanh mặt nói : ‘’Chỉ còn cách đốt quách căn nhà nầy đi thì đám chuột cháy queo râu…và cả họ chuột sẽ bơ vơ, chẳng còn cơ hội phá bàn thờ tổ tiên nữa!’’. Cụ Giáo cười ha hả nói : « …Anh Ðốc sắp điên rồi! Nếu đốt căn nhà không những ở tù mà mình lại phạm tội đốt bàn thờ tổ tiên’’. Trả lời cụ Giáo : ‘’Nói thì nói vật….đâu lẽ chỉ vì con chuột nhắt mà đốt nhà cụ ?’’, Lê Chí quay hỏi thi sĩ Viễn Mơ. Nhà thơ bày tỏ ý nghĩ mình : ‘’Các ông bàn đến chuột mà tôi phát ngấy !…Chuột hai chân vừa nhanh vừa gian ác…nhan nhản khắp nơi, sao không thấy ai đề nghị diệt ?’’. Ðốc tờ Lê cười : ‘’Ðám chuột đó mà bị diệt, thiếu gì kẻ phải tự tử vì bị phá sản nghề buôn chuột…’’. Thi sĩ Viễn Mơ lại đề nghị : ‘’Theo tôi…, chỉ cần cho chuột ăn những món ăn của chuột. Chẳng hạn chuột Chù vì hôi nên thích hào nhoáng thì cho nó ăn món có dạng mề-đay và cái tên rất kêu…Chuột Cống ở bẩn lại thích ăn thì cho món ăn có hình đô la. Nhất là phải cho chúng ăn no, chỉ một thời gian, tôi tin nó sẽ mập ú, to lớn và nặng nề…vì thân xác phì nộn, khệnh khạng, nó sẽ không thể nào leo lên bàn thờ được !’’. …
Cuộc bàn thảo diệt chuột chẳng đưa đến một giải pháp nào. Chuột Lắt thấy mọi người không ai chú ý nên phóng cái ào xuống sàn nhà, thoắt biến qua cửa sổ mất dạng. Cụ Giáo la lên : ‘’ Ấy, đấy, các ông thấy chưa ? Nó nằm sẵn trên bàn thờ lúc nào rồi !…’’
Cụ Giáo bước ra ngoài, nhìn chiếc xe ủi và xe cần trục đang phá sập khu nhà kho. Sơn, người lái chiếc xe ủi nói với Cụ Giáo : ‘’Cháu coi cơ xưởng nầy. Cháu đang cho nhân viên phá sập khu nhà kho để thiết lập một cơ sở thương mại tại đây….Mà chuột, chao ôi, sao nhiều quá !…’’Rồi Sơn bảo : ‘’Cụ yên tâm. Lần nầy chúng không còn vào phá nhà cụ nữa đâu. Chúng bị xe ủi cùng hai xe cần trục cán chết vô số. Còn lại một ít chắc chúng phải tìm một chỗ khác xa xôi’’. Cụ Giáo vào nhà báo tin vui :’’Cái nhà kho chứa đầy chuột bọ tồn tại cả gần thế kỷ nay bị cáo chung chỉ vì người ta sẽ biến khu đất hoang nầy thành một trung tâm thương mại. Cạnh tranh Kinh tế thị trường…đấy mà !’’. Cụ Giáo liếc nhìn lên bàn thờ…như trút được mối sầu.
Truyện dừng ở đấy. Sau ít dòng tả cảnh , truyện kết thúc ‘Trong vũng sáng đậm màu quê hương, thoáng có niềm đau xứ lạ’.
Truyện được viết năm 2000. Truyện vừa hiện thực vừa hư cấu mang nhiều ẩn ý có thể động chạm đến số đông.người.
-Xã hội Chuột có thể ám chỉ xã hội của những người xấu, với những chuột Cống, chuột Chù… chúng tranh nhau ăn, tranh nhau danh hão rồi quay ra chửi bới, bôi nhọ l ẫn nhau. Thi sĩ Viễn Mơ, nhà trí thức toán học nầy đã xem số đó là thứ ‘chuột hai chân’ cần phải diệt. Nhưng ‘Ðám chuột ấy mà bị diệt, thiếu gì kẻ phải tự tử vì bị phá sản nghề buôn chuột…’.
Xã hội người trí thức VN nơi Paris, hay ở bất cứ nơi quốc gia nào đều căm ghét cái xấu nhưng chẳng thể đồng thuận một ‘kế sách’ nào diệt chuột.. Các ý kiến ‘diệt chuột’ đưọc nêu ra nhưng chẳng đưa đến một ‘giải pháp’ nào hữu hiệu. Tuy nhiên, cái ‘Xã hội trí thức’ nầy còn bảo tồn nhiều nét quí giá. Cụ Giáo, đốc-tờ Lê, nhạc sĩ Phong Trần, và bao bao nguời nữa thấy rõ mọi gian manh, tàn ác, bẩn thỉu, hôi hám của lũ ‘Chuột người’.
Ðỗ Bình nêu ra thực trạng ‘xã hội trí thức’ nơi hải ngoại, không nhằm chỉ trích, đả phá. Anh chỉ nêu lên một sinh hoạt của một số người Việt tỵ nạn Cộng sản nơi hải ngoại. Ðiều Ðỗ Bình muốn nhấn mạnh nơi đây là những nhà trí thức với học vị cao tột và tâm hồn đẹp đẽ như trên, lẽ ra là tinh hoa, là những bàn tay xây dựng vô cùng cần thiết cho đất nước, thế mà giờ đây phải ‘lụi tàn’ trong cuộc sống ‘bát nháo’, chỉ còn sống bằng kỷ niệm, bằng đau buồn, cuộc sống nhạt nhẽo, hư thừa. Tại sao ? Lời Cụ giáo, trong nhà tù, phần nào trả lời cho chúng ta điều đó : ‘Ông ngậm ngùi cho đất nước đang thiếu từng củ khai, miếng sắn nhưng ‘’lại thừa’’ những nhà khoa học, triết học, luật học như ông ! Vì đảng đã kiêm hết nào là khoa học, là tư tưởng, là luật và là chiếc thòng lọng siết cổ dân !…’. Vâng, chính cái lớp người tự phong mình là ‘đỉnh cao trí tuệ’ đã phủ nhận hết mọi tài năng của dân tộc đã giết chết hết khả năng và thiện chí của con người. Có thể, lý do tiếp theo là lịch sử. Lịch sử VN từ hậu bán thế kỷ XX hầu như bắt buộc phải tiêu hủy hết mọi sinh khí của dân tộc, phải trải qua giai đoạn tiêu hao hàng triêu sinh linh cùng mọi khả năng để sâu bọ, lăn quăng lên làm người. Lịch sử VN bị bắt buộc phải quay vòng theo một vận tốc âm trong cái guồng máy (engrenage) gấp gảy của chung thế giới. Cuộc chiến Bắc-Nam suốt hơn phần tư thế kỷ và đến nay dù có được gọi là hoà bình, thật ra chỉ là một diễn trình phi lý và vô ích. Lịch sử VN không còn phục vụ cho dân tộc mà bị bắt buộc phải đi theo từng ‘đoạn gảy’ của cuộc cờ thế giới. Số người trí thức nêu trên còn biết làm gì nơi hải ngoại, còn có điều kiện nào để thực hiện được những điều từng ôm ấp trước nay ? Họ chán biết cuộc sống ‘thừa thải’ của họ giờ nầy, chỉ còn ‘tiêu dao’ trong ‘cái trẻ’ của ngày nào nơi ‘cái già’ của tuổi tác giờ đây. Như một Cao Bá Quát ‘Thế sự thăng trần quân mạc vấn, Yên ba giang thượng hũu ngư châu’. Họ là những ‘đốm đèn thuyền chài’ trong đêm gió bão. Nên trách hay nên thương ? Trách cũng đúng, nhưng nghĩ ra nên thương họ hơn. Thương họ là để đau xót cho dân tộc, để ngậm ngùi cho cảnh nước tình dân. Ðỗ Bình không chỉ trích, mà chỉ ngậm ngùi thôi. Lời văn tuy đôi lúc có tính cách hài hước, châm biếm, nhưng thực ra chỉ để diễn tả nỗi buồn mênh mang đó, không của riêng ai mà của chung tất cả. Nỗi buồn của một cô Kiều : ‘Lỡ làng nước đục bụi trong, Trăm năm để một tấm lòng từ nay’.
Ðoạn cuối câu truyện nói lên biện pháp diệt chuột hữu hiệu là hủy phá khu nhà kho, ổ cư trú của dòng họ chuột. Nhưng biện pháp nầy lại không do chính tay của số người trí thức nầy. Biện pháp diệt chuột lại do nhu cầu phát triển kinh tế, biến ổ cư trú hôi hám của loài chuột thành một trung tâm thương mãi.
Câu cuối cùng của truyện ‘Trong vũng sáng đậm màu quê hương, thoáng có niềm đau xứ lạ’ cho biết đấy là ‘vạt nắng quê hương còn quanh quẩn nơi người Việt tha phương nơi xứ người’ Tiếp đấy, có thể là ‘Vạt nắng sẽ đến với khung trời quê hương trong mơ ước của người Việt hải ngoại’ với nền Kinh tế thị trường phát triển sẽ triệt tiêu hang ổ chuột để chúng không còn đất sống như được nói đến nơi đoạn cuối câu truyện.
Lối viết của Ðỗ Bình trong truyện nầy, phần nào không theo lối cũ lâu nay. Vừa hiện thực vừa hư cấu, vừa đau buồn vừa hài hước, tác giả đưa ra sự việc nhỏ, kết lại không nhất thiết theo một thứ tự cổ điển nghĩa là theo lối ‘tuyến tính’. Tập truyện của Ðỗ Bình hẳn kén độc giả, tác giả không viết theo lối ‘thời trang’ mong được ‘tiêu thụ’. Về hình thức lẫn nội dung, anh muốn tạo nên một ‘thứ mới’ nào đó về mặt thẫm mỹ cũng như về mặt tư tưởng. Tập truyện của anh vừa mang tính thời sự đã qua và hiện nay, đồng thời mang tính cách sử liệu về một giai đoạn của đất nước cho độc giả sau nầy, không để hiểu lịch sử theo lối viết sử mà theo lối thẩm định lịch sử qua văn chương. Vì, cho dù mỗi người là một sản phẫm lịch sử nhưng bên trong mỗi người vẫn âm ỉ một phản kháng tiềm tàng để không phải lúc nào cũng bị ‘khuất phục’ bởi lịch sử, để không trong thế ‘bất khả kháng’, cho rằng ‘lịch sử đã bắt tôi như thế, tôi không thể làm khác’. Người viết chưa dám bảo, chưa thể bảo ‘Ðỗ Bình đã cách tân nghệ thuật viết truyện’ mà chỉ là một kẻ đang thử ‘ươm cây’ trong sáng tạo nghê thuật, có khác với lối viết thường mong thỏa mãn thị hiếu đại chúng như phần đông trước nay.
Kết Luận : ‘Một Thời Lãng Quên’ , toàn tập truyện nêu ra những việc thực, người thực, cảnh thực mà tác giả đã chứng kiến và bản thân đã trải chịu. Tập truyện phơi bày cái tàn ác của chiến tranh, cái dã man của hận thù và cái cao quí của tình yêu thương dù trong hoàn cảnh cực cùng khổ não. Tính cách nhân bản của tập truyện toát ra từ đấy. Ðỗ Bình không viết cho mình mà cho chung người Việt Nam. Tập truyện mang tính cách sử liệu để -như đã nói- mọi người sau nầy thẩm định lịch sử qua văn chương.. Hành trang trước tác của anh bao gồm cả con người, cuộc sống và thực trạng xã hội Việt Nam, thể hiện qua Tình yêu nước, yêu gia đình, dòng họ, yêu đồng đội, yêu người cùng lòng căm ghét chiến tranh, hận thù bạo lực. Tất cả kết thành động cơ, thành ‘lực đẩy’ và thành ‘lương thực tinh thần’ cho anh chiến đấu và sáng tác. Anh không viết về ‘con người Việt Nam cá thể của mình’ mà cho ‘con người tổng thể Việt Nam’ của dân tộc cũng như đã chiến đấu vì lý tưởng Tự do, nhân bản của người Việt quốc gia.
Về mặt Nghệ thuật, trong tập truyện nầy, Ðỗ Bình có hai cách viết khác nhau. Truyện ‘Cảnh Đời Hư Ảo’ có tính cách đơn tuyến nghĩa là được viết theo kết cấu cổ điển, có đầu có đuôi, mọi sự việc liên kết nhau chặt chẽ, diễn tiến mạch lạc, không gây cảm xúc bất ngờ, không khiến người đọc phải suy nghĩ mông lung ra ngoài câu truyện. Truyện ‘ Paris, Những mảnh đời’ có thể xem là thiên phóng sự, chụp lại những hình ảnh tình cờ xảy ra trước mắt, rồi những sự kiện kết hợp với nhau không theo một chủ ý nào của tác giả nhưng tự chúng dẫn đến chủ đề . Truyện ‘Chuột Nhà’ có những chi tiết hầu như không cần thiết khiến độc giả như bị đẩy ra khỏi tiến trình của câu truyện nhưng chính những chi tiết không cần thiết đó lại nói lên cái sâu sắc của tâm lý nhân vật cùng cảnh ngộ chung của lớp người trí thức nơi xứ người. Lớp người trí thức đã đạt đến tột đỉnh của học vị, đã trải chịu chiến tranh, đã chiến đấu kiên cường, đã nhận lảnh đòn thù, đã có tâm hồn cao đẹp, cùng tình yêu nước nồng nàn, thế mà giờ đây sống cuộc sống tàn dư, vô vị. Cái trí thức cao tột cùng tấm lòng yêu nước đó giờ nầy chỉ là những chiếc ‘tàn y’ không đủ sưởi ấm tấm thân ly hương lạnh giá của mình cùng tấm thân đất nước xơ xác, rụi tàn nơi quê hương. Lối viết nầy phải chăng đã mang chở ít nhiều tính cách ‘cách tân’ nơi nghệ thuật viết truyện ?
Ðọc tập truyện ‘Một Thời Lãng Quên’ không để mua vui, để giải trí mà để nhìn, để ‘thẩm định một giai đoạn lịch sử’, để chán ghét chiến tranh, căm thù bạo lực và để mở rộng tình người.

Nguyễn Thùy

Không có nhận xét nào: