Vào Giây Phút Đau Thương Này, 51 Năm Về Trước: Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên, CS Ra Tay Tàn Sát Hàng Trăm Ngàn Người Kẹt Trên Tỉnh Lộ 7B, Người Chết Xếp Lớp, Máu Chảy Thành Sông! Trên “Tỉnh Lộ Máu 7B!” Tưởng Niệm Tỉnh Lộ 7B— Con Đường Nhuộm Máu Tháng Ba 1975 Hàng Trăm Ngàn Linh Hồn Chết Oan Không Bao Giờ Được Gọi Tên! - (LVH soạn)
<!>
Tháng Ba năm 1975…
Trên một con đường nhỏ của miền Trung Việt Nam — Tỉnh Lộ 7B, từ Pleiku về Tuy Hòa — đã diễn ra một trong những cuộc di tản tắm máu, đau thương nhất trong lịch sử dân tộc!
Từ đó, người ta gọi đó là Tỉnh Lộ Máu!
Không phải vì chiến trận giữa hai đạo quân. Không phải vì trận đánh ác liệt ngoài chiến trường. Mà vì…đó là đoàn người chạy trốn — đàn bà, trẻ nhỏ, người già, thương binh, công chức, quân nhân… những con người tuyệt vọng trong giây phút cuối cùng, chỉ mong tìm đường sống.
Họ bỏ lại sau lưng nhà cửa, quê hương, kỷ niệm… Chỉ mang theo vài gói hành trang nhỏ, ôm con thơ trong vòng tay, dắt cha mẹ già run rẩy bước đi trong sợ hãi.
Không ai ngờ…Con đường tìm sự sống ấy… lại trở thành con đường đi vào cái chết!
CS Pháo kích bắt đầu rơi xuống như mưa trên đầu!
Những tiếng nổ kinh hoàng xé toạc bầu trời. Đạn pháo không phân biệt ai là lính, ai là dân. Không phân biệt người mẹ ôm con, hay người già chống gậy.
Xe cộ cháy rực sáng cả bầu trời… Tiếng khóc gào vang, kinh hoàng lên khắp núi rừng!
Những đứa trẻ lạc mẹ… Những người mẹ mất con… Những gia đình bị xé nát chỉ trong vài giây.
Có những em bé còn nằm trong nôi, đã vĩnh viễn nằm lại bên vệ đường.
Có những người lính bị thương, đã gượng đứng dậy lần cuối, để che chắn cho gia đình… rồi ngã xuống giữa đoàn người hoảng loạn.
Có những cụ già không còn đủ sức đi nữa, được đặt lại bên đường…và không bao giờ gặp lại người thân!
Đoàn người kéo dài hàng chục cây số… và cũng kéo dài theo đó… là những xác người nằm chết như xếp ngói!
Con đường đất đỏ đã nhuộm màu tang tóc, thê thảm nhất trong lịch sử!
Không có bia mộ. Không có quan tài. Không có người thân nhận diện.
Chỉ có những linh hồn vô danh vĩnh viễn nằm lại trên Tỉnh Lộ 7.
Trong gần cả triệu người di tản, chỉ khoảng hơn một trăm ngàn người đến được bờ biển Tuy Hòa.
Hàng trăm ngàn người còn lại… tan tác, mất tích… hoặc vĩnh viễn nằm lại trên con đường kinh hoàng ấy.
Không ai biết chính xác con số người chết. Nhưng những nhân chứng còn sống đều gọi đó là: Một cuộc thảm sát bi thương, đẩm máu nhất của Tháng Ba 1975!
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua… Những người sống sót hôm nay đã bạc mái đầu.
Nhưng mỗi khi Tháng Ba trở về…ký ức đau thương lại sống dậy, bóp nghẹt trái tim!
Họ vẫn nhớ…
Tiếng pháo rơi… Tiếng gọi nhau trong tuyệt vọng… Những ánh mắt cuối cùng của người thân… và những bàn tay buông rơi trong vô vọng…
Hôm nay…chúng ta thắp nén hương tưởng niệm…
Cho những người mẹ chưa kịp gọi tên con. Cho những đứa trẻ chưa kịp lớn lên. Cho những người lính ngã xuống khi bảo vệ đoàn người di tản. Cho những gia đình tan nát trên con đường máu.
Họ không có nghĩa trang. Không có bia đá. Không có ngày giỗ chung.
Nhưng họ có… ký ức của những người còn sống. Và tấm lòng của cộng đồng hôm nay.
Xin cúi đầu tưởng niệm những linh hồn đã nằm xuống trên Tỉnh Lộ Máu 7B…
Xin cầu nguyện cho họ được an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.
Và xin đừng bao giờ quên… Con đường máu ấy… đã từng có hàng trăm ngàn người Việt Nam ra đi trong đau thương tột cùng…
Ôi! Tỉnh Lộ 7 — Con Đường Máu! = Một vết thương lịch sử, dù qua hơn nửa thế kỷ… vẫn rỉ máu! không bao giờ khép lại!
Cuộc triệt thoái bi thảm đầy máu và nước mắt, của quân dân VNCH, ra khỏi Cao Nguyên năm 1975
(Vann Phan)
* “Cuộc Di Tản Đầy Máu và Nước Mắt” chỉ có xấp xỉ 60,000 người dân đến đích, trong khi hai phần ba trong số người dân di tản, tức hơn 100,000 người, bị chết hoặc bị thương phải bỏ lại dọc đường. Về phía quân đội, gồm khoảng 20,000 quân tiếp vận và yểm tợ, chỉ còn 5,000 người đến nơi. Sáu tiểu đoàn Biệt Động Quân, gồm 7,000 người, chỉ còn 900 người đến trình diện Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 2 ở Nha Trang!….”
-Kể từ khi Tiểu Khu Phước Long bị các lực lượng Cộng Sản Bắc Việt đánh chiếm hồi Tháng Giêng, 1975, tiến trình sụp đổ của chính quyền và quân đội miền Nam Việt Nam có thể nói là đã khởi đầu bằng cuộc triệt thoái bi thảm khỏi Cao Nguyên của Quân Đoàn 2 Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hồi Tháng Ba và kết thúc với việc Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30 Tháng Tư, 1975.
Sau khi Ban Mê Thuột thất thủ vào tay Cộng Quân vào ngày 12 Tháng Ba, 1975, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 dưới quyền Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, vào chiều ngày 14 Tháng Ba, triệu tập các sĩ quan cao cấp để thông báo quyết định rút bỏ Cao Nguyên do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đưa ra.
Thiếu Tướng Phú ra lệnh cho Lữ Đoàn 2 Kỵ Binh rút từ đèo Mang Yang về tăng phái cho Liên Đoàn 23 Biệt Động Quân để lữ đoàn này cùng Công Binh sửa chữa cầu cống, giữ an ninh trên liên tỉnh lộ 7B mà theo kế hoạch thì sẽ được dùng làm con đường rút lui chính của các lực lượng Quân Đoàn 2 tử Pleiku về Tuy Hòa.
Liên tỉnh lộ 7B từ ngã ba Mỹ Thạnh tới Tuy Hòa trước đây là một con đường trải đá, có ba cây cầu chính là Phú Thiện (dài 50 mét), Le Bac (dài 600 mét), và Cà Lúi (dài 40 mét). Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất, chỉ huy trưởng Biệt Động Quân Vùng 2 Chiến Thuật, được chỉ định làm chỉ huy trưởng tổng quát cuộc rút quân.
Diễn tiến cuộc triệt thoái
Ngày 16 Tháng Ba, đoàn quân xa vận chuyển vũ khí và quân dụng di tản bắt đầu rời thị xã Pleiku. Đoàn xe được chia ra thành bốn phần, mỗi phần có khoảng 300 quân xa đủ loại và các xe dân sự. Ngày đầu tiên, đoàn xe di chuyển êm xuôi vì có yếu tố bất ngờ. Nhưng đến ngày 17 Tháng Ba, có thêm nhiều dân chúng lũ lượt kéo theo nên cuộc di tản trở nên hỗn loạn và phức tạp.
Ngày 18 Tháng Ba, trong khi Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân đang cùng với thiết giáp mở đường đánh dẹp các chốt của Cộng Quân thì bị Không Quân VNCH oanh tạc lầm, làm nhiều binh sĩ thương vong. Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân được lệnh cho Tiểu Đoàn 51 Biệt Động Quân tiến nhanh và chiếm lĩnh cây cầu Phú Túc để Công Binh tiến hành sửa chữa. Trong khi chờ đợi, Tướng Phú ra lệnh tạm ngưng lui binh và lập phòng tuyến tại thị xã Hậu Bổn. Tuy nhiên quân dân tại tỉnh Phú Bổn, bị ảnh hưởng dây chuyền, cũng hoảng hốt gia nhập cuộc di tản. Tối đến, các lực lượng Cộng Sản Bắc Việt lại pháo kích vào thị xã làm cho nhiều thường dân vô tội bị chết oan.
Cũng trong ngày 18 Tháng Ba, Sư Đoàn 320 Cộng Sản Bắc Việt mở cuộc truy kích các lực lượng Quân Đoàn 2 đang rút lui, đuổi theo đánh phá đoàn xe triệt thoái ở Phú Bổn, rồi sau đó tiếp tục tấn công xuống Củng Sơn. Nhận được báo cáo, Tướng Phú ra lệnh cho Tướng Tất rút bỏ Hậu Bổn để về Tuy Hòa. Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân được điều động phản công cầm chân địch. Kịch chiến diễn ra suốt đêm và kéo dài tới sáng hôm sau, lúc đó đoàn quân và dân mới tiếp tục di chuyển được. Tuy nhiên, một đơn vị Cộng Sản Bắc Việt khác đã tràn chiếm quận Phú Túc ở phía Nam Hậu Bổn. Đoàn xe di chuyển đến nhánh sông Ba phía Nam Củng Sơn thì bị cát lún, phải chờ trực thăng chở vĩ sắt đến cho Công Binh thực hiện việc lót đường.
Các đơn vị Cộng Quân từ Thuần Mẫn, Phú Bổn, đổ xuống đã tiếp tục thiết lập các chốt cản đường. Một tiểu đoàn Địa Phương Quân và một tiểu đoàn Biệt Động Quân được giao nhiệm vụ nhổ chốt. Ngày 22 Tháng Ba, hai tiểu đoàn Biệt Động Quân ở lại đoạn hậu đã đánh tan một trung đoàn Cộng Sản Bắc Việt, gây thiệt hại nặng cho đối phương. Tuy nhiên, lúc đó, các lực lượng Cộng Sản Bắc Việt từ Ban Mê Thuột lại được lệnh di chuyển gấp theo tỉnh lộ 287 để đổ xuống liên tỉnh lộ 7B mà chận cắt đoàn xe.
Ngày 26 Tháng Ba, đoàn xe di tản vẫn còn bị kẹt lại gần Phú Thứ (trên đường từ Củng Sơn về Tuy Hòa) vì có các chốt chận của Cộng Quân. Tính đến ngày này, theo báo cáo của Bộ Tư Lệnh Lữ Đoàn 2 Kỵ Binh, toàn bộ chiến xa M-48 và M-41 đều bị bỏ lại trên lộ trình hoặc bị phá hủy vì trúng đạn pháo địch, ngoại trừ một chi đoàn thiết vận xa M-113 chạy thoát về Tuy Hòa.
Tướng Phú ra lệnh cho Chuẩn Tướng Trần Văn Cẩm, tư lệnh phó Quân Đoàn 2 đặc trách hành quân kiêm tư lệnh tiền phương Quân Đoàn 2-Quân Khu 2, bay chỉ huy lực lượng xung kích phối hợp với các phi đội trực thăng để giải tỏa áp lực địch. Tướng Phú cũng ra lệnh cho Chuẩn Tướng Tất điều động chi đoàn thiết vận xa M-113 trở lại Phú Thứ đặng phối hợp cùng với Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân triệt hạ các chốt chận của Cộng Quân.
Với sự yểm trợ của các thiết vận xa M-113, lực lượng Biệt Động Quân đã dần dần dọn sạch các chốt chận. Sau khi Tiểu Đoàn 34 Biệt Động Quân đã thanh toán các chốt sau cùng tại xã Mỹ Thạnh Tòng để khai thông con đường di tản, đoàn xe đầu tiên của quân và dân Quân Khu 2 đã về được tới Tuy Hòa vào ngày 25 Tháng Ba. Tổng kết, trong số 1,200 xe quân sự vào lúc khởi sự cuộc di tản từ Pleiku thì khi đến Tuy Hòa chỉ còn lại 300 chiếc mà thôi.
Liên tỉnh lộ 7B từ Pleiku xuống Tuy Hòa. (Hình: Tài liệu)
Kết cục bi thảm
Về cuộc di tản hỗn độn và đầy chết chóc của quân và dân Vùng 2 Chiến Thuật trên liên tỉnh lộ 7B từ Pleiku về Tuy Hòa, nhà văn quân đội Phan Nhật Nam, trong bài viết nhan đề “44 Năm Sau, Nhìn Lại Mối Đau” đăng trân nhật báo Người Việt, kể lại: “Súng nổ… 105, 155 pháo binh, XM72 của phía Cộng Hòa; 130 ly, 122 ly, B40, B41 Cộng Sản, tất cả cùng hòa vào nhau thành một luồng hỗn âm tan tác làm rung rinh sắc núi mờ đục ánh nắng… Sư Đoàn 320 Điện Biên bắn thẳng xuống đoàn di tản không sai trật một viên đạn. Lính còn rõ phản ứng trú ẩn, chống cự, người dân chỉ biết đưa mắt nhìn lên nơi đặt súng, nơi có những tiếng nổ khô, ngắn trước khi bị bùng vỡ phá toang. Xác người tung lên theo đất bay bay…”
Theo “Cuộc Di Tản Đầy Máu và Nước Mắt” của Mũ Xanh Lưu Văn Phúc trên trang mạng aihuubienhoa.com, chỉ có xấp xỉ 60,000 người dân đến đích, trong khi hai phần ba trong số người dân di tản, tức hơn 100,000 người, bị chết hoặc bị thương phải bỏ lại dọc đường. Về phía quân đội, gồm khoảng 20,000 quân tiếp vận và yểm tợ, chỉ còn 5,000 người đến nơi. Sáu tiểu đoàn Biệt Động Quân, gồm 7,000 người, chỉ còn 900 người đến trình diện Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 2 ở Nha Trang. Theo “The World Almanac of The Viet Nam War,” các kho đạn dược và quân nhu tại Kon Tum và Pleiku đã bị bỏ ngỏ, và tất cả quân trang, quân dụng cũng như vũ khí trị giá khoảng $253 triệu đều lọt vào tay Cộng Quân.
Cuộc lui binh của Quân Đoàn 2 trên liên tỉnh lộ 7B được coi là một cuộc lui binh bi thảm nhất trong suốt cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Liên tỉnh lộ 7B từ đó được mệnh danh là “Hành Lang Máu,” con đường đầy nước mắt và xương máu của quân và dân Quân Khu 2 trong suốt chín ngày đêm từ Pleiku xuống Tuy Hòa.
Lịch sử lên tiếng
Ngay sau khi Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay Cộng Sản, vào ngày 30 Tháng Tư, 1975, nhiều người Việt Nam trong và ngoài nước và dư luận tại nhiều nơi trên thế giới đã cho rằng cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về việc Sài Gòn sụp đổ, bởi vì kế hoạch rút bỏ Cao Nguyên Trung Phần – và sau đó là Quân Đoàn 1 tại miền Bắc Trung Phần – của vị tổng tư lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã thất bại thê thảm.
Sau biến cố đau thương này của đất nước, việc giải mã các bí ẩn lịch sử ở hai bên bờ Thái Bình Dương dần dần cho thấy cái thế tất yếu của lịch sử không cho phép Việt Nam Cộng Hòa tồn tại lâu hơn cột mốc 1975, cho dù ông Thiệu và các tướng lãnh trong Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, kể cả Đại Tướng Cao Văn Viên và Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, có thành công đưa được chủ lực quân của Quân Đoàn 2 an toàn về Nha Trang tại Vùng 2 Chiến Thuật hay Sài Gòn tại Vùng 3 Chiến Thuật.
Cụ thể là, để duy trì một cuộc chiến tranh chống du kích với quy mô lớn lao như hồi thập niên 1970, chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa cần phải có ít nhất, tức tối thiểu, là $1 tỉ kinh viện và quân viện từ bên ngoài, trong khi kinh viện và quân viện của Mỹ cho năm 1975 đã bị Quốc Hội Hoa Kỳ cắt giảm từ mức $700 triệu xuống chỉ còn $300 triệu, và rồi sẽ bị cắt đứt hẳn nếu chiến tranh còn kéo dài sang năm sau.
Dẫu sao, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, và luôn cả Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cùng với Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Vùng 2 Chiến Thuật, đều đáng bị chê trách vì đã tổ chức một cuộc lui binh tồi tệ nhất trong lịch sử Chiến Tranh Việt Nam.
Thật ra, các thông tin và tài liệu có được trước và sau Tháng Tư, 1975, cho thấy ông Thiệu và Tướng Viên cùng với Trung Tướng Đặng Văn Quang, cố vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Thiệu, đã từng thảo luận về một kế hoạch “co cụm” lãnh thổ – gọi là chiến lược “nhẹ đầu, nặng đuôi” – để Việt Nam Cộng Hòa có thể đủ ngân sách mà tồn tại thêm một thời gian từ ba đến năm năm nữa. Bởi vì chính phủ VNCH đã “đánh hơi” thấy được chuyện Quốc Hội Mỹ thế nào cũng cắt giảm hoặc chấm dứt kinh viện và quân viện cho miền Nam Việt Nam một khi quân tác chiến Mỹ và các tù binh chiến tranh của họ đã an toàn hồi hương sau khi Hiệp Định Paris được ký kết hồi năm 1973.
Theo kế hoạch dự trù này, chậm nhất là hai năm sau ngày ký Hiệp Định Paris, chính phủ và quân đội Việt Nam Cộng Hòa sẽ phải tự ý rút bỏ Cao Nguyên Trung Phần và vùng duyên hải Bắc Trung Phần, tức Quân Khu 1 và Quân Khu 2, để tập trung về giữ phần lãnh thổ còn lại của miền Nam Việt Nam, tức là chỉ bao gồm các tỉnh thuộc Vùng 3 và Vùng 4 Chiến Thuật, cụ thể là từ Qui Nhơn hay Nha Trang tới Cà Mau mà thôi, nhằm tiết kiệm tiền bạc và thu nhỏ phạm vi phòng thủ của quân đội, với hy vọng Việt Nam Cộng Hòa sẽ có được một cơ may nào đó giúp mình tiếp tục tồn tại, như khả năng có tiền nhờ khai thác được dầu hỏa ngoài Biển Đông (Biển Nam Hoa) chẳng hạn.
Nhưng cả Tổng Thống Thiệu và Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH cứ chần chờ mãi mà không cho thực hiện chiến lược “nhẹ đầu, nặng đuôi” nói trên, có lẽ cả hai vị vẫn còn chút hy vọng rằng sẽ có những biến chuyển chính trị thuận lợi hơn tại Mỹ khi đảng Cộng Hòa giành lại được quyền kiểm soát Quốc Hội từ tay đảng Dân Chủ. Họ thừa biết rằng đảng Cộng Hòa có khuynh hướng diều hâu nên không dễ gì chịu thua phe Cộng Sản tại Việt Nam, và rằng Quốc Hội Mỹ lúc đó sẽ có thể tiếp tục, không nhiều thì ít, tiếp tục viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa để giữ vững miền Nam Việt Nam. Một lý do khác, có phần thầm kín hơn, là Tổng Thống Thiệu đã bị kẹt cứng vì lời thề “không nhường đất cho Cộng Sản” trong chủ trương “4 Không,” vốn là quốc sách trước và sau khi Việt Nam Cộng Hòa đặt bút ký vào Hiệp Định Paris 1973.
Thế rồi, khi Cộng Sản Bắc Việt khởi sự cuộc tấn công sau cùng để thôn tính Miền Nam Việt Nam qua việc đánh chiếm Ban Mê Thuột (ngày 12 Tháng Ba, 1975), Tổng Thống Thiệu và Tướng Viên mới gấp rút thực hiện kế hoạch “co cụm” đó, nhưng mọi sự đã quá trễ đi rồi. Hơn nữa, các học viện quân sự lớn trên thế giới (trong đó có cả Trường Bộ Binh Thủ Đức và Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa) đều cho rằng “lui binh” là một chiến thuật hết sức khó thực hiện và rất hiếm khi thành công nếu không có sự chuẩn bị chu đáo.
Lễ Chào Cờ Đầu Tháng 4 Tại Vườn Truyền Thống Việt San Jose.
Kính gửi quý cô chú, bác, anh chị em trong cộng đồng người Việt tự do,
-Tháng Tư lại trở về, tháng của ký ức, của mất mát, và của những nỗi đau chưa bao giờ nguôi trong lòng người Việt tị nạn Cộng Sản.
Nhân dịp kỷ niệm 51 năm biến cố 30 Tháng Tư, chúng tôi trân trọng kính mời quý vị cùng đến tham dự Lễ Chào Cờ đầu tháng Tư tại Vườn Truyền Thống Việt, để cùng nhau tưởng niệm, tri ân, và gìn giữ những giá trị thiêng liêng của tự do.
Buổi lễ không chỉ là một nghi thức, mà còn là dịp để chúng ta cùng nhau nhắc nhớ về một giai đoạn lịch sử đau thương, tưởng niệm những chiến sĩ đã hy sinh, và khẳng định lập trường không thay đổi của người Việt tự do tại hải ngoại.
Thời gian: 9:00 AM – 10:30 AM, Thứ Bảy, ngày 4 tháng 4
Địa điểm: Vườn Truyền Thống Việt (Viet Heritage Garden)
1499 Roberts Ave, San Jose, CA 95122
Do Vietnamese American Roundtable tổ chức, và bảo trợ bởi Nghị viên Biên Đoàn.
Kính mong sự hiện diện của quý vị để cùng nhau thắp sáng tinh thần đoàn kết, tưởng niệm Tháng Tư Đen, và tiếp tục truyền lại lý tưởng tự do cho các thế hệ mai sau.
Sự hiện diện của quý vị là niềm vinh dự và cũng là nguồn động viên lớn lao cho ban tổ chức.
Thay mặt Ban Tổ Chức, trân trọng kính mời.
Sinh Hoạt 30 Tháng Tư Năm Nay, San Jose Có Gì Lạ?
Xin Mời Tham Dự Một Sinh Hoạt Ý Nghĩa Nhất, Nhiều Xúc Động, Đau Thương Nhất! Chạm Vào Trái Tim! Năm Ngoái, Gần 1 Ngàn Người Tham Dự!
Chiều Nhạc Tưởng Niệm Truyền Thống Lần Thứ 2, 51 Năm Tháng Tư Đen, Nhớ Về Hành Trình Đau Thương Của Những “Boat People”, Gần Nửa Triệu Thuyền Nhân Đã Lấy Đại Dương Mênh Mông, Làm Mồ chôn Trên Đường Đi Tìm Tự Đo! Tại Tượng Đài Thuyền Nhân San jose!
*Năm ngoái, gần 1 ngàn người tham dự sinh hoạt ý nghĩa này!
*Đúng vào đêm 30 tháng tư, năm nay, Thứ Năm, 30 Tháng 4, Năm 2026, từ 3 giờ chiều, tới 9 giờ đêm! Tại Đền Thánh Tử Đạo Việt Nam, 685 Singleton Road, San Jose, Ca 95111
Chương trình tưởng niệm 51 năm “Tháng Tư Đen”.
3:00pm – 6:00pm: Chương trình văn nghệ (Trong Hội Trường) do các ca nghệ sĩ nổi tiếng nhất trong vùng và thân hữu của VTLV phụ trách. Có triển lãm nhiều hính ảnh thuyền nhân vượt biển.
6:05pm – 6:45pm: Thánh Lễ cầu nguyện cho những thuyền nhân đã chết trên đường vượt biên, vượt biển, để tìm tự do và những nạn nhân bỏ mình trong chiến tranh.
6:45pm - 8:30pm: Đốt nến cầu nguyện, do nhóm Xóm Nhỏ cùng ca sỹ Diệu Linh phụ trách.
8:00pm tới 9:00pm, mời ăn tối nhẹ, với món bún mộc, hoặc bánh canh giò heo nổi tiếng! chè và nước giải khát!
Vào cửa tự do!
Nhân Tưởng Niệm 51 Năm! Chuyện Kể Hành Trình Kinh Hoàng Trên Biển Đông: Thuyền Nhân Vượt Biển! Đã Đánh Động Lương Tâm Cả Thế Giới, Từ Đó Chữ “Boat People” Dành Riêng Cho Thuyền Nhân VN!
*Gần nửa triệu Thuyền Nhân đã lấy đại dương mênh mông làm mồ chôn! Trên đường trốn chạy cộng sản!
*Thảm cảnh “Boat People” đã làm rung động lương tâm thế giới! Hoa Kỳ bật đèn xanh, Nhiều quốc gia trên thế giới, ồ ạt nhận người tị nạn!
*Thời gian đau thương này, Bắc Cali, dắt đầu trong công tác cứu trợ, Anh Lê Văn Hải, đã cộng tác với Ủy Ban Báo Nguy Cứu Người Việt Biển, qua 6 chiến dịch “Tình Thương Dưới Ánh Mặt Trời” quyên góp trên một triệu đô la, yểm trợ những con tầu Tình Thương ra khơi, cứu vớt trên 3 ngàn Thuyền Nhân đến bến bờ tự do! Những công tác nhân đạo này, đã biến San Jose, có mỹ từ “Thủ Phủ Tình Thương Người Vượt Biển!”
*Anh cũng là Trưởng nhóm Vận Động và Xây Dựng “Tượng Đài Thuyền Nhân” tại San Jose, đã được khánh thành trong Tháng Tư 2024, cách đây đúng hai năm!
-Vậy mà đã 51 năm! sau 75, CSVN đã gieo rắc không biết bao nhiêu tội ác trên quê hương Việt Nam. Có thể nói, trên từng tấc đất, ngọn cỏ, lá cây, hòn đá… của quê hương Việt Nam, dưới mỗi mái gia đình, trong mỗi thân phận người Việt, đều có những dấu ấn đau thương mất mát, ghi lại những tội ác kinh tâm động phách, do người cộng sản gây ra.
Kể từ 30 tháng 4 năm 1975, CSVN đã thực hiện hàng loạt chiến dịch đàn áp, khủng bố, thủ tiêu, bắt bớ… dã man trên khắp lãnh thổ Miền Nam, để một mặt ăn cướp trắng trợn tài sản của người dân, mặt khác, nghiền nát mọi sức đề kháng, chống đối của những người yêu nước, khiến hàng triệu người dân Miền Nam phải vượt biển, vượt biên tìm tự do.
Hậu quả, trong thời gian hơn hai thập niên kể từ sau 1975, hàng trăm ngàn người Việt, trong đó phần lớn là phụ nữ, trẻ em, ông bà già,… đã bị thảm tử trên biển cả, trong rừng sâu, ngoài hoang đảo…. sau khi phải trải qua những bi kịch thương tâm, muôn vạn phần đau đớn. Không những thế, ngay cả với những người sống sót, những bi kịch đó, vẫn còn mãi mãi tiếp tục ám ảnh, giầy vò, tra tấn họ, cho dù họ có sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, có đi đến bất cứ chân trời góc biển nào…không thể nào quên!
“Những câu chuyện Kể Hành Trình Biển Đông”. Là những dòng chữ được viết bằng máu và nước mắt, của chính những người trong cuộc, với tấm lòng xót xa và những giọt nước mắt đau đớn, của những người tỵ nạn cộng sản cùng cảnh ngộ, sẽ hiểu được, tội ác của chánh phạm CSVN, đằng sau muôn ngàn bi kịch ung rợn của người vượt biển. Qua đó, chúng ta sẽ thức ngộ được, lần đầu tiên trong lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc VN, và có thể nói lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, tội ác của một chế độ đối với chính người dân của chế độ, như chế độ CSVN, quả thực đã vượt khỏi biên cương quốc gia, tung hoành trong mỗi gia đình, mỗi cuộc đời, để rồi tiếp tục tràn lan trên khắp bề mặt địa cầu…Thảm cảnh thuyền nhân, đã làm thế giới rung động!
Biến cố tháng 4 năm 1975, khởi đầu một cuộc viễn xứ vĩ đại của hàng triệu người Việt trên những con thuyền mong manh ra biển Đông mưu cầu hạnh phúc. Những thuyền nhân sống sót bởi lòng bác ái của cộng đồng thế giới, đã tạo dựng nền tảng của tập hợp người Việt tha hương khắp nơi. Ước tính hằng triệu người Việt rời bỏ quê hương trên những con thuyền mong manh sau biến cố 1975.
Nhiều năm đã trôi qua, những ai đã từng lênh đênh trên những chiếc ghe thuyền mong manh, thường chỉ được sử dụng đánh cá ven biển, để vượt đại đương đi tìm tự do, họ không thể nào quên được những giây phút hiểm nguy kinh hoàng đã qua, nếu họ may mắn sống sót sau cuộc hải hành tử sinh ấy.
Hoa Kỳ cho biết một vài số liệu đáng quan tâm như sau: “Theo chỗ được biết, thuyền nhân bắt đầu từ sau 1975. Những người di tản từ 1975 thì có những người đi bằng đường thủy, nhưng đa số là người di tản. Phải đến ít nhất là tháng 8, tháng 9 năm 1975, tức là sau khi Cộng Sản vào Sàigòn rồi, mới bắt đầu có những người rời Việt Nam bằng đường biển đến Mã Lai, Thái Lan. Lúc đó không còn người Mỹ đón ngoài biển nữa. Lúc đó, coi như là vượt biên bằng đường biển thực sự. Theo thống kê của các cơ quan nhận được, từ 1975 cho đến 2005, trong 30 năm đã có gần 3 triệu người Việt định cư trên 126 quốc gia trên toàn thế giới. Trong số người đi bằng đường biển có gần 1 triệu người đi vượt biên. Thống kê của các trại tị nạn Đông Nam Á vào năm 1995 là 839.200 người, kể cả 42.900 người đi bằng đường bộ. Có phỏng chừng 3 trăm đến hơn 400 ngàn người đã bị bỏ mình không đi đến được bến bờ tự do.
Chữ “thuyền nhân” thế giới trước đây, thường nghĩ ngay đến những người dân Hồng Kông, sống trên các thuyền bè, 50, 60 năm trở về trước, đến khi có sự kiện người Việt vượt biển: “Kể từ khi có người Việt vượt biển và có biết bao nhiêu người chết, vào các trại tị nạn thì trong tự điển thế giới bắt đầu có chữ mới “thuyền nhân” – “boat people”, và định nghĩa “thuyền nhân” là những người tỵ nạn. Trong tất cả những gia đình người Việt ở hải ngoại, không có một gia đình nào là không có liên hệ với thuyền nhân, trực tiếp hay con cháu của thuyền nhân. Cho nên thuyền nhân là một ý nghĩa chính thức để xây dựng một cách toàn thể cộng đồng của người Việt ở hải ngoại.”
Thời kỳ cao điểm người Việt trong nước vượt biên nhiều nhất là những năm 1979, 1980 trở đi. Trong giai đoạn này, hải tặc Thái Lan bắt đầu hoành hành. Ngoài việc phải chấp nhận sóng gió trên biển cả, họ còn phải đối diện với nạn hải tặc. Không biết bao nhiêu phụ nữ đã bị hãm hiếp, thậm chí bị bắt đi mất tích. Những thanh niên liều mình chống lại hải tặc, đều bị chết thảm thương và xác thì bị quăng xuống lòng biển sâu. Có người thì bị giam giữ nơi sào huyệt của bọn chúng, trên những đảo hoang, nếu không may được cứu thoát, thì không biết số phận sẽ ra sao. Nhà văn Nhật Tiến, một trong những thuyền nhân đã từng là nạn nhân của bọn hải tặc Thái Lan, kể lại: “Tôi vượt biển vào tháng 10 năm 1979. Sau 10 ngày trên biển, tàu chết máy và trôi, sau vài lần bị cướp, cuối cùng bị hải tặc kéo vào đảo Kra, cách bờ biển Thái Lan khoảng 4 giờ tàu chạy. Sau 3 tuần lễ liền, bị nhốt trên đảo, là sào huyệt của hải tặc. Nhóm của tôi có 81 người, trong 3 tuần sau đó thì có thêm 3 ghe thuyền nữa, cũng bị hải tặc kéo vào, tổng số là 157 người. Ngày thứ 21, có một trực thăng của Liên Hiệp Quốc bay qua đảo, phát hiện thuyền nhân bị như vậy, Cao Ủy đã mang thuyền ra để cứu vào đất liền..
Trước thảm cảnh này, Cộng Đồng Việt Nam Họ mau chóng thành lập Ủy Ban Cứu Nguy Người Vượt Biển.” với sự cộng tác của những tấm lòng khắp nơi trên thế giới, như tại Bắc Cali, Có Nguyễn Hữu Lục, Lê Văn Hải.
Vào ngày 27 tháng 2 năm 1980, Ủy Ban Báo Nguy Cứu Người Vượt Biển, tức “Boat People SOS” được chính thức thành lập. Giáo sư Nguyễn Hữu Xương, hiện là giảng viên trường Đại Học San Diego, lúc bấy giờ là chủ tịch Ủy Ban, kể lại: “Lúc đầu, Uỷ Ban chỉ muốn lên tiếng để cho cộng đồng lưu ý chính phủ Mỹ và chính phủ Thái Lan biết để giúp đỡ thuyền nhân chống hải tặc. Nhưng đến năm 1984, 1985 thì thấy hải tặc tàn ác quá, nên chúng tôi mới nghĩ đến chuyện gửi tàu vớt người ngoài biển.”
Cũng vào thời gian ấy, tại Pháp, hội Y sĩ Không Biên Giới, đang tiến hành việc tổ chức đi cứu thuyền nhân Việt Nam, nhưng không ai được ai hỗ trợ về tài chính. Thế là nhân chuyến công tác tại Âu Châu, giáo sư Nguyễn Hữu Xương đề nghị Hội này kết hợp làm việc. Giáo sư Xương kể tiếp về nhiều buổi gây quỹ được tổ chức để ủng hộ cho chiến dịch vớt thuyền nhân: “Lúc ấy cộng đồng ta còn nghèo nàn, chưa có nhiều như bây giờ, nhưng việc vớt thuyền nhân lại rất nhiều. Có người chỉ có 5, 10 đồng nhưng họ hết lòng đóng góp. Trong 5 năm quyên lên đến trên hàng triệu đô la. Không hẳn chỉ ở bên Mỹ, mà còn ở Úc, Canada, ở Pháp. Nơi nào cũng lập ra ủy ban để quyên tiền cho việc vớt thuyền nhân. Vì thế mới gửi được 5 chiếc tàu đi. Một chiếc đi thường là 3 tháng. Trong 5 năm đi được 5 chuyến tàu, cứu được hơn 3000 người. Chúng tôi phải xin visa Âu Châu, hay Mỹ, thì Philippines, hay Malaysia mới nhận thuyền nhân lên. Xin visa là một chuyện rất khó khăn, chính phủ Pháp và Đức thì có nhiều visas. Chính phủ Mỹ thì không cho visa, nhưng giúp bằng cách là khi thuyền nhân được vớt lên trên đảo Palawan, Philippines, nếu có gia đình bên Mỹ thì chính phủ Mỹ sẽ nhận. Vì thế, visa còn lại sẽ được dùng để cứu thêm người.”
Theo như các tài liệu và thông tin của tổ chức Ủy Ban Báo Nguy Cứu Người Vượt Biển SOS, vào tháng 3 năm 1989, để chặn bớt làn sóng người vượt biên, Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đã ra chính sách thanh lọc tại các trại tỵ nạn Đông Nam Á, bắt đầu giai đoạn đóng cửa trại tị nạn.
Đồng thời lúc ấy, Hoa Kỳ cũng bắt đầu có chương trình di dân “ODP” (Orderly Departure Program), “HO” (Humanitarian Operation) và chương trình “Con lai” (Amerasian Resettlement Program). Trong thời gian đó, “người ta thấy đi bằng thuyền chết chóc nhiều quá, rồi ở trại tỵ nạn không được giải quyết, nên người ta cho chương trình “Ra Đi Có Trật Tự” thì mới giải quyết được bằng các diện người “Đoàn Tụ Gia Đình”, “HO”, hay “Con lai”. Ngay cả những người đến trại tỵ nạn rồi bị trở về Việt Nam cũng được Mỹ cho tái định cư theo chương trình gọi là “ROVR” (Resettlement Opportunity for Vietnamese Returnees)”.
Sau tháng 3 năm 1989, các trại tị nạn đóng cửa và bắt đầu chính sách thanh lọc. Tiến trình thanh lọc này có rất nhiều sai trái, bởi vì ý định của họ là loại bỏ thuyền nhân, giam giữ họ lại trại tị nạn, để làm bàn đạp đẩy họ về Việt Nam. Phần lớn thuyền nhân có rất nhiều kinh nghiệm đau khổ về chế độ Cộng Sản, mặc dù bị đàn áp nặng nề, nhưng vẫn bị mất quyền tị nạn.
Sau khi các trại tị nạn đóng cửa và bắt đầu chính sách thanh lọc, không còn visa vào các quốc gia, thảm cảnh thuyền nhân, được thế giới đóng lại, qua các chương trình định cư khác!
Để biết thêm về hành trình đau thương này, xin tham dự:
Giới Thiệu Một Sinh Hoạt Đặc Biệt Nhất, Nhân Mùa Tưởng Niệm 51 Năm Tháng Tư Đen, Hành Trình Kinh Hoàng Của Những Thuyền Nhân Việt, Gần Nửa Triệu Đã Chìm Xuống Biển Sâu! Và Kỷ Niệm 2 Năm San Jose, Có Tượng Đài Thuyền Nhân!
Đúng Ngày, Thứ Năm, 30 Tháng 4 Năm 2026, Tại Đền Thánh Tử Đạo Việt Nam, năm ngoái, đã có gần hàng ngàn người tham dự! Đủ thấy chương trình, rất xứng đáng tham dự! Tại 685 Singleton Road, San Jose, Ca 9511.
Thay mặt Nhóm Vận Động Và Xây Dựng Tượng Đài Thuyền Nhân San Jose
Lê Văn Hải.
THƯ MỜI THAM DỰ LỄ CHÀO QUỐC KỲ VÀ LỄ RŨ KỲ VIỆT NAM CỘNG HÒA
Kính Thưa Quý Cơ Quan Truyền Thông, Truyền Hình và Báo chí,
-Việc tổ chức Lễ Rũ Kỳ nhân Tháng Tư Đen là một sinh hoạt mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản, nhằm tưởng niệm biến cố lịch sử ngày 30 tháng 4 và tôn vinh những hy sinh cho tự do.
Năm nay, Lễ Rũ Kỳ được tổ chức với sự bảo trợ của Giám Sát Viên Betty Dương. Theo đó, quốc kỳ sẽ được treo rũ trong thời hạn một tháng, bắt đầu từ Thứ Tư, ngày 01 tháng 4 năm 2026 đến hết ngày 30 tháng 4 năm 2026.
Do ngày 01 tháng 4 năm 2026 không rơi vào dịp cuối tuần, Ban Tổ Chức trân trọng kính đề nghị quý cơ quan truyền thông, truyền hình cùng các cơ quan báo chí hỗ trợ phổ biến rộng rãi thông tin, đồng thời kêu gọi đồng hương sắp xếp thời gian tham dự các sinh hoạt tưởng niệm.
Sự hiện diện và tham gia của quý đồng hương là nguồn động viên to lớn, góp phần gìn giữ và phát huy ý nghĩa lịch sử của Tháng Tư Đen trong lòng cộng đồng người Việt hải ngoại.
Trân trọng
Hà Triệu
Cáo Phó Gia Đình Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét