Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2026

TƯỚNG NGÔ QUANG TRƯỞNG TRỞ LẠI CHIẾN TRƯỜNG XƯA… - Nguyễn Công Khanh

Hai vị dũng tướng, Marcel Bigeard của Quân Đội Viễn Chinh Pháp và Tướng Ngô Quang Trưởng của Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà, cùng bại trận trong hai cuộc chiến mà lần nào cũng làm thay đổi vận mạng của Việt Nam. Hai ông cùng có ý nguyện cuối cùng là sau khi qua đời, tro của mình sẽ được đem về rải tại chiến trường xưa. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng (1927-2007). Sinh tại Kiến Hoà, ông xuất thân là một sĩ quan tốt nghiệp Khoá 4 Thủ Đức năm 1954. Ngay sau khi ra trường, ông gia nhập binh chủng Nhảy dù cho đến năm 1966, từ cấp Đại Đội Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng rồi Tham Mưu Trưởng của Sư Đoàn Dù. 
<!>
Sau đó binh nghiệp của ông gắn liền với miền Trung, vùng địa đầu giới tuyến cho đến khi triệt thoái, qua các chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ binh, Quân Đoàn I, Quân Khu 1. Những lần được thăng cấp của ông đều dựa vào công trận. Ông có ba tác phẩm ghi lại các kinh nghiệm trong chiến tranh Việt Nam được tàng trữ trong Trung Tâm Quân Sử Quân Lực Hoa Kỳ (U.S. Army Center of Military History).

Ông đã được gọi là Người Hùng Quảng Trị, một vị Tướng thanh liêm. Sau 1975, ông đến Hoa Kỳ, sống lặng lẽ tại tiểu bang Virginia cho tới khi qua đời. Ý nguyện cuối cùng là tro của ông được đem về rải trên đỉnh đèo Hải Vân. Gia đình ông đã làm tròn ý nguyện đó.

Hãy tưởng tượng một lần nữa. Sáng hôm đó, một chiếc xe van chạy từ phía Đà Nẵng leo lên đèo Hải Vân. Lúc lên tới đỉnh, đến một chỗ đậu sát bên đường, gần chỗ tháp canh cổ được xây từ thời vua Minh Mạng. Phía dưới là rừng xanh, xa là biển rộng. Cả gia đình gồm một bà mẹ và mấy người con xuống xe. Trên áo họ đeo mảnh vải đen, dấu hiệu của tang chế. Một người con, có lẽ là con cả, hai tay ôm một chiếc bình gốm. Họ đi đến một mỏm đất cao, nhìn ra biển Thái Bình bao la. Một người con khác thắp hương, đưa cho mỗi người một nén. Họ bắt đầu đọc kinh, Kinh Bát Nhã. Tiếng kinh của họ thoảng bay trong gió. Bài kinh được đọc xong, người con cả đưa hũ tro đến cho mẹ và các em.

Mỗi người bốc một nắm nhỏ, ngần ngừ như lưu luyến, rồi họ tung ra phía biển. Tiếng kinh lại thầm thì vang lên quyện vào với khói hương trầm như những tiếng gọi vong hồn tử sĩ. Một cơn lốc từ đâu thổi đến, mang theo những âm vang từ lòng đất, cơn lốc đã cuốn khói hương và tro của Tướng Trưởng bay về phía giới tuyến, nơi ông đã nhiều lần hành quân, lội bộ, ngồi quân xa hay trên trực thăng cùng các chiến hữu trong những trận chiến khốc liệt mà bao nhiêu đồng đội của ông gục ngã. Hôm đó ông đã trở về với họ.

Nếu có dịp đi xe lửa Xuyên Việt Bắc Nam, người ta sẽ thấy có rất nhiều nghĩa trang lính cộng sản nằm dọc hai bên đường sắt, với những hàng mộ trắng thẳng tắp và kỳ đài tưởng niệm được chăm lo chu đáo. Trong khi đó không còn thấy đâu nghĩa trang của những người lính Cộng Hoà miền Nam. Bức tượng người lính an nghỉ Tiếc Thương và cả nghĩa trang Biên Hoà cũng bị phá nát. Quốc Hội Mỹ đã thu hồi $1 triệu trợ giúp kỹ thuật hỗ trợ tìm các binh sĩ hai bên mất tích trong trận chiến tranh vừa qua, vì nhà cầm quyền Việt Nam từ chối không chịu tìm những binh sĩ miền Nam.

Nhìn lại thế giới, các cuộc nội chiến như Bắc-Nam của Mỹ, Đông và Tây Đức sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, họ giải quyết khá nhanh, không gây những di hại hận thù dai dẳng. Ngay như giữa Mỹ và Nhật, hồi Thế chiến thứ hai, họ đập nhau chí tử, nhưng sau chiến tranh, kẻ thua người thắng sát lại với nhau. Điều đó giúp cho Nhật Bản trở lại vai trò cường quốc. Như tinh thần thượng võ của hai võ sĩ quyền Anh, cùng ra sức giáng những cú thôi sơn lên mặt nhau, mắt mũi sưng vù, nhưng sau trận đấu, họ thường đến ôm lấy nhau. Chắc đó hẳn là cái văn hoá chiến tranh của phương Tây.

Việt Nam đến nay, gần 50 năm rồi, thù hận giữa thắng và bại vẫn chưa xong. Bắc Hàn, Nam Hàn không biết đến bao giờ, Cam Bốt đã giải quyết gần xong. Có thể do ảnh hưởng độc hại của “văn hoá cầm quyền” của Trung Hoa, khi người ta luôn nuôi thù hận giữa các triều đại, bằng cách tru di tam tộc, nhổ cỏ nhổ tận gốc, phân chia giai cấp, bần nông đấu tố địa chủ v.v… Cái bóng ma Trung quốc vẫn còn phủ trùm lên các chư hầu Á Châu, không những họ không thoát ra được mà các chư hầu còn đi xa hơn cái văn hoá thâm độc đó, bằng những từ “ngụy quân, ngụy quyền”, cải tạo, diệt tư sản, đẩy người ra biển để trục lợi. Cam Bốt lại còn đi quá xa bằng cách diệt chủng: Hai triệu người vô tội đã chết một cách dã man…

Cuộc chiến tranh triền miên là cuộc nội chiến tàn hại nhất lịch sử Việt Nam. Bao nhiêu người đã chết, hận thù vẫn chưa tiêu. Hai bên đều bị hai thế lực bên ngoài trực tiếp hay gián tiếp thúc đẩy để tương tàn, sát hại lẫn nhau. Chiến thắng Điện Biên Phủ tưởng sẽ đem lại cho miền Bắc hạnh phúc ấm no, trái lại người dân vẫn bị trầm luân trong cảnh đói khổ bao cấp suốt hơn hai mươi năm trời kế tiếp.

Rồi đến, “Đại thắng mùa Xuân”, đất nước thống nhất, đói khổ trầm luân vẫn tiếp tục và biết bao nhiêu thảm cảnh mới lại tiếp tục xảy ra, hàng trăm ngàn sĩ quan miền Nam bị đưa đi tù đầy cải tạo, gia đình ly tán. Triệu người vượt biển tìm tự do và hàng trăm ngàn mạng người đã vùi thân dưới biển sâu. Phải đợi đến hai mươi năm sau khi lệnh cấm vận được bãi bỏ, đất nước mới có cơ hội thay đổi và phát triển, nhưng đồng thời lại gây nên bao tệ trạng xã hội trầm trọng, không thuốc chữa và vẫn không thoát khỏi nguy cơ Bắc thuộc, mất đất mất biển.

Tướng Trưởng đã trở về cùng với các đồng đội của ông. Tro tàn của ông hẳn đã bay đến bên các nấm mộ các binh sĩ, các dũng tướng anh hùng đã tuẫn tiết trong giây phút cuối cùng. Tro của ông chắc cũng đã bay đến bên những nấm mộ của các sĩ quan tàn lụi trong các trại cải tạo. Cùng nhau họ đã viết một thiên bi hùng ca cho những người lính thất trận miền Nam.

Bài viết có tham khảo bài Rải Tro Theo Gió của nhà văn Nguyễn Tường Thiết thuật lại việc rải tro Tướng Ngô Quang Trưởng vào mùa Hè 2008.

Nguyễn Công Khanh

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét