Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Hai, 23 tháng 2, 2026

Bùi Văn Phú: - Chào Bính Ngọ 2026, nhìn lại Ất Tỵ 2025


Little Saigon Quận Cam, California là trung tâm thương mại, văn hoá và chính trị của người Việt tại Hoa Kỳ (Ảnh: Bùi Văn Phú) Đầu năm ngoái, ngày Mồng Một Tết Ất Tỵ, rơi vào ngày 29/1/2025, tôi có mặt tại thủ đô của người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ là Quận Cam, miền nam California nắng ấm. Trưa hôm đó nhiều nghìn người đổ về thương xá Phước Lộc Thọ ở thành phố Westminster để xem đốt pháo và ca nhạc mừng xuân. Xác pháo đỏ tung bay, mùi khói, tiếng nổ liên thanh và những tà áo dài phất phới mang lại không khí tết rất Việt Nam tại Hoa Kỳ.
<!>
Từ thương xá đi bộ trên đường Bolsa là thấy trước cửa hàng bánh mì Lee’s hàng chữ to mầu đỏ “Chúc Mừng Năm Mới” và hình tượng bánh chưng, bánh tét, dưa hấu, bày dọc theo lối đi bên đường. Quẹo trái vào Moran, đến cuối đường là toà soạn báo Người Việt, trước cửa cũng ngập xác pháo và bên trong phòng hội vừa có tiệc Tết với nhân viên toà soạn và nhiều khách mời của chủ nhiệm.

Có thể nói thương xá Phước Lộc Thọ, khai trương năm 1987, công ty bánh mì Lee’s khởi nghiệp từ những chiếc xe bán thức ăn trưa và nhật báo Người Việt, tờ báo tiếng Việt lớn nhất ở hải ngoại, phát hành số đầu tiên là tuần báo vào tháng 12 năm 1978, là tiêu biểu cho sự phát triển bền vững của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ trong lãnh vực thương mại, truyền thông và văn học nghệ thuật tại Mỹ từ năm 1975.

Quận Cam, nơi các thành phố Westminster, Garden Grove đã và đang có thị trưởng và nhiều nghị viên gốc Việt trong nhiều thập niên qua, từ khi ông Tony Lâm được bầu chọn vào hội đồng thành phố Westminster năm 1992, là dân cử gốc Việt đầu tiên tại Hoa Kỳ.

Ở đây nay đã có Dân biểu Liên bang gốc Việt đầu tiên trong Quốc hội Mỹ là Derek Trần, theo đảng Dân chủ, được bầu chọn trong kỳ bầu cử tháng 11/2024. Ông là người gốc Việt thứ ba và hiện là dân cử duy nhất trong lập pháp liên bang, sau Dân biểu Joseph Cao Quang Ánh, theo đảng Cộng hoà bang Louisiana, phục vụ 2 năm và Stephanie Murphy, tên Việt là Đặng Thị Ngọc Dung, người của đảng Dân chủ từ bang Florida, phục vụ 6 năm.

Từ vùng Vịnh San Francisco, tôi đến Quận Cam để dự buổi hội thảo tại Đại học U.C. Irvine về trải nghiệm ở Guam, được phối hợp tổ chức của giáo sư Evyn Lê Espiritu–Gandhi, Đại học U.C. Los Angeles, giáo sư Tiara Na’puti của trường khoa học xã hội và cô Julia Huỳnh từ Văn khố Đông Nam Á tại Đại học U.C. Irvine.
Hội thảo về trại tị nạn ở Guam năm 1975, Đại học U.C. Irvine 30/1/2025 (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Hội thảo, triển lãm mang chủ đề “Remembering Saigon: Journeys through and from Guam” – Nhớ Sài Gòn: hành trình đến và đi từ Guam – với diễn giả là bác sĩ H. Bryant Nguyễn từ Đại học Loma Linda; cựu chiến binh Thomas Perez, gốc dân bản địa Chamorro từ Guam, đã làm việc trong chiến dịch “Đời Sống Mới” – Operation New Life, và tôi.

Bác sĩ Bryant theo gia đình đến Guam và sau khi được định cư, tốt nghiệp bác sĩ ông đã nhiều lần trở lại giúp đảo về y tế và huấn luyện nhân viên cho bệnh viện.

Cựu chiến binh Thomas nhớ lại những ngày ông phục vụ trong quân đội vào thời chiến tranh và khi cuộc chiến kết thúc ông có cơ hội tiếp xúc và giúp người Việt được di tản đến Guam.

Tôi kể lại đời sống trong trại Orote Point, khi đó được gọi là Tent City, với hàng vạn người tị nạn Việt sống trong lo âu vì người thân thất lạc, ai đi được, ai còn kẹt lại và không biết tương lai sẽ trôi dạt về đâu.

Trong số 130 nghìn người Việt được di tản ra khỏi Việt Nam vào tháng 4 năm 1975, 111 nghìn đã đến Guam, số còn lại qua đảo Wake.

Tham dự hội thảo hầu hết là sinh viên và cũng có một số từ cộng đồng Việt, trong đó tôi nhận ra ông Tony Lâm, người đã làm quản trại Orote Point ở Guam vào năm 1975.

Tại nơi triển lãm trong thư viện đại học, người xem có cơ hội biết đến câu chuyện của những người được di tản khỏi Việt Nam năm 1975 như tôi, như gia đình bà ngoại của giáo sư Evyn L.E. Gandhi, như Nghị viên Tony Lâm, bác sĩ H. Bryant và nhiều người khác đã đến Guam và được chính phủ Hoa Kỳ, thống đốc và cư dân đảo Guam, giúp đỡ trong thời gian tạm trú ở đó.

Trong bài nói chuyện, tôi nhắc đến sự kiện là để ghi ơn những người lính Hải quân, các chiến binh Mỹ và cư dân Guam, mấy năm trước người Việt tại Hoa Kỳ đã gây quĩ đóng góp 150 nghìn đôla cho việc xây dựng tượng đài Lone Sailor – Người Thuỷ thủ Cô đơn – đặt tại nơi một thời từng có lều trại đón người tị nạn.

Hành trình đến và đi từ Guam còn được tiếp tục kể lại trong các buổi hội thảo kế tiếp cũng được tổ chức tại Đại học U.C. Irvine. Như sự kiện 1600 người Việt đã quyết định rời Guam hồi hương trên con tàu Việt Nam Thương Tín vào tháng 10/1975 để rồi phải đi học tập cải tạo. Thuyền trưởng Trần Đình Trụ, cựu trung tá hải quân, ghi lại những tranh đấu của người tị nạn để được hồi hương trong tác phẩm “Việt Nam Thương Tín – Con tàu định mệnh” đã được Jana K. Lipman và giáo sư Trần Hoài Bắc dịch ra tiếng Anh có tựa “Ship of Fate” và hai dịch giả tham gia hội thảo đã kể lại tiến trình dịch thuật tác phẩm qua nhiều lần tiếp xúc với tác giả.

Sau hội thảo mở đầu cho năm 2025 kỷ niệm 50 năm Cộng đồng người Mỹ gốc Việt tổ chức tại Đại học U.C. Irvine là hàng loạt sinh hoạt khác tại nhiều nơi.

Giữa tháng Tư có hội nghị tại Đại học Công nghệ Texas (Texas Tech University) ở Lubbock với nhiều diễn giả là giáo sư đại học, nghiên cứu sinh từ nhiều đại học cùng những nhà báo, nhà văn, nhạc sĩ, nhà hoạt động từ cộng đồng người Việt.

Chủ đề của hội thảo là “1975: The End of the Vietnam War” – 1975: Kết thúc Chiến tranh Việt Nam – được tổ chức từ ngày 10 đến 13/4 với nhiều diễn đàn cho các đề tài khác nhau trong 30 buổi thảo luận, từ chủ đề về người lính của mọi phía trong chiến tranh, chính sách học tập cải tạo sau chiến tranh, đời sống xã hội cho đến tôn giáo, văn học, nhân quyền.

Theo tôi, diễn giả danh dự – keynote speaker – Amanda C. Demmer, tác giả của sách “After Saigon’s Fall: A 50-Year Retrospective” – Sau khi Sài Gòn sụp đổ: nhìn lại 50 năm – đã tóm tắt trung thực lịch sử cận đại của Việt Nam, từ những trở ngại trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, mà những vấn đề khó khăn là bộ đội cộng sản Việt Nam ở Campuchia, những người lính Mỹ còn mất tích POW–MIAs, rồi tù cải tạo và con lai còn ở Việt Nam; cho đến thuyền nhân vượt biển, xử lý chất độc da cam, hồ sơ nhân quyền của Hà Nội.

Diễn giả danh dự, giáo sư Amanda C. Demmer thuyết trình về quan hệ Mỹ–Việt 1975–2000, Đại học Texas Tech, Lubbock tháng 4/2025 (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Nhìn về Việt Nam trong tương lai, tại hội nghị giáo sư Stephen Young nhiều lần phát biểu ông tin tưởng vào sự cởi mở sẽ có trong chính sách của Tổng Bí thư Tô Lâm, trong khi học giả Jay Veith cho rằng Tô Lâm gốc công an thì không có hy vọng ông sẽ đem lại sự đổi mới cho Việt Nam.

Ngày 27 tháng Tư 2025 có chương trình hội ngộ trên hàng không mẫu hạm Midway do Bảo tàng Di sản Người Việt – Vietnamese Heritage Museum – phối hợp tổ chức. Con tàu này nay không còn sử dụng và là một bảo tàng neo bến ở San Diego. Hàng nghìn người đã đến đây trong một buổi lễ ghi dấu 50 năm cuộc di tản khỏi Việt Nam, khi đó con tàu sân bay Midway đã đón những chuyến trực thăng di tản đáp xuống và cứu vớt hàng nghìn người trên những chiếc thuyền mong manh ra đi từ bờ biển Việt Nam. Tất cả đã có 3100 người Việt được đưa lên Midway trong cuộc di tản năm 1975.

Tháng 9 tại Đại học U.C. Berkeley có hội nghị chủ đề: “The Challenges of Peace: US–Vietnam Relations since 1975” – Những thách thức của hoà bình: quan hệ Mỹ–Việt từ 1975. Một lần nữa, nhiều học giả khắp nơi lại qui tụ trên diễn đàn học thuật để trình bày những nghiên cứu, góc nhìn về quan hệ giữa hai nước từng là thù nghịch trong chiến tranh.

Tôi chú ý đến buổi nói chuyện về xã hội dân sự với ba diễn giả: tiến sĩ Thuỷ Nguyễn, điều hợp viên; nghiên cứu sinh ban tiến sĩ Đinh Phương Thảo và nhà hoạt động bảo vệ môi trường Hoàng Thị Minh Hồng, người bị Hà Nội bắt giam vào tháng 5/2023 với cáo buộc trốn thuế. Theo các tổ chức nhân quyền thì đó chỉ là cái cớ nhà nước đưa ra để ngăn chặn những lên tiếng cho môi trường của cô. Trước áp lực quốc tế và sự can thiệp của các tổ chức nhân quyền, ngay trước khi Chủ tịch nước kiêm Tổng Bí thư Tô Lâm sang Mỹ vào tháng 9/2024 Hà Nội trả tự do cho cô Hồng và đến tháng 12 cô và gia đình được cho qua Mỹ sinh sống. Cô Thảo và cô Hồng cho biết những nhà hoạt động xã hội dân sự ở Việt Nam nay chẳng còn mấy ai, vì hầu hết nếu không ở tù thì cũng đã ra nước ngoài, các tổ chức xã hội dân sự đều bị nhà nước kiểm soát và sứ quán các nước cũng không còn quan tâm nhiều đến những người hoạt động như trước đây.

Như muốn ám chỉ việc Hà Nội còn cho người theo dõi hoạt động của diễn giả ở nước ngoài, trước khi trình bày bài tham luận cô Thảo đã hỏi trong hội trường có ai là công an hay không, làm nhiều người ngạc nhiên.

Sự kiện Tổng thống Donald Trump không cho nhân viên ngoại giao Mỹ tại Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh tham gia liên hoan ăn mừng chiến thắng của cộng sản Hà Nội là một biến cố đáng chú ý. Cũng như việc Hà Nội mời các toán quân Trung Quốc tham gia diễu hành kỷ niệm 50 năm chiến thắng cũng là một điểm gây chú ý.

Cuối tháng 11/2025, Bảo tàng Di sản Người Việt lại tổ chức hội thảo tại Bảo tàng Bower, thành phố Santa Ana với chủ đề “Từ di tản đến di sản: 50 năm hành trình người Mỹ gốc Việt” gồm nhiều diễn giả trình bày các tham luận về những đóng góp của người Việt cho nước Mỹ trong nhiều lãnh vực qua nửa thế kỷ.

Hội thảo chủ để “Nhịp cầu nối kết các thế hệ” tại Bảo tàng Bower, Santa Ana 23/11/2025 (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Gây chú ý là buổi nói chuyện chủ đề “Nhịp cầu nối kết các thế hệ” với các diễn giả gồm cựu phó thị trưởng Garden Grove Thu-Hà Nguyễn, tiến sĩ Pauline Đồng phụ trách dạy Việt ngữ tại Trung học Phổ thông Westminster, Diễn viên Quyên Ngô, giám đốc điều hành VietRise Tracy La, Jolynna Đặng từ Đại học Cộng đồng Golden West. Điều hợp chương trình là tiến sĩ Duyên Bùi, Đại học Hawaii.

Nhiều chú ý dành cho cô Tracy vì trong một sinh hoạt của VietRise gần đây đã có hình Hồ Chí Minh và các bạn bàn về thành công của Cách mạng tháng 8 năm 1945 mà nhiều người Việt cho rằng đó chỉ là một cuộc cướp chính quyền của cộng sản Việt Nam. Vì sự kiện này cô đã bị phản đối, bị rút lời mời tham gia một hội thảo giáo dục của Sở Giáo dục Quận Cam cách đây mấy tháng.

Tại hội thảo ngày 23/11, dù có ý kiến trong cộng đồng cũng đề nghị không cho VietRise tham gia, nhưng ban tổ chức quyết định vẫn giữ lời mời VietRise đến dự.

Tracy nói về lý tưởng của cô từ những ngày còn là sinh viên Đại học U.C. Irvine và sự thành lập VietRise để tranh dấu cho dân sinh, dân quyền. Từ nhiều năm qua, hoạt động của VietRise có khuynh hướng theo đảng Dân chủ để bảo vệ người nghèo, bảo vệ người không nhà, bảo vệ di dân và chống hoạt động của ICE từ năm 2018.

Theo tôi nhận thấy, VietRise có quan điểm cực tả và sự kiện đưa hình Hồ Chí Minh để nói về Cách mạng tháng Tám thì cũng như tổ chức PIVOT, ủng hộ đảng Dân chủ, từ vùng Vịnh San Francisco, trước đây đã đưa hình Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Định của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam lên mạng của tổ chức trong Ngày Phụ nữ Việt Nam 8/3.

Trong phần thảo luận, tôi hỏi là trong sinh hoạt của VietRise có thảo luận về lịch sử Việt Nam, theo cô thì lịch sử nào được bàn luận tới. Cô Tracy nói lịch sử Việt như có trong sách cho sinh viên tại các đại học Hoa Kỳ. Cô nói rằng chúng ta nói về chính sách thực dân đối với người Palestine ở Gaza thì sao lại không thể nói về chính sách chống thực dân trong lịch sử Việt Nam. Về chính sách di dân, cô chỉ trích, tuy không nêu tên, vị dân biểu gốc Việt ở Quận Cam đã bỏ phiếu tăng ngân sách cho ICE.

Về văn hoá, Jolynna Đặng nói đến Tổng hội Sinh viên Nam California với thành tích 43 lần tổ chức hội chợ Tết cho cộng đồng. Mỗi năm có vài trăm sinh viên, học sinh tình nguyện làm việc giúp ban tổ chức để quảng bá văn hoá Việt. Sự kiện đó nói lên ý chí của các em trong việc duy trì truyền thống văn hoá cội nguồn tại Hoa Kỳ.

Về tiếng Việt tại hải ngoại, vì là một nhà báo nên tôi quan tâm đến cách sử dụng ngôn ngữ, là tiếng Việt tôi đã học dưới mái trường Việt Nam Cộng Hoà, hay tiếng Việt đã thay đổi trong 50 năm qua. Tôi nêu câu hỏi cho tiến sĩ Pauline Đồng, đang giảng dạy tiếng Việt tại trường trung học Westminster, rằng sách giáo khoa nào được cô dùng cho lớp.

Tiến sĩ Pauline cho biết tài liệu giảng dạy cô dùng là sách giáo khoa xuất bản tại Hoa Kỳ. Nhưng khuynh hướng dùng tiếng Việt nào gọi là chuẩn thì khó có câu trả lời chính xác và AI trong tương lai sẽ cho ra loại tiếng Việt nào được dùng nhiều nhất.

Với cách tiếp cận qua nhiều đề tài đã được thảo luận tại hội nghị, thiết nghĩ cộng đồng người Việt cần có nhiều buổi hội thảo mang tính đại chúng để người Việt trong những lứa tuổi khác nhau, có những quan điểm không đồng nhất có thể lắng nghe, trao đổi và đối thoại với nhau.

Trong năm qua, bức hình “Napalm Girl” cũng đã khơi lại tâm thức chiến tranh Việt Nam. Tấm hình từng đạt giải Putlizer nhưng nay có người đưa ra những nghi ngờ về tác giả của nó. Đó là phóng viên ảnh Nick Út như mọi người đã biết hay thực sự là của nhà báo tự do Nguyễn Thanh Nghệ? Phim tài liệu The Stringer của đạo diễn Bảo Nguyễn, được chiếu trên Netflix đã soi rọi vào sự kiện xảy ra năm 1972 và đặt nghi vấn Nick Út không phải là người đã chụp tấm ảnh này.

Một phim tài liệu khác, “On healing land, birds perch – Đất lành, chim đậu” cũng từ một tấm hình chụp trong chiến tranh ở Việt Nam với Tướng Nguyễn Ngọc Loan xử bắn một đặc công Việt Cộng trên đường phố Sài Gòn năm 1968, đạo diễn Naja Phạm Lockwood đã đưa những người có liên quan đến bức ảnh đó vào phim, là người thân của cán bộ Việt Cộng Nguyễn Văn Lém, bị tướng Loan bắn vào đầu, và Phó Đề đốc Hải quân Hoa Kỳ Nguyễn Từ Huấn, là đứa bé sống sót khi cả gia đình ông đã bị Lém tàn sát không lâu trước đó. Phim cho thấy chấn thương tâm lý do cuộc chiến gây nên còn âm ỉ trong tâm trí nhiều người.

Cũng như phim “Vietnamerica”, của Nancy Bùi được chiếu cùng lúc trong ngày 18/11/2025 tại 26 đại học trên toàn nước Mỹ, về hành trình của võ sư Nguyễn Văn Hoá đi tìm kiếm vợ và con mất tích trên đường vượt biển mà không tìm ra. Dù ông cố gắng quên đi nhưng vết thương lòng vẫn còn đó.

Nhìn lại lịch sử Việt Nam trong thế kỷ qua, với chiến tranh và xung đột ý thức hệ thì hệ luỵ của nó cho đến nay vẫn là những vết thương thỉnh thoảng lại nhức nhối đau.

Qua lãnh vực văn hoá, có triển lãm “The Vietnamese Áo Dài in a Time of War: Fashion, Citizenship, and Nationalism (1954 – 1975)” từ tháng 10 đến tháng 12 tại Đại học Holy Cross, Boston do các giáo sư Ann Marie Leshkowich, Martina ThụcNhi Nguyễn và Tường Vũ tuyển chọn, trong đó có áo dài của bà Ngô Đình Nhu, bà Nguyễn Văn Thiệu, bà Nguyễn Cao Kỳ.

Nhiều chương trình văn nghệ nhớ về Sài Gòn, về quê hương cũng như hành trình vượt biên, vượt biển đã được tổ chức tại nam và bắc California vào tháng Tư. Các đài phát thanh, truyền hình cũng có những chương trình đặc biệt để ôn lại lịch sử của người Việt tị nạn.

Về văn học, trong tháng Tư các tác giả gốc Việt ở hải ngoại, viết bằng tiếng Anh, như Nguyễn Thanh Việt, Lan Dương, Nguyễn Phan Quế Mai, Aimee Phan, Lan Cao, Isabelle Thuy Pelaud đã có những buổi nói chuyện về văn học của người gốc Việt trong dòng chính tại vùng Vịnh San Francisco và Los Angeles.

Những ngày cuối năm, tại Đại học U.C. Berkeley có buổi gặp gỡ do mạng văn học Gió–O, của nhà văn Lê Thị Huệ, tổ chức nhân dịp tạp chí ngôn ngữ–văn chương này giới thiệu tuyển tập “50 Năm Văn Chương Tiếng Việt Hải Ngoại” với bài vở của trên 20 tác giả. Trong năm qua trang mạng này đã giới thiệu loạt bài và hôm 21/12 có buổi họp mặt để đọc thơ, xem tranh và nghe Nguyễn Thuỵ Đan, nghiên cứu sinh ban tiến sĩ từ Đại học Columbia, nói về văn học hải ngoại. Theo ông, thật khó định nghĩa thế nào là văn học hải ngoại, so với hải nội, nguyên văn chữ ông dùng. Đó là những gì được viết ở nước ngoài trong 50 năm qua, hay đó là sự nối dài của văn học Việt Nam Cộng hoà từ khi quốc gia này được thành lập năm 1955. Hay xa hơn nữa là từ khi văn học Việt Nam bị ảnh hưởng của trào lưu văn chương tiền chiến từ thập niên 1930? Một đề tài hấp dẫn và sẽ gây tranh luận.

Nguyễn Thuỵ Đan nói về văn học hải ngoại trong buổi sinh hoạt của Gió–O tại Đại học U.C. Berkeley 21/12/2025 (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Trở lại với hội thảo đầu tiên trong năm liên quan đến trại tị nạn ở Guam. Một người quen của tôi cũng từng ở đó khi biết về việc gây quỹ xây dựng tượng đài Lone Sailor, bà và gia đình đã đóng góp và mong có tên trên những viên gạch được đặt quanh tượng đài để lưu lại cho con cháu biết về hành trình rời bỏ quê hương. Về những buổi gây quỹ, tôi đã tường thuật trên VOA và RFA tiếng Việt vào đầu năm 2018 và có ghi lại điều lệ đóng góp của ban tổ chức.

Tôi hỏi hai người đã lo gây quỹ trong vùng San Jose về danh sách những người đóng góp những viên gạch, một nghìn đôla một viên, để xây tượng đài và vì sao cho tới nay cũng không thấy có những hàng gạch ghi tên bên tượng đài. Cô Tana Thái Hà nói danh sách đó do Hải quân Hoa Kỳ giữ và là “bí mật quốc phòng”. Tôi thắc mắc, cô là người đứng ra tổ chức một sự kiện mang tính quần chúng, công khai gây quỹ và kêu gọi đóng góp thì sao lại là chuyện bí mật. Tôi đi tìm và đã có được danh sách đó.

Nêu cùng câu hỏi với cô Phạm Thanh Nga, một người cũng đã đứng ra gây quỹ cho dự án, cô cho biết đang cộng tác với Phó Đề đốc Hải quân Nguyễn Từ Huấn để thực hiện việc ghi tên theo đúng ý nguyện của những ai đã đóng góp trong việc gây quỹ, trong đó có gia đình tôi.

Bùi Văn Phú

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét