Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2026

LAN MAN NHỮNG NGÀY CUỐI NĂM… - Lee Chiba


Đông đã về, con đường trước nhà phủ một lớp tuyết bông trắng tinh như thảm bông gòn. Bầu trời xám xịt những đám mây đông trông đã thấy lạnh. Mỗi lần đông đến lại thấy sợ! Sợ cái lạnh tê tái tái minus 10, minus 20. Thành phố như cái tủ lạnh khổng lồ chứa hàng triệu người lẫn trốn trong những cái hộp kiếng, hộp gạch... Đêm đông, sợ cái nỗi cô đơn bất chợt đến. Nhớ da diết SàiGòn nắng ấm của một chiều dạo phố Lê Lợi. Nhớ cuốn bò bía và ly nước mía Viễn đông...Những ngày cuối năm sống lại với những rộn ràng của chợ Bến Thành. Quảng đường kỷ niệm của ký ức chất chứa những niềm vui của gia đình và bạn bè. Những cuộc tình dang dở rồi cũng qua đi.....
<!>
Lễ mừng Chúa Giáng sinh hằng năm không chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng của riêng người Thiên Chúa giáo mà thực tế còn là một lễ hội lớn của toàn cầu, gắn liền với lễ hội đón Năm Mới của toàn nhân loại, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, màu da, châu lục nào. Trong ngày 24 và đêm Noel, riêng giáo dân thì lo đi lễ nhà thờ nhưng đến chiều tối, chuyện họp mặt, tiệc tùng, vui chơi, hẹn hò, chúc tụng, tặng quà qua lại, khiêu vũ,… trong thì không riêng gì những con chiên của Chúa, rất nhiều dân ngoại đạo cũng “chơi Noel” tức rộn ràng tổ chức tại nhà mình hay nô nức đến dự ở nhà người thân, bạn bè…

Đêm Noel, dù biết ngoài đường thế nào cũng kẹt xe, dân Sài Gòn vẫn đổ ra đường, dạo phố Tự Do, Lê Lợi, Nguyễn Huệ… tráng lệ đèn hoa (đặc biệt rực rỡ là khu vực nhà thờ Đức Bà quận Nhứt và nhà thờ Đức Bà Tân Định), rồi ai nấy trở về nhà mình hay nhà bạn bè người thân, cùng nhau ngồi vào bữa tiệc nhất định kéo dài.

Văng vẳng đâu đây là bản nhạc Jingle Bells...Chợt nhớ đến câu chuyện "chiếc que diêm cuối cùng của cô bé bán diêm" Cô đã đốt hết những que diêm còn lại để có một giáng sinh của cô. Sáng hôm sau người ta tìm thấy xác cô bé chết cứng trên lề đường trong bàn tay vẫn còn giữ chiếc hộp diêm bên trong là que diêm cuối cùng...

Tôi bây giờ cũng vậy, niềm đam mê như những chiếc que diêm bừng sáng trong đêm đông lạnh buốt. Tôi có cả một kho diêm đủ để đốt cho qua mùa đông.

Mỗi một sáng tạo là một que diêm.
Tôi sẽ không bao giờ ngừng nghỉ...
Con đường trước mặt còn dài lắm lửa đam mê vẫn cháy để sưởi ấm con tim và tôi sẽ đến cõi miên xuân với những bông hoa rực rỡ hé nhụy trong nắng hạ vàng nơi quê hương.
Ngày đó nhất định sẽ đến....

TÌNH CỐ THỔ

Ngày ta đi thành phố đã đổi tên.
Mưa trên phố buồn hiu buồn hắt.
Áo nâu đen nhuộm buồn con phố nhỏ.
Có còn đâu áo trắng áo tiểu thư.

Ngày ta đi đường me sầu ly biệt.
Lá vàng phai theo gió tiễn người đi.
Còn đâu nữa những hẹn hò nồng ấm.
Hạt cát buồn lấm tấm giọt mưa sa.

Ta ra đi từ rừng tràm rừng đước.
Đất Cà Mau sông nước tiễn người đi.
Mây u ám che trăng trên rạch nhỏ.
Tiếng côn trùng hợp xướng bản "Tình Ca"

Pulau Bidong sóng rền xô bãi cát.
Biển mồ chôn thân xác của thuyền nhân.
Ta may mắn đến bến bờ hạnh ngộ.
Tự Do ơi ta đã được gặp em.

Canada xứ lạnh tình nồng ấm.
Toronto lấm tấm giọt mưa sa.
Ta về đây gầy dựng lại cuộc đời.
Đời lưu xứ hồn khuya không đủ ấm.

Tình cố thổ ôi mênh mang tình nhớ.
Nhớ phố xưa áo trắng lộng gió bay.
Nhớ mẹ già trong giây phút chia tay.
Giọt nước mắt như giọt mưa trên lá.

Hồn viễn mộng bay về thăm chốn cũ.
Mấy mươi năm đầy ắp kỷ niệm xưa.
Thời tuổi trẻ với bao nhiêu lý tưởng.
Vẫn trong tim mãi mãi vẫn trong tim.

Đời lưu xứ bốn mươi lăm năm khổ nạn.
Xây dựng đời cống hiến cho tha nhân.

Giang hồ vặt nghe cơm sôi muốn khóc.
Nhớ mẹ hiền đất thó nhớ quê nghèo!

SàiGòn trong ký ức.

CON ĐƯỜNG XƯA TA ĐI…

Có những con đường không còn ai đi chung, nhưng ký ức thì vẫn quen lối cũ để quay về. Chỉ cần một buổi chiều chạm ngõ, lòng người đã nghe xao xác tiếng thời gian rơi rất khẽ. Lá khẽ chạm bóng mình, rêu thì im lặng, còn những dấu chân cũ dường như vẫn giữ nguyên hơi ấm của một ngày xa lắm.

Người ta hay nghĩ rằng thời gian sẽ làm lòng lặng xuống. Nhưng có những cái tên, dù không gọi nữa, vẫn âm thầm tồn tại trong từng nhịp thở. Chiều chòng chành nghiêng theo mây xuống núi, nắng bối rối vương hoài trên lối cũ, đường xưa như thể chính thiên nhiên cũng chưa nỡ rời tay khỏi những điều đã từng rất thương.

Có lẽ một lúc nào đó, ta chợt muốn chạm lại hoài niệm - một khoảng lặng nơi ta cho phép mình nhớ - nhớ vừa đủ để lòng còn ấm, và buông vừa đủ để nắng chiều có thể tan đi, mang theo một mối tình đã cũ, nhưng chưa từng phai.

....50 năm rời xa quê hương, SàiGòn vẫn là điểm nhớ khi nghĩ về nơi chốn đã ra đi.

Thời gian nơi đất khách dài hơn thời gian sống ở quê nhà nhưng trong tâm tưởng, 28 năm sống với thành phố thân yêu là một chuổi kỷ niệm không quên và không đoạn kết.

Cái nơi chốn thân yêu đó, nơi bắt đầu cho những cuộc tình, nơi bắt đầu cho những đam mê khi cái vốn tri thức bắt đầu mở rộng và tiếp xúc với đời.

Đời sinh viên thật đẹp, quảng đời đẹp nhất của cuộc đời và Sài Gòn vẫn là niềm nhớ không quên....

....dzung dzăng, dzung dzẻ Sài Gòn,
tình xưa vẫn đẹp, lối mòn qua tim.

Sài Gòn đẹp lồng lộng như cô gái mới lớn, ngon như ly cà phê và điếu thuốc lá nữa chừng xuân..

Tôi bắt đầu yêu em từ cái thưở học trò. Mê em vì những chiều vàng trên phố. Khám phá em bên hàng sách cũ dọc theo vỉa hè Lê Lợi. Thích thú yêu em vì những cuốn phim " Love story", "La piscine"...

Hương của em bám lại trong tim như khói thuốc lá vàng đậm trên mấy ngón tay để rồi nữa đêm về sáng..để rồi những đêm khuya mịt mù tuyết rơi nơi đây em hiện về loáng thoáng hương xưa ...nhớ quay quắt nhớ chao đảo trái tim! nhớ để mà sống lại cái thú thương đau!

Khoảng thời gian ở nơi đây không nhiều lắm trên dưới 30 năm nhưng đó là quãng đời đẹp nhất.

Quãng đời với thật nhiều kỷ niệm, những năm cuối Trung học với cánh cửa tương lai rộng mở và những năm đầu Đại học mở ra một khung trời mới với những đam mê say đắm về nghệ thuật....

Bên cạnh những hạnh phúc của đời là những khó khăn nhọc nhằn của cuộc sống. Sáng làm học trò tối làm thầy kèm trẻ tại tư gia. Mỗi đêm tôi về đến nhà vào khoảng 10PM bắt đầu cho đèn sách.

Bầu trời đỏ hồng về hướng phi trường Tân sơn Nhất vì ánh hoả châu. Hương dạ lý thoang thoảng trong đêm, thỉnh thoảng có tiếng súng đại bác vọng về từ ngoại thành...Đêm nay phải hoàn tất bản vẽ cho đồ án hàng tháng, đêm sâu và buồn như cuộc đời của một sinh viên nghèo phải trả nợ áo cơm.

Có thật nhiều kỷ niệm ở thành phố nầy, nó bám chặt vào tim và hình thành cõi hoài niệm thiên thu.

Nơi đây, một món ăn quen một bản nhạc tình hay vài câu nói bâng quơ của bạn cũng đủ đánh thức lại khoảng trời ký ức.

Ra đi đã 45 năm nhưng vùng trời đó sao chẳng thể quên.

Tôi vẫn coi SàiGòn là vùng đất của kỷ niệm nơi chôn những hoài vọng của một thời!


TRƯỞNG PHÒNG HỌA ĐỒ : NHÀ VĂN THUẦN PHONG
ÔNG NGÔ VĂN PHÁT
NGƯỜI ĐẶT TÊN ĐƯỜNG SÀI GÒN TRƯỚC 1975
LÀ MỘT THIÊN TÀI LỊCH SỬ…

Đã từ lâu tôi rất muốn tổng hợp lại những điều thú vị đẹp đẽ và gây sửng sốt trong cách đặt tên đường của Sài Gòn trước năm 1975 (dù có nhiều trang đã từng viết). Bài này tôi viết mang trong mình 3 kỳ vọng.

Thứ nhất là để các bạn, các em yêu lịch sử nhưng sợ lịch sử có thể bỗng chốc phát hiện ra những điều tinh tế tuyệt vời trên con đường mà các em, các bạn đang đi học, đi làm mỗi ngày.

Thứ hai là một gợi ý để những nhà hoạch định giao thông có thể quy hoạch lại trên niềm cảm hứng tinh tế thú vị đó, để có thể tạo ra những bản đồ tên đường như thể ta đang bước đi trên một trang sách.

Và cuối cùng là để thắp một nén nhang tri ân đến người đã đặt tên những con đường đó, cũng là một cái cúi mình ngưỡng mộ trước những tinh hoa, tinh tế của người trí thức miền Nam trước 1975 mà thời cuộc đã khiến mọi thứ không thể đi đến trọn vẹn.

Ngô Văn Phát sinh trong một gia đình có học, thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà với cha, tục ngữ, ca dao với mẹ. Học xong bậc tiểu học tại quê nhà, ông lên Sài Gòn học tiếp và đậu bằng Thành Chung rồi vào học ngạch Họa đồ và ra làm việc ở ngành Công chánh.

Ngô Văn Phát có khiếu và sớm yêu thích văn chương thơ phú. Năm 14 tuổi, cậu bé Phát đã có thơ gởi đăng thường xuyên ở báo Phụ nữ Tân văn từ năm 1928 đến năm 1935. Mới 19 tuổi, ông đã gây tiếng vang trong làng văn với 10 bài thơ họa lại 10 bài Khuê phụ thán của nhà thơ Thượng Tân Thị như đã kể trên.

Năm 1957, Công trình “Khảo cứu về Sài Gòn” của Ngô Văn Phát được đăng vào bộ tự điển của Hội Từ điển Bách khoa London. Năm 1964, tại Paris, quyển “Ca dao giảng luận” của ông được lược trình và bình luận trong bộ sách của Trường Viễn Đông Bác Cổ. Cùng trong năm này, cơ quan Nghiên cứu Việt học của trường Đại học Sorbonne tại Paris (Pháp) mời nhà thơ Tố Phang Ngô Văn Phát tham gia Dự án Nguyễn Du chuẩn bị cho cuộc lễ Kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du (1965). Ông có thiên khảo luận “Nguyễn Du với thể dân ca” và được đăng vào bộ sách (Tạp luận về Nguyễn Du) do Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp xuất bản năm 1966.

Ngô Văn Phát đã nhận được 6 giải thưởng văn chương, được mời dạy môn Việt văn tại các trường: Pétrus Ký (Sài Gòn), GS thỉnh giảng môn Văn học dân gian tại Đại học Văn khoa (Sài Gòn), Đại học Sư phạm Huế, Đại học Vạn Hạnh, Đại học Cần Thơ…

Một dịp thuận, sẽ có dịp trưng thêm cái tài cái tình của Ngô Văn Phát trong công trình “họa” lại 10 bài thơ của Thượng Tân Thị và những đóng góp của ông về nghiên cứu văn chương. Trong phạm vi bài viết này xin đề cập đến một cái tài khác của Tố Phang Ngô Văn Phát.

… Tôi đang cố tưởng tượng thời điểm năm 1956, người của chính quyền Ngô Đình Diệm đã tìm đến ông Ngô Văn Phát Trưởng phòng Họa đồ của Ty Kỹ thuật Sài Gòn. Một yêu cầu cấp bách là Ty Kỹ thuật phải khẩn trương thay thế hết các tên đường tiếng Pháp bằng tiếng Việt.

Trưởng phòng Ngô Văn Phát đã nhã nhặn đề nghị xin cho 3 tháng.

…Đến thời điểm này, người ta tính đếm khoảng hơn 80% tên đường của thành phố Hồ Chí Minh vẫn tồn tại cái tên gọi cũ từ “thời” Ngô Văn Phát.

Bờ sông Sài Gòn được chia ra ba đoạn Bến Bạch Đằng, Bến Chương Dương và Bến Hàm Tử. Tên được đặt như sự xiển dương các trận thuỷ chiến trong lịch sử chống quân Nguyên Mông. Tại Bến Bạch Đằng lớn nhất, thì có ở đó bức tượng của vị Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo chỉ tay ra bờ sông. Và bên kia sông là Bến Vân Đồn ghi tên trận thuỷ chiến của danh tướng Trần Khánh Dư.

Từ cầu Ông Lãnh đổ xuống, đi trên đường Nguyễn Thái Học, ta sẽ gặp đường Cô Giang, phu nhân Nguyễn Thái Học. Song song với đường Cô Giang là đường Cô Bắc - Nguyễn Thị Bắc, chị ruột của Cô Giang. Cả hai đều là những yếu nhân của phong trào đấu tranh yêu nước do Nguyễn Thái Học khởi xướng.

Đường Phan Thanh Giản, sau 1975 tên mới là Điện Biên Phủ Có lẽ sự tinh tế của người đặt tên đường năm 1956 vẫn gợi được tên của vị đại thần nhà Nguyễn? Đó là 2 con đường mang tên 2 người con của Phan Thanh Giản - Phan Liêm, Phan Tôn. Hai con đường ngắn, nhỏ, đặt song song, như vẫn bên cạnh hầu hạ người cha oan khuất.

Gia Long, đối thủ không đội trời chung là Nguyễn Huệ có sự nghiệp thể hiện qua tên đường của Ngô Văn Phát. Đường Gia Long (sau 1975 tên mới là Lý Tự Trọng) tuy hẹp nhưng dài, đường Nguyễn Huệ tuy to, nhưng ngắn, như số phận của vị anh hùng dân tộc đánh đông dẹp bắc, công tích rực rỡ mà tuổi thọ ngắn ngủi.

Chẳng phải ngẫu nhiên mà đường Lê Lai nhỏ nằm cạnh đường Lê Lợi lớn, đường Sư Vạn Hạnh âm thầm nối gót cho đường Lý Thái Tổ, giúp rập Lý Công Uẩn lập ra nhà Lý. Khu vực người Hoa chợ Lớn mang tên những vị hiền triết của Trung Hoa. Những Trang Tử, Khổng Tử hay các vị người Hoa đã có công mở cõi như Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích… Còn ở Quận 1 ta thấy Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, Trương Công Định… các vị khởi nghĩa chống Pháp cạnh nhau. Các vị nữ sĩ Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương khéo làm sao cũng ở bên nhau. Cách đó một khúc lại là cụm Bùi Thị Xuân, Huyền Trân Công Chúa và Sương Nguyệt Anh. Trong khi những vị trạng nguyên như Lê Quý Đôn, Phùng Khắc Khoan, Lê Văn Hưu, Mạc Đĩnh Chi là các con đường song song bàn cờ. Và hai danh nhân góp phần xây dựng nên chữ Quốc Ngữ là Hàn Thuyên và Alexandre de Rhodes thì lại song song nhau bên cạnh.

Mạn phía bến xe miền Tây vấn vương thuở lập quốc. Đầu tiên là Hồng Bàng. Kế đó là Kinh Dương Vương, Hùng Vương, rồi An Dương Vương. Xa chút những Triệu Quang Phục, Bà Triệu. Đường Triệu Đà bây giờ tên mới là đường Ngô Quyền. Tên đường như sự chấm dứt ngàn năm Bắc thuộc của Tiền Ngô Vương. Không còn đườngTriệu Đà, nhưng ta sẽ gặp đường Lữ Gia, vị tể tướng người Xứ Thanh thời Triệu Đà.

Dưới đây là 10 điều thú vị về cách đặt tên đường Sài Gòn trước năm 1975:

1.Bờ sông Sài Gòn được chia ra ba đoạn. Đầu tiên là Bến Bạch Đằng, thứ đến là Bến Chương Dương, và cuối cùng là Bến Hàm Tử. Đó là gì? Vâng, là những trận thuỷ chiến trong lịch sử chống quân Nguyên Mông của quan quân nhà Trần vào thế kỷ 13. Riêng Bến Bạch Đằng lớn nhất thì có ở đó là bức tượng của vị quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo chỉ tay ra bờ sông.

Vậy bạn có nhớ ở bên kia bờ sông là bến gì không? Bến Vân Đồn - nơi Trần Khánh Dư đánh tan đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ, cũng là một trận thuỷ chiến thời đó.

2. Bạn hẳn đều ít nhiều nghe đến cái tên Nguyễn Thái Học, một trong số những người sáng lập Việt Nam Quốc dân đảng và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Nhưng bạn có biết vợ của Nguyễn Thái Học không? Từ cầu Ông Lãnh đổ xuống, bạn sẽ đi trên đường Nguyễn Thái Học, và bạn sẽ gặp phu nhân của người. Đó là Cô Giang. Song song với đường Cô Giang là đường Cô Bắc. Nguyễn Thị Giang (tức Cô Giang) là vợ Nguyễn Thái Học, và Nguyễn Thị Bắc (tức Cô Bắc) là chị của Cô Giang.

3. Điện Biên Phủ là một con đường huyết mạch tại Sài Gòn ai ai cũng biết. Nhưng không mấy ai biết tên con đường này trước 1975 là đường gì. Đó là đường Phan Thanh Giản - tên của vị đại thần nhà Nguyễn đã ký bản hiệp ước cắt 3 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp. Ông chịu án oan trăm năm mà chỉ được gột rửa trong chục năm trở lại đây. Sau năm 1975, tên đường Phan Thanh Giản đổi thành đường Điện Biên Phủ, đưa ông về quên lãng. Tuy nhiên ít ai biết rằng, sự tinh tế của vị đặt tên đường ấy vẫn để lại những dấu hiệu. Đó là người con của ông: Phan Liêm, Phan Tôn vẫn ở đó. Hai con đường ngắn, nhỏ, đặt song song, như ở cạnh hầu hạ cho linh hồn của người cha oan khuất bi kịch của mình.

Ngày ngày, khi đi từ cầu Sài Gòn xuống mà muốn về nhà thờ Đức Bà, chúng ta sẽ rẽ vào Võ Thị Sáu (Hiền Vương) và quẹo vào một con đường nhỏ cắt qua Điện Biên Phủ. Con đường nhỏ ấy chính là đường Phan Liêm. Nhưng cha ông thì không còn đó nữa.

4. Phan Thanh Giản đỗ tiến sĩ và ra làm quan dưới triều Minh Mạng, vậy thì đương nhiên phải có đường Minh Mạng trước đó rồi đúng không. Vậy đường Minh Mạng ở đâu nhỉ? Đấy là đường Ngô Gia Tự hôm nay. Một con đường xứng đáng với tầm vóc của Minh Mạng: to, đẹp với 3 hàng cây rợp bóng mát, mang cái hùng tâm tráng chí của bậc đế vương tham vọng nhất nhì lịch sử Việt Nam. Và vị đại tướng của ông, người gánh trách nhiệm chinh chiến ở Campuchia là tướng Trương Minh Giảng, đó sẽ là một con đường nối dài từ quận này sang quận khác, như công tích vĩ đại kéo qua 2 nước, nhưng hẹp, hệt số phận bi kịch khi trở về. Con đường ấy hôm nay là đường Lê Văn Sỹ-Trần Quốc Thảo.

5. Tương tự con đường Trương Minh Giảng là con đường Gia Long. Đường Gia Long và đối thủ không đội trời chung của ông là Nguyễn Huệ có sự nghiệp thể hiện qua tên đường. Đường Gia Long tuy hẹp nhưng dài, đường Nguyễn Huệ tuy to, nhưng ngắn, như số phận của vị anh hùng dân tộc đánh đông dẹp bắc, công tích rực rỡ mà tuổi thọ ngắn ngủi. Đường Gia Long hôm nay là đường Lý Tự Trọng. Ở phía đầu đường Gia Long là nhóm những vị khai quốc công thần của ông, đó là đường Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám), đấy là đường Võ Tánh (Nguyễn Trãi Quận 1), Ngô Tùng Châu (nay là Lê Thị Riêng), quân sư Đặng Đức Siêu (đổi tên thành đường Nam Quốc Cang).

6. Một số cái tinh tế khác như đường Lê Lai nhỏ nằm cạnh đường Lê Lợi lớn, đường Sư Vạn Hạnh âm thầm nối gót cho đường Lý Thái Tổ, giúp rập Lý Công Uẩn lập ra nhà Lý. Khu vực người Hoa chợ Lớn thì rặt các con đường của những vị hiền triết của Trung Hoa như Trang Tử, Khổng Tử hay các vị người Hoa đã có công mở cõi như Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích…. Còn ở Quận 1 ta thấy Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, Trương Công Định…các vị khởi nghĩa chống Pháp thì sát sạt nhau. Các vị nữ sĩ Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương khéo làm sao cũng ở bên nhau. Cách đó một khúc lại là cụm Bùi Thị Xuân, Huyền Trân Công Chúa và Sương Nguyệt Anh. Trong khi những vị trạng nguyên như Lê Quý Đôn, Phùng Khắc Khoan, Lê Văn Hưu, Mạc Đĩnh Chi là các con đường song song bàn cờ. Và hai danh nhân góp phần xây dựng nên chữ Quốc Ngữ là Hàn Thuyên và Alexandre de Rhodes thì lại song song nhau bên cạnh.

7. Ở phía bến xe miền Tây lại thuộc về thuở lập quốc của thuỷ tổ dân tộc. Đầu tiên là Hồng Bàng đúng không? Kế đó là Kinh Dương Vương, Hùng Vương, rồi An Dương Vương. Xa xa là những Triệu Quang Phục, Bà Triệu. Đủ rồi chăng? Hehe. Chưa hết, còn một con đường nữa là đường Triệu Đà thưa các bạn. Đường Triệu Đà hôm nay chính là đường Ngô Quyền. Thực ra trước năm 1975, đường Ngô Quyền-Triệu Đà nằm trên một trục. Như cái sự chấm dứt 1000 năm Bắc Thuộc mà Tiền Ngô Vương đã đem lại cho dân tộc vậy.

Triệu Đà dẫu không còn, nhưng đi về thêm một chút nữa bạn sẽ lại gặp đường Lữ Gia, vị tể tướng người Thanh Hoá thời Triệu Đà.

8. Không chỉ có lịch sử, mà còn có những cái hay khác. Đi qua Bộ Y Tế thì là đường Hồng Thập Tự (nay gọi là đường Nguyễn Thị Minh Khai), đường Tự Do, Công Lý,Thống Nhất thì được ở cạnh nhau như nói lên khát vọng nhân bản cao đẹp. Đặc biệt đường Công Lý thì quy tắc phải một chiều (vì có Công Lý nào tráo trở đâu). Đường Lục Tỉnh, đường Hậu Giang, đường Tháp Mười thì ở cạnh nhau. Rồi, quay về phía khu Bắc Hải là ta gặp một loạt cụm đường mang những địa danh của dân tộc đã đi vào huyền sử: Trường Sơn, Bạch Mã, Ba Vì, Đồng Nai, Cửu Long.

9. Lòng dân cũng là một trang sử mộc mạc.

Tôi kể câu chuyện nhỏ, có một lần hai vợ chồng tôi đi ăn cháo lòng trên đường Võ Thị Sáu - Quận 3. Lúc ngồi xuống bàn, tôi thấy pass wifi là "hienvuong".

Hiền Vương chính là tên con đường này trước 1975, là tên nhân gian gọi chúa Nguyễn Phúc Tần, ông là vị chúa thứ 4 của dòng chúa Nguyễn trong thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, là người có công mở rộng lãnh thổ về phía Đồng Bằng Sông Cửu Long. Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần còn là người đã tiếp nhận những đoàn thuyền của Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên từ nhà Minh đi xuống, để họ tiến hành khai khẩn và tạo nên Cù Lao Phố, Mỹ Tho. Không có ông tạo nền tảng, sẽ không có Sài Gòn Chợ Lớn TPHCM sầm uất như ngày hôm nay.

Chúa Nguyễn Phúc Tần còn là một nhân vật hùng bá ở trên biển. Ông có tham vọng đánh ra Bắc phía chúa Trịnh, và từng đuổi quân Anh, quân Hà Lan...khi họ dám bắt người và xâm phạm bờ cõi Đàng Trong.

Sau năm 1975, đường Hiền Vương trở thành đường Võ Thị Sáu. Tuy nhiên như đã nói ở trên, lòng dân là một trang sử mộc mạc. Dẫu bị đổi thay thế nào, dẫu sử sách có quên lãng và các vấn đề chính trị đã xô đẩy họ rời khỏi trang sách, thì nơi đây, lòng dân vẫn biết cách để nhớ về, dù chỉ bằng một cái pass wifi ngắn ngủi.

10. Người tạo nên kiệt tác lịch sử với các câu chuyện tôi kể trên kia là … một công chức. Ông là Trưởng Phòng Họa Đồ thuộc Tòa Đô Chánh Saigon. Bộ phận được lệnh gấp rút thay thế toàn bộ tên đường từ tên Pháp qua tên Việt trong khoảng thời gian ngắn nhất, sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm nắm quyền. Tên ông là Ngô Văn Phát, Nhà văn – bút hiệu Thuần Phong, sinh ngày 16 tháng 10 năm 1910 tại huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Để xây dựng nên công trình lịch sử thập phần tinh tế này, ông cần 3 tháng.

3 tháng cho một đời!
SàiGòn có thật nhiều con đường kỹ niệm.
Đường me, con đường tình ta đi, con đường mang tên cây....
Mỗi một con đường chứa đựng biết bao hoài niệm về môt thời tuổi trẻ.


ĐƯỜNG PASTEUR
ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC SÀIGÒN.

CON ĐƯỜNG TÌNH TA ĐI….
Sau khi cơn mưa dứt hạt, trời trong dịu mát, đi tản bộ trên đường Pasteur để tận hưởng buổi chiều nhẹ nhưng bỗng dưng những hạt nước từ đâu rơi xuống ướt cả vai. Ngước nhìn lên trong cơn gió thổi, những hạt nước nhỏ li ti từ trên những tán lá hàng cây cao giũ xuống. À, mưa me!

Nhờ thoáng chốc “mưa me”, tôi mới chợt nhận ra hàng cây me xanh mướt lá dọc con đường Pasteur. Nơi đây hơn năm chục năm về trước, trên đường về sau khi dạo phố SàiGòn cơn mưa nhiệt đới đổ ập xuống làm tôi phải tạt vào trú mưa ở một dãy nhà cổ trên đường. Sau đó tôi mới biết ra đó là trường ĐHKT!

Cái duyên đó đã cột chặt cuộc đời của tôi vào cái nghiệp dĩ KT cho đến mãi bây giờ dù đã về hưu!


Ngày xưa đi làm để trả nợ áo cơm nhưng trong cái nợ đó vẫn là những đam mê bất tận. Con đường me đã đưa tôi vào cõi mộng mơ, cõi "kiếm chút xu"(KTS)....


Cám ơn me đã vì ta , đưa ta đến cung đường vĩnh cửu đưa ta đến những phút giây hạnh phúc dù có phải gục đầu qua đêm trên cái bảng trắng thơm mùi giấy Canson...

Đường Pasteur là một trong những con đường xưa nhất SàiGòn, được thành lập từ năm 1865.
Đây là một con đường khá dài, khoảng 1,9km, được đặt theo tên của Louis Pasteur (1822 - 1895), một bác sĩ vĩ đại người Pháp. Ông là cha đẻ của ngành nghiên cứu vi sinh vật học, là người đã sáng chế ra thuốc kháng sinh đầu tiên trên thế giới. Viện Pasteur cũng được thành lập dựa trên ý tưởng của ông.

Với tôi, đường Pasteur là con đường tình tôi đi... và người tình của tôi ở số 176 Pasteur!
Với lề đường rộng và cây xanh chen lẫn các ngôi biệt thự xây từ thời thuộc địa vẫn còn tồn tại. Đây là con đường tôi vẫn đi về mỗi ngày.

Thật khó hình dung con đường này, vốn lộ giới chỉ khoảng 20 - 25m, thời Pháp thuộc thực chất là hai con đường chạy dọc hai bên một con rạch nước chảy, có lẽ đổ ra rạch Nhiêu Lộc, đều mang số 24. Năm 1865, khi người Pháp đã ổn định chế độ thuộc địa, họ đặt tên đường bên trái là Olivier còn đường bên phải là Pellerin. Sau con rạch được lấp đi và hai đường nhập làm một, thành đường Pellerin.

Năm 1955, chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm đổi thành đường Pasteur. Tháng 8.1975, đường đổi tên thành Nguyễn Thị Minh Khai nhưng cho đến năm 1991, lấy lại tên Pasteur. Đường chạy từ bến Chương Dương cho đến Nguyễn đình Chiểu khoảng 2,5 cây số.

Trước năm 1975, khi tôi còn nhỏ đã có nhiều dịp đi ngang con đường xinh đẹp này, nhưng kỷ niệm lại không vui vì phải đi chích thuốc ngừa phong đòn gánh (bây giờ gọi là bệnh uốn ván) ở Viện Pasteur cuối đường. Lúc đó, nhớ mang máng chỗ phở Hòa bây giờ chỉ là xe phở bán trên lề đường mà tôi được ăn sau khi chích ngừa.


Gần đó là nhà may Thiết Lập rất nổi tiếng ở Sài thành thường quảng cáo trên báo, mà nhà tôi thường có tờ tuần báo Thẩm Mỹ Tân Tiến để chị tôi đọc mục dạy cắt may của bà Nguyễn Thị Bắc, chủ nhân. Thời đó, áo dài kiểu tay raglan đang thịnh hành. Nhìn vào tiệm may thấy thợ ngồi đông đúc, nghe nói tới 50 thợ may. Báo chí đăng trung bình mỗi ngày tiệm giao khoảng 100 áo dài cho khách, các ngày gần lễ Giáng sinh hay Tết còn nhiều hơn.

Thuở còn sinh viên dao phố Lê Lợi thì thế nào cũng phải ghé góc Lê Lợi - Pasteur ăn gỏi khô bò và uống nước mía.
Nước mía Viễn Đông nếu nhớ không lầm ngay góc này có tiệm bán hủ tíu gà cá ngon hết xẩy, còn có món chè sâm bữu lượng tuyệt cú mèo...
Tiệm nước mía nổi tiếng là tiệm không bảng hiệu với tấm bạt chìa ra ở bên phải.

Tui vẫn nhớ cách làm nước mía của họ rất độc đáo, trước khi đẩy bó mía vào máy ép họ nhét vào giữa một trái quýt (quýt chứ không phải tắc) còn nguyên vỏ, làm nước mía của họ thơm nồng mùi quýt tươi mà những nơi khác không có hay không dám làm vì thêm quýt thì bán không có lời.

Mía sau khi rốc võ ép cùng với quýt còn vỏ, nước mía sẽ rất thơm và làm tăng thêm cảm giác ngọt của nước mía, còn ép chung với trái tắc vỏ còn màu xanh cũng thơm nhưng trước khi ép phải vắt nước của trái tắc chứ không nước mía ép ra sẽ bị chua, còn nữa, mía ép cũng phải chọn loại nào để khi ép nước sẽ ngọt, nhiều bọt, có màu trắng sữa và để lâu (5 - 10 phút) sẽ không bị xuống màu.

Ở bên kia đường đối diện tiệm nước mía còn có ông già tàu đứng bán những xâu thịt bằm nướng nhét bánh mì trét tương ớt, vừa rẻ vừa ngon. Kiểu bánh mì thịt của ông già ngộ cái không thấy nơi nào bán.

Bánh mì thịt nướng xỏ que đũa, mỗi lần bán mổ ổ bánh mì, xong kẹp que thịt vô ổ bánh mì rút que ra một cách điệu nghệ, xong cho đồ chua và tương đen hơi ngọt, tương ớt, ăn vô cay lè lưỡi, cay mà ngon.
Ngày nay toàn bộ khu vực này đã bị san bằng hết rồi và không còn một dấu tích xưa nào cả.

SÀIGÒN THƯƠNG NHỚ CHỢT VỀ....

Ngoài kia tuyết vẫn mịt mù,
Chạnh lòng lại nhớ đến Sài Gòn xưa.
Lắng nghe mưa rớt trong lòng.
Bềnh bồng khói sóng tỉ tê giọt buồn.

Còn đâu ngày tháng học trò.
Cà phê tình tự hẹn hò mắt nai.
Tự Do guốc gõ đi về.
Gở hoa nắng rớt trên tà áo xanh.

Trưng Vương dựa gốc me già.
Phút giây chờ đợi như là thiên thu.
Đợi em bóng ngã đường chiều.
Mỹ miều dáng ngọc yêu kiều môi thơm.

Duy Tân bóng mát đường tình.
Ghé qua Kiến trúc một đời đam mê.
Vạn Xuân hoa nở sang hè.
Công viên ghế đá người xưa đâu rồi!

Ta về Phú Nhuận buồn tênh.
Phố khuya Tân Định hắt hiu mưa buồn.
Mưa giăng phủ kín tâm sầu.
Ngàn muôn nỗi nhớ tinh đầu vẫn thương.

Ta về Gia Định mù sương.
Đa Kao giữ lại tình vương lối về.
Cầu Bông ướt đẫm câu thề.
Áo Lê văn Duyệt trắng hồn thương đau.

Gió đời tàn nhẫn lướt mau,
Muốn ôm gió lại gió bay mất rồi !


“Chiều nắng âm thầm chào biệt lũ lá me
Lá me nhỏ như nụ cười hai đứa nhỏ”
( Nguyễn Tất Nhiên )

NHỮNG CON ĐƯỜNG KỶ NIỆM

Ở mỗi thời điểm, theo hoài ức đi ngược dòng lịch sử tìm lại những hình ảnh của Sài Gòn xưa những con đường của kỷ niệm, của tình yêu.
Ở mỗi thời điểm, theo dòng ký ức ghi lại những tình cảm chợt đến. Có thể là một tản mạn dạo phố với người yêu hay một đêm trăng thu chợt nhớ Sài Gòn.

Ở mỗi thời điểm, là những rung động của tình khi đi bên người yêu trên phố Tự Do tràn đầy hoa nắng hay một chiều cuối tuần lang thang trên phố Lê Lợi bên hàng sách cũ....
Ghi lại từ ký ức để sống lại những khung trời...đã mất!

ĐƯỜNG XƯA LỐI CŨ....

tâm lang thang đi về miền dỉ vãng.
mái trường xưa, người tình cũ tóc thề.
áo lụa trắng tung tăng đường hoa nở.
tóc mây dài vương vất lá me bay.

nhớ SàiGòn những con đường kỷ niệm.
phố thênh thang Lê Lợi áo muôn màu.
những tà áo ôm tấm lòng rộn rã,
nắm tay đi nhàn nhả phố Tự Do.

Nhớ Duy Tân đường tình thời tuổi trẻ.
Hai bà Trưng mưa nắng vẫn đi về.
đêm giới nghiêm phố vắng phố buồn thiu!
cà phê đắng đêm dài qua sách vở.

chiều cuối tuần lang thang thương xá Tax.
ghé Brodard, Pagode uống cà phê.
niềm vui đến trải lòng trên phố thị.
đôi mắt nào hoài niệm mối tình xưa.

Đinh tiên Hoàng đón em đường Cường Để.
áo Văn Khoa thấp thoáng dáng người xưa.
Văn, Sử, Địa hay Triết Tây, Hán học.
những tháng ngày đời đẹp tựa bài thơ.

giờ đã hết SàiGòn đâu còn nữa!
những con đường kỷ niệm khắc trong tim.
những cuộc tình đưa đón cổng sân trường.
ôm dỉ vãng buồn hắt hiu phố cũ!
..vườn tình Luật & Kiến Trúc với những tà áo muôn mầu.
Con đường Duy Tân cây dài bóng mát, con đường tình ...của một thời tuổi trẻ.

Tôi rời trường KT qua ngõ sau Phan đình Phùng rồi đi bộ ra đường Duy Tân. Ba cái mái che (canopy) sừng sửng vươn ra từ bên trong làm thành cổng của trường Luật. Một tác phẩm của KTS Đinh hữu Tường.

Tôi đón X trước cổng Bưu Điện rồi tản bộ về phía Sài Gòn. Đường Duy Tân từ đây mang tên Tự Do (Catinat). Tay trong tay chúng tôi nhàn nhà bước đi lòng rộn rã niềm vui cuối tuần. Hoa nắng vương tóc mây, sợi nào của đắm say, sợi nào đưa ta vào giấc mơ của khung trời yêu thương ngạt ngào hương tóc....

NHỮNG CON ĐƯỜNG KỶ NIỆM

ĐƯỜNG ME

Tháng nắng, SàiGòn như dịu lại với những tán cây lim xẹt. Những cánh hoa vàng rực rụng lả tả dưới chân, cuốn theo mỗi lần xe vụt qua, nhưng cũng đủ làm cho con đường mát lại. Tôi thích mỗi sáng đi ngang qua đường Trương Định, nhằm lúc các chị lao công chưa kịp quét, thì dưới đường, hoa vàng rụng đầy như rải thảm; hay những buổi trưa nhìn ra cửa sổ phòng làm việc từ tầng cao, những “vườn” hoa cứ vàng rực ngay trong tầm mắt.

Tháng mưa, tàn lá xanh rì mát dịu; tháng nắng, lá rụng trơ cành nhưng chỉ vài hôm, những nụ hoa vàng ươm hé nở để rồi tuôn thành dòng, thành suối với những chùm hoa óng mượt. Hay trên đường Phan thanh Giản-Điện Biên Phủ, đoạn gần Hàng Xanh, tháng tư bỗng nổi bật sắc hồng của hàng cây kèn hồng. Kèn hồng có lúc nở rộ, trên cành gần như chỉ thấy những chùm hoa dáng loa kèn, màu phơn phớt. Được vài hôm, cây lại đâm chồi non, óng ánh dưới nắng…

Nhiều cây vẫn đứng sừng sững. Chắc có công lao của nhà thực vật học Pháp Jean Baptiste Louis Pierre (1833 – 1905), người sáng lập và là giám đốc đầu tiên của Thảo cầm viên Sài Gòn, một trong những người Pháp đến bây giờ vẫn được người Việt nhớ đến, trân trọng bởi những đóng góp cho thành phố này trong những ngày đầu xây dựng theo hướng hiện đại.

Ngày nào Sài Gòn vẫn còn xôn xao những hàng cây thì lòng người vẫn thấy xôn xao một tình yêu với đất, với người, với những con đường kỷ niệm loáng thoáng trong hồi ức về một nơi chốn đã ra đi…

SàiGòn đầu mùa mưa, những chiếc hoa vàng nhạt như chiếc chong chóng xoay tít bay bay khi mỗi cơn gió thoảng qua. Có những ngày giông gió, tôi thích nhìn những vốc hoa thi nhau rơi, bám trên tóc những cô gái, rụng trên mui xe, rớt vào trong giỏ xe…


ĐƯỜNG CÀ PHÊ

HOA NẮNG TỰ DO.

Tự Do hoa nắng hoài hương cũ....
Tay trong tay ấm giữa phố xưa.
Hương tóc bay đi trong nắng hạ.
Hoài niệm hương xưa thoáng qua hồn.

Pagode Givral cà phê đắng.
Ngồi nghe guốc gõ nhịp con tim.
Nữa hồn thương đau hay Ly biệt...
Xé nát tim ta những bóng hình.

Lạc phố xưa buồn tà áo bay.
Áo trắng ngày xưa giờ ở đâu?
Em đi nhung gấm quên hờn tủi.
Lãng đãng em về giấc mộng du.

Vàng mây khói thu mắt biếc buồn.
Nụ cười lúng liếng nét thơ ngây.
Công viên Chi Lăng em đứng đợi.
Áo trắng trông vời áo tiểu thư.

Ta về hoài niệm phố thu bay.

Thân mến
  


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét