Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Ba, 20 tháng 1, 2026

HỒ CHÍ MINH NGƯỜI VIỆT ĐU CÀNG MỸ ĐẦU TIÊN ... THẤT BẠI?


DLV hãy gào to lên chữi bọn đu càng ... là chữi Bác đấy... các con -  Đội Chiến dịch Đặc biệt số 13 (tiếng Anh: Special Operation Team No. 13), mật danh Con Nai (tiếng Anh: Deer), hay Đội Con Nai (tiếng Anh: Deer Team), là một nhóm đặc nhiệm tình báo thuộc Cơ quan Tình báo Chiến lược Hoa Kỳ (OSS). Đội Con Nai được thành lập vào ngày 16 tháng 5 năm 1945, với nhiệm vụ chủ chốt là tổ chức huấn luyện quân sự, cung cấp hậu cần và y tế cho lực lượng Việt Minh của Hồ Chí Minh, đồng thời hợp tác với Việt Minh trong việc thu thập thông tin tình báo và chống Nhật tại miền bắc Đông Dương trong giai đoạn cuối của Chiến tranh Thế giới thứ hai.[1]
<!>
Bối cảnh
Vấn đề tình báo ở Đông Dương
Hơn hai tháng sau khi Pháp thất thủ ở châu Âu, sự kiểm soát của Pháp đối với Việt Nam dần bị lung lay. Ngày 22 tháng 9 năm 1940, quân đội Nhật Bản xâm lược miền Bắc Đông Dương dưới danh nghĩa được người Pháp "chuẩn thuận", nhưng trên thực tế là do người Pháp không còn đủ khả năng chống trả. Ngày 29 tháng 7 năm 1941, Pháp và Nhật ký Hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương, cho phép quân đội Nhật Bản sử dụng gần như toàn bộ các sân bay và cảng biển quan trọng tại Đông Dương và chính thức công nhận sự hiện diện của người Nhật tại khu vực.[2] Tuy nhiên, mùa hè năm 1944, sau khi Pháp được quân Đồng Minh giải phóng, một số người Pháp theo phe De Gaulle tại các vùng của Việt Nam ở Đông Dương bắt đầu tìm cách cung cấp tin tức tình báo cho tổng hành dinh lực lượng Đồng minh ở Côn Minh.[3][4]

Thiếu tướng Claire L. Chennault, chỉ huy trưởng Không lực 14 Không lực Lục quân Hoa Kỳ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai
Côn Minh, một thành phố ở phía tây nam Trung Quốc, là căn cứ của Không lực 14 do Thiếu tướng Claire Chennault làm chỉ huy trưởng, đã bắt đầu thực hiện các phi vụ ném bom đánh phá các tuyến giao thông và tiếp tế của quân đội Nhật ở Đông Dương. Thành công của các cuộc tiến công ném bom này phụ thuộc vào các báo cáo thời tiết chính xác từ bên trong Đông Dương, cũng như thông tin tình báo về các hoạt động chuyển quân, căn cứ và kho tàng của Nhật. Ngoài ra, một mạng lưới tình báo ở Đông Dương cũng rất cần thiết để giải cứu các phi công Mỹ khi máy bay bị bắn hạ hoặc rơi, che giấu họ khỏi quân Nhật, và nếu có thể, đưa họ ra khỏi Đông Dương trở về Trung Quốc.[5]
Cơ quan Tình báo Chiến lược Hoa Kỳ (tiền thân của Cơ quan Tình báo Trung ương)[6] đã tham gia các hoạt động thu thập thông tin này từ Côn Minh từ năm 1942, thông qua một mạng lưới tình báo gọi là GBT, làm việc ở miền nam Trung Quốc gần khu vực biên giới Trung – Việt, và sử dụng mạng lưới trong các cơ sở kinh doanh Pháp của họ ở Đông Dương.[Ghi chú 1] Không lực 14 liên tục nhận được những thông tin quý giá từ GBT và đánh giá cao mạng lưới của họ.[5] Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính lật đổ chính quyền Pháp ở Đông Dương, tuyên bố Việt Nam "độc lập". Do hầu hết người Pháp bị cầm tù nên nguồn thông tin tình báo quý giá từ bên trong Đông Dương đến quân Đồng minh ở Côn Minh đã cạn kiệt. OSS nhận thấy cần tìm cách tổ chức thu thập các thông tin tình báo đáng tin cậy từ những người Việt Nam chống Nhật.[3]

Rudolph Shaw và sự hợp tác đầu tiên

Chương trình Việt Minh
Ngày 11 tháng 11 năm 1944, Trung úy Rudolph C. "Rudy" Shaw, một phi công của Phi đoàn Tiêm kích 26, thuộc Liên đoàn Tiêm kích 51 của Không lực 14 Không lực Lục quân Hoa Kỳ, có căn cứ đặt tại vùng Hoa Nam, Trung Quốc, phải nhảy dù xuống địa phận Cao Bằng sau khi máy bay của ông gặp trục trặc về động cơ. Cán bộ Việt Minh đầu tiên mà Shaw gặp không biết tiếng Anh, tuy nhiên bằng cử chỉ người ấy đã dẫn Shaw đến phòng làm việc của một cán bộ Việt Minh khác tên là Phạm Văn Đồng tại vùng Nước Hai.[8] Mười ngày sau, Shaw nhận được lá thư từ Uỷ ban Trung ương Việt Minh chào mừng Shaw và thông báo "chúng tôi đã ra lệnh cho Căn cứ địa của chúng tôi tại Cao Bằng tiến hành tất cả các biện pháp cần thiết để bảo vệ tính mạng của ngài và hộ tống ngài ra biên giới Bắc Kỳ – Trung Quốc", đồng thời đề nghị Shaw giúp xây dựng tình hữu nghị vững mạnh giữa Hoa Kỳ và Việt Minh. Vài ngày sau, Shaw được Phạm Văn Đồng đưa đến gặp "một nhà ái quốc nói tiếng Anh". Người đó là Hồ Chí Minh và lần đầu tiên sau hơn hai tuần, Shaw mới được nói chuyện bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Hồ Chí Minh đã tặng Shaw một bản Chương trình Việt Minh đã được Hồ Chí Minh dịch ra tiếng Anh. Đến tháng 12 năm 1944, Shaw được Việt Minh đưa về Côn Minh an toàn,[9]

“ Tháng 12, những người bạn Đông Dương đưa tôi trở về Trung Quốc. Trước khi chia tay, họ dặn đi dặn lại tôi phải gửi lời chào tốt đẹp nhất của họ tới quân đội và nhân dân Mỹ. Lần bắt tay cuối cùng họ hô to "Hoa Kỳ muôn năm! Roosevelt muôn năm! Tướng Chennault muôn năm!", và tôi hô to đáp lại, "Đông Dương muôn năm! Việt Minh muôn năm!" Tôi rất vui khi được quay trở lại và kể với đất nước tôi và những đồng minh của nó về tình hình thực tế tại Đông Dương.[10] ”
Sau khi đọc được báo cáo của Chenault từ Côn Minh, Giám đốc Cơ quan Tình báo Chiến lược Hoa Kỳ, Thiếu tướng William J. Donovan, đã đồng ý và cho phép OSS/GBT tiến hành nhiệm vụ tại Đông Dương. Trung úy OSS Charles Fenn được giao nhiệm vụ duy trì liên lạc từ Côn Minh tới Việt Minh. Hồ Chí Minh được Fenn tự ý "tuyển" thành một đặc vụ trong mạng lưới tình báo của Fenn, có mật danh Lucius, và có nhiệm vụ cung cấp các thông tin tình báo ở Bắc Kỳ cho GBT và OSS thông qua Fenn.[11] Khi Hồ Chí Minh về nước, OSS đã cử hai chuyên viên của tổ chức GBT – sĩ quan tình báo người Mỹ gốc Hoa tên Frankie Tan và chuyên gia về điện đài Mac Shin, đi theo. Tháng 4 năm 1945, Hồ Chí Minh, Mac Shin và Frankie Tan được máy bay quân sự Mỹ đưa từ Côn Minh đến biên giới Trung Quốc – Việt Nam phía bắc Cao Bằng. Từ đó, cùng với các thành viên Việt Minh được chọn để huấn luyện tình báo và một nhóm nhân viên bảo vệ, họ bí mật vượt qua biên giới về Pắc Bó, căn cứ địa cách mạng. Sau đó, cả nhóm tiếp tục xuyên qua núi rừng Việt Bắc, tránh các đội tuần tra của quân Nhật, bám theo các cơ sở cách mạng, và tháng 5 năm 1945 tới căn cứ địa Tân Trào.[3]

Nhân dân xã Minh Thanh cùng bộ đội Việt Minh đang xây dựng sân bay dã chiến Lũng Cò để tiếp nhận máy bay cỡ nhỏ của quân đội Đồng Minh ở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Ở Tân Trào, Mac Shin đã thiết lập và hằng ngày thực hiện một đến hai phiên liên lạc điện đài với Côn Minh. Ông đã báo cáo các thông tin về thời tiết, các cuộc chuyển quân của Nhật do mạng lưới trinh sát của Việt Minh thu thập được. Ngoài ra, ông cũng hướng dẫn một số cán bộ Việt Minh sử dụng điện đài. Giữa tháng 6 năm 1945, Trung úy Daniel "Dan" Phelan, một chuyên viên thuộc Bộ phận Hỗ trợ Không-bộ (Air Ground Aid Section – AGAS), được phân công nhảy dù xuống căn cứ địa Tân Trào để cùng lực lượng Việt Minh chuẩn bị về mặt hậu cần, trong đó có việc xây dựng một đường băng dã chiến nhỏ (Sân bay Lũng Cò) ở địa phận xã Minh Thanh, Tuyên Quang để tiếp nhận máy bay cỡ nhỏ của Đồng Minh hạ cánh tại Bắc Đông Dương.[3] Trước đó, Fenn đã gửi tin cảnh báo tới Phạm Văn Đồng rằng Phelan "có thiện cảm với người Pháp", "về cơ bản là kẻ thực dụng", nhưng "có thể thích nghi khi đã học được hoàn cảnh thực tế". Sau khi tiếp đất, Phelan được Frank Tan đón rồi đưa tới Tân Trào giới thiệu với Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và các cán bộ Việt Minh quanh căn cứ.[12][13] Trong suốt thời gian ở cùng Việt Minh, Phelan đã có một cái nhìn khác. Một tuần sau khi đến Tân Trào, Phelan gửi một bức điện về GBT ở Côn Minh:
“Các ngài đang hiểu lầm quan điểm của Việt Minh. Họ không chống Pháp mà chỉ là những người yêu nước, những người xứng đáng được tin tưởng và ủng hộ hoàn toàn.

Nhảy dù xuống Tân Trào
Ngày 16 tháng 5 năm 1945, một đội SO (Special Operation), có bí danh Con Nai, được thành lập dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Allison K. Thomas. Đội Con Nai bao gồm bảy thành viên:
Thiếu tá Allison K. Thomas – chỉ huy trưởng
Trung úy Rene J. Défourneaux – phó chỉ huy trưởng (dùng bí danh Raymond Douglas khi ở Việt Nam)
Thượng sĩ Nhất William F. Zielski – điện đài viên
Trung sĩ Tham mưu Lawrence R. Vogt – chuyên viên vũ khí
Trung sĩ Aaron Squires – nhiếp ảnh gia chiến trường
Binh nhất Henry A. Prunier – thông dịch viên tiếng Việt
Binh nhất Paul V. Hoagland – quân y

Nhiệm vụ hàng đầu của Đội Nai là ngăn chặn các tuyến liên lạc của Nhật, đặc biệt là đường sắt và hệ thống đường bộ của Pháp trong khu vực Hà Nội – Lạng Sơn. Nhiệm vụ thứ yếu là "hoạt động với du kích quân" và "báo hiệu mục tiêu cho lực lượng không quân". Ngày 16 tháng 7, Thomas nhảy dù xuống khu vực lân cận làng Tân Trào, Kim Long cùng hai thành viên đầu tiên của Đội Nai là Binh nhất Henry Prunier và Thượng sĩ William Zielski. Nhảy dù cùng với các thành viên Đội Nai là ba phái viên người Pháp – một sĩ quan cấp Trung úy tên là Montfort, và hai "đại diện" của quân đội Pháp, Trung sĩ Logos, một người Pháp lai Á và Trung sĩ Phác, một người Pháp gốc Việt.[14][15]

OSS ban đầu định để cho Đội Con Nai hành quân trên quãng đường bộ dài 300 dặm (gần 483 km) tới Tân Trào, nơi dự định đặt các trại huấn luyện của Việt Minh. Nhưng phía Trung Quốc cảnh báo OSS rằng quân Nhật đang chờ sẵn ở biên giới để ngăn chặn mọi lực lượng của phía Đồng minh. Vì vậy, thay vì đi bộ, từng thành viên của Đội được vận chuyển bằng máy bay Piper Cub tới thị trấn Po Sah, cách biên giới Việt Trung khoảng 50 dặm (80 km), nơi đóng vai trò đầu mối liên lạc giữa Côn Minh và Tân Trào. Một buổi sáng ngày 16 tháng 7 năm 1945, ba thành viên đầu tiên của Đội Con Nai và ba nhân viên quân đội Pháp Tự Do lên một chiếc máy bay C-47 Dakota, nhưng khi tới nơi viên phi công không thể nhìn thấy những chiếc khăn trắng làm ám hiệu cho biết mặt đất bên dưới là khu vực an toàn. Cuối cùng, Thomas và những thành viên khác đều đánh liều nhảy xuống. Tới mặt đất, trong khi đang thu xếp dù, họ nhìn thấy vài chục người tiến đến, không rõ là người Trung Quốc hay Việt Nam. Đa số là các thiếu niên, ngoại trừ một người thấp hơn, mặc áo vải lanh màu trắng, đi giày đen, đội mũ phớt màu đen, được mọi người gọi là "Anh Văn." Sau này các thành viên Nhóm Con Nai mới được rằng biết tên thật của ông là Võ Nguyên Giáp.[16]

“ Đầu tiên chúng tôi đi dưới lối đi có mái vòm bằng tre bên trên có một biển hiệu "Chào mừng những người bạn Mỹ của chúng ta." Sau đó chúng tôi gặp Mr. Ho - nhà lãnh đạo của Việt Minh. Ông đã đón tiếp chúng tôi rất thân mật. Người ta đã mổ một con bò để tỏ lòng trân trọng chúng tôi và tặng cho chúng tôi một thùng bia Hà Nội thu được sau cuộc tấn công bất ngờ vào một đoàn hộ tống Nhật. Chúng tôi đã đánh một giấc ngon lành trong căn lều tiện lợi bằng tre trong khu rừng trên một quả đồi.[17] ”
Trong khi người Mỹ được đối xử tử tế thì những người Pháp đi cùng đoàn lại không được như vậy. Dù được cảnh báo trước về "mối căm thù của Việt Minh với người Pháp", Thomas vẫn chấp nhận cho người Pháp nhảy dù cùng đội của ông xuống Tân Trào. Khi Đội Nai vừa chạm đất, ba người Pháp đã nhanh chóng bị phát hiện. Montfort bị một cán bộ Việt Minh, người đã phục vụ dưới quyền anh ta trong quân đội thuộc địa Pháp, nhận ra; Phác bị nhận diện trước tiên như một người ủng hộ Pháp và sau đó là "thành viên của một đảng thân Tàu, Việt Nam Quốc dân Đảng". Do đó, khi Thomas, Prunier và Zielski được hộ tống qua lối đi có mái vòm bằng tre thì ba người kia bị Việt Minh quây chặt, buộc Frank Tan phải can thiệp.[18] Tuy Hồ Chí Minh nói thông thạo tiếng Pháp, nhưng ông không chấp nhận nói ngôn ngữ này, thay vào đó chỉ nói chuyện với các thành viên Con Nai bằng tiếng Anh và tiếng Việt. Do Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp tỏ sự không tin tưởng các sĩ quan người Pháp và người Pháp gốc Việt trong nhóm, Thomas quyết định cho ba người rời khỏi đội của ông. Ngày 30 tháng 7, Montfort, Phác và Logos rời Tân Trào và trà trộn vào một nhóm người Pháp tị nạn về Tam Đảo để được đưa về Trung Quốc.[19]
Ngày 29 tháng 7, đợt thả quân bổ sung thứ hai được tiến hành, bao gồm Trung úy Rene Defourneaux, Trung sĩ Tham mưu Lawrence Vogt, Trung sĩ Aaron Squires, Binh nhất quân y Paul Hoagland. Lần này Hồ Chí Minh không thể có mặt để chào đón họ vì ông đang mắc những căn bệnh nhiệt đới như lỵ và sốt rét, nhưng ông vẫn cố gắng tranh thủ sự kiện họ đến nơi. Nằm trên giường bệnh, ông đề nghị nhân dân địa phương đến khoảng rừng thưa và chờ đợi những người Mỹ "rơi từ trên trời xuống". Khi các thành viên Đội Nai tiếp đất an toàn, họ được Tan, Phelan, Zielski và Võ Nguyên Giáp, chào đón. Không một ai bị thương, và những người Mỹ một lần nữa lại được hộ tống đi trên lối đi dưới mái vòm tre có khẩu hiệu "Chào đón những người bạn Mỹ của chúng ta". Cả đội không được gặp Thomas và Prunier cho tới đêm hôm sau; hai người này lúc đó đi trinh sát vị trí phòng thủ của Nhật tại Chợ Chu, nơi Thomas muốn lập kế hoạch tấn công nhưng chiến tranh đã kết thúc trước khi ông có cơ hội làm điều đó.[20][21][22]

Trong những ngày đầu ở doanh trại, các thành viên mới của Đội Nai đã gặp gỡ nhiều cán bộ Việt Minh và một vài người dân ở khu vực xung quanh. Tuy nhiên, một người đáng quan tâm là Hồ Chí Minh thì lại vắng mặt. Hôm cả đội đổ bộ, Võ Nguyên Giáp đã xin lỗi vì sự vắng mặt của Hồ Chí Minh, ông nói với những người Mỹ mới đến là "chỉ huy" của họ bị ốm. Đến ngày 3 tháng 8, Hồ Chí Minh vẫn không xuất hiện. Một vài thành viên trong đội, gồm Défourneaux và Paul Hoagland, quyết định đi vào ngôi làng gần đó để gặp Hồ Chí Minh và xem ông có cần giúp đỡ gì không. Khác với mô tả của những sĩ quan tình báo Pháp về người đàn ông "tàn nhẫn" và "nguy hiểm", các thành viên Đội Nai rất ngạc nhiên về diện mạo của Hồ Chí Minh. Thay vì một con người gớm guốc, họ chỉ thấy dường như đây là một người ốm yếu, gầy dơ xương đang lơ lửng gần cái chết. Nhờ sự cứu chữa của Hoagland, Hồ Chí Minh đã khỏe lại sau khoảng mười ngày, và có thể đứng lên đi lại bình thường.[23][20][24][22]
Một đội SO thứ hai, mang bí danh Con Mèo (Cat Team), bao gồm ba thành viên: Đại úy Charles M. Holland, Trung sĩ John Burrows và điện đài viên – Trung sĩ John L. Stoyka. Họ nhảy dù xuống khu trại của Việt Minh tại Tân Trào vào ngày 29 tháng 7 cùng với đợt đổ quân thứ hai của Đội Nai. Do có nhiệm vụ riêng biệt với Đội Con Nai, nên sau cuộc gặp gỡ với các cán bộ Việt Minh, họ lập tức di chuyển vào rừng, lập trại riêng và thực hiện nhiệm vụ của mình.[21] Nhóm Con Mèo bị quân Nhật bắt sống vào giữa tháng 8 năm 1945. Stoyka, vốn là một cựu binh từng hoạt động ở sau phòng tuyến quân đội Đức Quốc Xã tại Pháp, đã trốn thoát được. Những người dân làng Việt Nam đã cứu giúp anh và đưa anh về trại của Đội Con Nai. Holland và Burrows may mắn sống sót qua chiến tranh và được người Nhật thả tự do tại Hà Nội vào ngày 31 tháng 8 năm 1945. Tại đó, họ được Hồ Chí Minh đã chào đón nồng nhiệt với tư cách là những người đại diện của Hoa Kỳ tại Việt Nam.[25]

Huấn luyện bộ đội Việt Minh

Các thành viên Đội Nai đang huấn luyện du kích Việt Minh sử dụng súng M1 Carbine. Trung úy Rene Defourneaux là người đeo ống nhòm đứng ở giữa.
Trong sáu ngày đầu tháng 8, Việt Minh và người Mỹ cùng nhau dựng trại huấn luyện. Trong khi người Việt tập trung dựng "những toà nhà thường không nhiều hơn bốn bức tường, một mái tranh và một cái nền", thì người Mỹ tập trung vào nội thất của ngôi nhà mới. Họ làm vội những chiếc giường ngủ, bàn ghế và vách ngăn. Trong vòng một tuần, trại huấn luyện gồm ba doanh trại dành cho bộ đội Việt Minh, một doanh trại dành cho lính OSS, một phòng họp, một nhà bếp, một kho hàng, một trạm xá và trụ sở liên lạc, một trường bắn rộng khoảng 140 m², và một khu vực huấn luyện ngoài trời. Cuối bãi huấn luyện có một cây cao được dùng làm cột treo cờ Việt Minh. Hồ Chí Minh đã chỉ thị chọn người trong các đơn vị Giải phóng quân để tổ chức một đại đội gọi là Bộ đội Việt – Mỹ. Đơn vị này do Đàm Quang Trung làm Đại đội trưởng, Thiếu tá Thomas là Tham mưu trưởng, quân số của đại đội khoảng 110-200 người. Trong thời gian ở tại chiến khu Tân Trào, các thành viên toán Con Nai tập trung huấn luyện cho đại đội Việt – Mỹ sử dụng vũ khí và chiến thuật du kích. Ngoại trừ Zielski làm nhiệm vụ liên lạc điện đài, tất cả các thành viên của Đội Nai đều tham gia huấn luyện cho Việt Minh. Thomas đã mang theo những cuốn giáo trình huấn luyện của quân đội Hoa Kỳ về cách sử dụng vũ khí Mỹ và đợt huấn luyện bắt đầu ngày 9 tháng 8 – ba ngày sau vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima. Không hề hay biết về sự kiện trên, Đội Nai tiếp tục huấn luyện cho Việt Minh để chuẩn bị cho cuộc chiến chống Nhật. Bộ đội Việt Minh được huấn luyện cách sử dụng súng M1 Garand, M1 Carbine, M1928/M1/M1A1 Thompson, súng chống tăng M9 Bazooka, và súng máy các loại. Chương trình huấn luyện gồm phép đạc tam giác, tập bắn, vệ sinh vũ khí, và cách sử dụng súng cối và lựu đạn. Việc tập luyện diễn ra từ ngày 9 cho đến 15 tháng 8, từ 05:30 đến 17:00.[26][27][28][29]

Trung sĩ Lawrence R. Vogt hướng dẫn du kích Việt Minh cách sử dụng súng M1 Carbine gắn ống phóng lựu M8. Mặc quần dài đen đứng phía sau là Binh nhất Paul Hoagland.
Từ ngày 10 tháng 8, ba chuyến máy bay vận tải C-47 Dakota đã thả nhiều loại vũ khí, trang thiết bị và đồ y tế cho lực lượng tại Tân Trào. Ước tính người Mỹ đã thả một khẩu đại liên, hai súng cối M2 60 mm, bốn súng chống tăng M9 Bazooka, tám súng máy Bren, 20 tiểu liên Thompson, 60 súng trường M1903 Springfield, 60 súng M1 Carbine, 20 súng ngắn Colt, một số ống nhòm và các tài liệu huấn luyện của Lục quân Hoa Kỳ về chiến tranh du kích. Ngoài ra còn một số vũ khí được đưa vào bằng đường bộ cùng Frankie Tan và Mac Shin trước đó. Tổng thời gian nhóm OSS dành để huấn luyện người Việt chỉ kéo dài ít tuần trong tháng 7 và tháng 8. Ngoài Võ Nguyên Giáp, nhóm còn huấn luyện kĩ năng chỉ huy cho ít nhất hai chỉ huy quân sự cấp cao khác, trong đó có Đàm Quang Trung, Hoàng Văn Thái và Vũ Lập. Trang thiết bị được thả dù xuống Việt Bắc vào ba vị trí thả đồ tiếp tế của Đội Nai, kết hợp với những loại vũ khí nhẹ do Việt Minh chế tạo tại những nhà máy quân khí đơn sơ của họ trong rừng đã tạo thành một đội quân được trang bị vũ khí đầy đủ. Henry Prunier đã nhận xét "Đây là một nhóm được tinh tuyển từ nhiều nơi khác nhau tại Việt Nam. Họ hoàn toàn không phải là những người nông dân tầm thường".[3][30][31][29]

Trong khi Thomas đề nghị huấn luyện binh lính tại khu căn cứ và sau đó, "khi họ đã thành thạo" thì tấn công Nhật tại những khu vực nguy hiểm hơn gần Thái Nguyên và Lạng Sơn, thì Trung úy Défourneaux không đồng ý với bản chất của cả huấn luyện lẫn giả thuyết huấn luyện Việt Minh tổng thể,
“ Chúng tôi đang huấn luyện tân binh cho cuộc chiến tranh thông thường trong khi dự tính các hoạt động du kích. Nhân tố quan trọng nhất đối với một hoạt động du kích thành công là sự hiểu biết địa hình. Điều này chắc chắn không có trong phạm vi chuyên môn của chúng tôi. Những người mà chúng tôi đang huấn luyện có thể hoạt động khắp Đông Dương mà không sơ bị phát hiện như những người không phải là dân bản xứ. Là người phương Tây, chúng tôi không có cách nào thuyết phục người dân địa phương cầm lấy vũ khí và chống lại thế lực xâm lược... Tất cả những gì cần từ chúng ta là vũ khí, và huấn luyện cách sử dụng những loại vũ khí này.[32] ”
Mặc dù còn nhiều nghi ngờ về Việt Minh, nhưng Défourneaux vẫn khẳng định rằng họ là những học viên quân sự giỏi và Hồ Chí Minh cũng là một "người tài ăn nói, có phạm vi hiểu biết rộng". Hồ Chí Minh đã nói với Défourneaux rằng ông sẽ chấp nhận một "thời kỳ quá độ, trong đó Pháp sẽ hướng dẫn và cuối cùng sẽ chuyển giao trách nhiệm điều hành cho những người Đông Dương được lựa chọn".[33]
------------------------------------------------------------

HỒ CHÍ MINH GỮI THƠ CHO TT TRUMAN

The following is a Jan. 18, 1946, letter written by Ho Chi Minh to U.S. President Harry Truman made available by the U.S. National Archives.


Dear Mr. President,
On the occasion of the first assembly of the United Nations in London, I beg to congratulate you for the continuous and successful efforts your Government has been making to maintain Peace and Security all over the World.
As Peace is indivisible and as the Far East is being taken into especial consideration by your high Representative in China, General MARSHALL, I think it our duty to inform you on what is going on in our country and on what grave consequences for World Security the aggressive war inflicted upon us by the French may bring about.
As early as 1941, Vietnam has risen up against the Japanese fascists, and taken arms by the side of the Allies. After the Japanese surrendered to the Allies, a Provisional Government was set up to restore order and eradicate all fascist intentions in Vietnam. Supported by the whole nation, it carried out a democratic program, and succeeded in restoring order and discipline everywhere. Under very difficult circumstances, general elections for National Congress were organized and took place on January 6th 1946 throughout the land, including 9,000,000 electors of whom more than 90% went to the polls.
The French colonialists, on the contrary, surrendered to the Japanese as early as September 1941. For four years they wholeheartedly cooperated with the Japanese to fight against the Allies and to repress the Vietnamese population. On March 9th, 1945, five months before the Japanese were defeated, the French by a second surrender, lost all right and control over Indochina.
On September 23rd, 1945, while the New Vietnam Democratic Republic was making strenuous efforts to carry out her reconstruction program, the French launched a night attack on the innocent population of Saigon, which was followed up by a systematically destructive and murderous warfare. Facts of looting, assassination of civilians, violence, indiscriminate bombing of non-strategical places by war planes, are reported everyday. Their intention is to invade the whole country and to reestablish their domination.
In the meanwhile, after the offer of interference voiced by Mr. VINCENT CARTER, Chairman of the Far-East Department, our people enthusiastically welcomed President TRUMAN’s address on October 28, 1945, in which he vigorously and concretely set forth the principles of self-determination and equality of status laid down in the Atlantic and San Francisco Charters.
Since that time, the French have tremendously increased their fighting forces. Millions of people will suffer, thousands will be killed and invaluable properties will be destroyed, unless the United States would step out to stop that bloodshed and unlawful aggression.
For this reason, on behalf of my people and Government, I respectfully request you to interfere for an immediate solution of the Vietnamese issue. The people of Vietnam earnestly hopes that the great American Republic would help us to conquer full independence and support us in our reconstruction work.
Thus, with the assistance of China and the United States, both in capital and technique, our Vietnam Republic will be able to bring her share in the building-up of World Peace and World Prosperity.

With respect,
I am, dear President,
Yours truly,
Ho Chi Minh

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét