Cách mạng Tháng Tám 1945 thường được tuyên truyền như “mốc son chói lọi” mở đầu kỷ nguyên độc lập của đất nước dân tộc Việt Nam. Nhưng với nhiều đồng bào tỵ nạn cộng sản hải ngoại và cả người dân đang sống dưới chế độ độc tài vô thần cộng sản, thì đó chỉ là khởi điểm của một chuỗi bi kịch lịch sử của dân tộc Việt Nam khi ý thức hệ Mác–Lênin cộng sản được Hồ Chí Minh du nhập vào Việt Nam. Gây cuộc nội chiến tương tàn “gà nhà bôi mặt đá nhau”, đưa dân tộc vào vòng bạo lực, độc tài giai cấp đấu tranh, “cải tạo” tẩy não tư tưởng, và chia sẽ thâm độc kéo dài đến tận hôm nay vẫn chưa kết thúc.
<!>
Bài viết này ôn lại từng giai đoạn lịch sử theo hai góc nhìn – bên thắng cuộc và bên thua cuộc gồm những chứng nhân nạn nhân cộng sản – để góp phần nhìn thẳng vào sự thật lịch sử Việt Nam dưới ách thống trị độc tài vô thần Cộng Sản.
I. Giai đoạn một (1945–1954): Giành chính quyền và gieo hạt mầm ý thức hệ cộng sản (1/3)
II. Giai đoạn hai (1954–1975): Chiến tranh ý thức hệ và biển máu đồng bào vô tội (2/3).
III. giai đoạn ba: (1975–2025): Trong cái rủi có cái may (3/3)
Sau đây là Giai đoạn III. (Giai đoạn I và II xin đính kèm nguyên bài trong attach)
Giai đoạn ba: 1975–2025 – Trong cái rủi có cái may (3/3).
Sau 1975, chính sách “cải tạo công thương nghiệp”, “hợp tác hóa” khiến kinh tế miền Nam sụp đổ. Lạm phát phi mã, nạn đói diễn ra ngay tại “Thiên Đường Xã Hội Chủ Nghĩa”. Người dân phải ăn “bo bo” khoai sắn, phải sống bằng chế độ “tem phiếu”, độc tài đảng trị cộng sản vô thần. Còn khổ hơn sống dưới chế độ Thực Dân Pháp đô hộ. Lời chứng mà chính tai tôi nghe của một bác sỹ tiểu tư sản Miền Nam nghe theo cộng sản tập kết ra miền Bắc, trong nhóm hội thảo của Tướng Trần Độ mà tôi đã chứng kiến sau mười năm tù tội, về Saigon 1984 mà tôi đã đến nghe họ nói chuyện. Họ còn nói khi phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đến thăm các trường đại học Liên Xô, họ mua mấy cái máy tính cộng trừ nhân chia của trẻ con bán một đồng một cái ở vỉa hè chợ Bến Thành và đường Nguyễn Huệ saigon sau 1975 đem sang biếu họ thấy lạ và mừng lắm. Họ kết luận với nhau “mổ cha không khóc đi khóc đống Mối. Mà quả thật, tôi cũng thấy các chuyên gia Nga ngồi lê ở vỉa hả, mồ hôi nhế nhại chọn giày dép cho con của họ. Tôi thấy Việt Nam Cộng Hòa mất đi cũng có tác làm cho khối cộng sản mở mắt ra về sự “phồn vinh giả tạo” của tư bản mà chúng thường chê bai, chúng đều vét sạch: đồng hồ, xe đạp, quạt máy, quần jean quần bò, chợ trời đề đông nghẹt và bán đắt như tôm tươi. Cộng Sản Việt Nam can thiệp vào Campuchia, xung đột với Trung Cộng 1979, bị cô lập ngoại giao. Mô hình Liên Xô bộc lộ phá sản; Đảng Cộng Sản Việt Nam bắt buộc phải “Đổi Mới” năm 1986 để cứu nguy chế độ, bắt chước tư bản nhưng thêm vào cái đuôi “Xã Hội Chủ Nghĩa” cho đỡ mất mặt.
3.1. Đổi mới của cộng sản
Đổi Mới của cộng sản nghe có vẻ “canh tân đổi mới tiên tiến” nhưng thực ra nó lại có nghĩa ngược lại: Là “đổi về lại cái cũ”; người nông dân không còn bị ép buộc vào “Hợp Tác Xã Nông Nghiêp”, “cha chung không ai khóc” nữa, mà được tự do cày cấy trồng trọt như chế độ cũ thời phong kiến, thời Việt Nam Cộng Hòa. Thế là nông dân lại được tự mình cần cù chăm lo cày cấy trên thửa đất của mình, lam lũ làm ăn, cày sâu cuốc bẫm. Vun bón cho ruộng lúa, vườn cây của mình, chỉ đến mùa mới phải đóng thuế. Thế là dân chúng nghèo khổ đói ăn khi ở “Hợp Tác Xã Nông Nghiệp” thì ngày nay có cơm ăn áo mặc, có dư thừa thóc lúa xuất khẩu. Đó là cách “đổi mới” sang “đổi cũ” của cộng sản Việt Nam theo kiểu “hồng hơn chuyên” sang kiểu tư bản: “Mèo trắng hay mèo đen, miễn là bắt được chuột” của Đặng Tiểu Bình Trung Cộng.
3.2. Cũng sau 1975, cộng sản làm cho đất nước điêu tàn. Mỗi lần cộng sản đổi tiền cũ thành tiền mới là mỗi lần dân chúng Miền Nam bị rút ruột hết của chìm của nổi. Dân bị độc tài cộng sản đồng chủng thống trị còn khổ hơn thời kỳ phong kiến và thời kỳ kỳ 60 năm bị thực dân Pháp đô hộ. Dân bị áp bức, dân đói, dân nghèo, dân trốn chạy ra khỏi nước. Đến năm 1986, Đảng Cộng Sản Việt Nam bắt buộc phải “Đổi Mới” — nghĩa là tự cứu để tồn tại.
Đổi mới kinh tế nhưng không đổi mới chính trị. Những khẩu hiệu “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “thi đua lao động”, “Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm gà gáy”, chống tham nhũng, “xây dựng xã hội chủ nghĩa” vẫn vang lên, trong khi quyền con người vẫn bị bóp nghẹt. Họ dám gan lỳ xin Cơ Quan văn Hóa Liên Hiệp Quốc UNESCO công nhận Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới, nhưng họ quên rằng bao nhiêu người dân, trí thức, linh mục, mục sư, văn nghệ sĩ đã bị đày đọa chỉ vì không chịu tôn vinh Hồ Chí Minh, không chịu làm bồi bút cho chế độ cộng sản. Vì thế, Phong Trào “No Hồ” của đồng bào Việt Nam tỵ nạn cộng sản trên khắp thế giới đã chung vai sát cánh, đồng chứng minh cho UNESCO biết mặt thật của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam phản dân hại nước, không xứng đáng với danh xưng: “Danh Nhân Văn Hóa Thế Giới”. Và Phong Trào “No Hồ” đã thành công. Hồ Chí Minh đã trơ tráo, tự mình viết sách ca tụng mình: “Cuộc đời của bác Hồ” với ngụy danh là Trần Dân Tiên. Đã là thơ bác bác, tôi tôi với Đức Trần Hưng Đạo, ngài ra khi tới thăm đất nước Indonesia, còn ôm hôn các cháu nhi đồng Indonesia cầm cờ đón chào theo kiểu gì không biết nhưng đã làm cho chính Phủ Indonesia phải chính thức lên tiếng không cho phép Hồ Chí Minh hôn các cháu nhi đồng Indonesia như thế nữa! Những ai không tin thì lên mạng xã hội mà xem cho biết các kiểu hôn ấu dam của Hồ. So với tư cách nhân cách của Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì còn kém xa!
3.3. Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh
Thế nhưng, trong cái rủi cũng có cái may. Sau biến cố 1975, hàng triệu người Việt tỵ nạn cộng sản đã bỏ nước ra đi. Thế hệ ban đầu đa số phải lo mưu sinh, tái định cư tại những nước cho phép nhập cư. Đông nhất là Hoa Kỳ. Nhưng rồi qua thế hệ thứ hai, thứ ba, con cháu tỵ nạn chúng ta đã vươn lên khắp nơi: trong khoa học, kỹ thuật, y học, quân sự, văn chương, chính trị vv... Người Việt hải ngoại đã trở thành nguồn trí tuệ và đạo đức mới cho tương lai đất nước dân tộc.
So với phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục của hai tiền bối Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh ngày xưa, thì hôm nay chúng ta có thể nói ngoa một chút: đó là một trời một vực. Nếu các thế hệ Việt Nam hải ngoại nhớ lời học giả Nguyễn Văn Vĩnh: “Tiếng Việt còn, nước Việt còn; tiếng Việt mất, nước Việt mất”, thì chính con cháu hải ngoại chúng ta sẽ là nguồn mạch sống hồi sinh của Dân Tộc Việt Nam sau khi bóng tối cộng sản tan biến.
3.4. So sánh Tết Mậu Thân và Mùa hè Đỏ Lửa 1972 với ngày 30/04/1975 Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử
Trong cuộc chiến ý thức hệ Quốc-Cộng Việt Nam, Việt Nam Cộng Hòa là tiền đồn của thế giới tự do, ở thế phòng thủ, ngăn chặn Việt Cộng và trung Cộng lan tràn khắp vùng Đông Nam Á, nên ở thế nhòng ngự thụ động, không được tấn công Miền Bắc Cộng Sản. Trong khi đó thì Cộng Sản bắc Việt được quyền tấn công Việt Nam Cộng Hòa ào ạt theo kiểu “Sinh Bắc Tử Nam”!
Trong cuộc chiến đó, có ba biến cố sinh tử là Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 và ngày Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử ngày 30 Thánh Tư năm 1975.
Trong ba biến cố đó thì Việt Nam Cộng Hòa đã chiến thắng Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 nhưng đã bị bức tử ngày 30 Thánh Tư năm 1975 vì bị đồng minh minh bỏ rơi để rút quân trong “danh dự”. Viện trợ bị cắt mạnh (đạn pháo, xăng dầu, không yểm).
Quân đội VNCH: thiếu tiếp vận nghiêm trọng, tinh thần suy sụp vì bị bỏ rơi. Các quyết định rút quân chiến lược (Tây Nguyên, Huế–Đà Nẵng) gây: hỗn loạn, tan vỡ dây chuyền. Dẫn tới Kết luận 1975:
Việt Nam Cộng Hòa không thua vì kém chiến đấu, mà thua vì mất hậu thuẫn quốc tế.
3.4. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 – một kết cục không phải do thua trận
Nhìn lại ngày 30 tháng 4 năm 1975, nếu chỉ nhìn vào hình ảnh xe tăng cộng sản tiến vào Sài Gòn như chỗ không người thì người ta dễ kết luận rằng miền Nam đã thua một cuộc chiến. Nhưng đối với những người đã sống qua thời đó, đặc biệt là những ai từng chứng kiến Biến Cố Tết Mậu Thân, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, thì sự thật không đơn giản như vậy.
Năm 1972, Bắc Việt mở cuộc tổng tấn công quy ước lớn nhất trong chiến tranh, đánh thẳng vào Quảng Trị, An Lộc và Kontum. Đó là những trận đánh mà đất đá cũng không còn nguyên vẹn, nơi người lính miền Nam chiến đấu trong điều kiện khốc liệt chưa từng có. Vậy mà Quân lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn trụ vững. An Lộc không thất thủ. Kontum được giữ vững. Và Cổ Thành Quảng Trị được tái chiếm sau 81 ngày đêm đẫm máu. Nếu miền Nam yếu kém hay không có ý chí chiến đấu chống cộng sản Miền Bắc xâm lược, thì Việt Nam Cộng Hòa đã không còn tồn tại.
Điều khác biệt giữa 1972 và 1975 không nằm ở người lính, mà nằm ở bàn cờ chính trị quốc tế. Năm 1972, miền Nam còn tiếp vận, còn không quân yểm trợ, còn một niềm tin đồng minh sẽ không bỏ rơi. Đến năm 1975, tất cả những điều đó đều không còn. Đạn dược thiếu, nhiên liệu cạn, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị trói tay, có súng mà không có đạn thì súng chỉ còn là những que củi vô dụng. Và quan trọng hơn hết là tinh thần Quân-Dân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa bị bào mòn bởi cảm giác bị đồng minh bỏ rơi.
Vì vậy, ngày 30 tháng 4 năm 1975 không phải là ngày miền Nam thua trận vì không chiến đấu, mà là ngày miền Nam gục ngã vì bị tước mất khả năng tự vệ trong một cuộc chiến chưa hề chấm dứt. Đó là sự sụp đổ của một thể chế trong hoàn cảnh quốc tế bất lợi, phản chiến, thiên tả, chứ không phải là sự cáo chung của ý chí tự do Quân-Dân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa.
3.5. Các vị Tướng Tá Quân-Dân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa đã tự sát ngày 30/04/1975
-Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân đoàn IV / Vùng 4 Chiến thuật. Tự sát rạng sáng 30–4–1975 tại Cần Thơ
-Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, Phó Tư lệnh Quân đoàn IV. Tự sát đêm 30–4–1975. Nổi tiếng với câu nói: “Tôi còn, An Lộc còn”.
-Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh. Tự sát trưa 30–4–1975 tại Lai Khê.
-Thiếu tướng Trần Văn Hai, Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh. Tự sát 30–4–1975 tại Mỹ Tho.
-Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn II. Uống thuốc độc tự tử tại Saigon.
Ngoài các Vị Tướng, còn có nhiều sỹ quan, cảnh sát và viên chức cao cấp tự sát trong cùng thời gian, nhưng không có thống kê đầy đủ, vì: Diễn ra rải rác ở nhiều địa phương, nhiều trường hợp không được ghi chép chính thức, gia đình im lặng vì sợ hãi sau 1975. Một số trường hợp thường được nhắc tới:
-Đại tá Hồ Ngọc Cẩn bị xử bắn, không phải tự sát.
-Nhiều tỉnh trưởng, quận trưởng, sĩ quan cao cấp, một số nhân sĩ dân sự gắn bó với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Giới nghiên cứu thường ước đoán: hàng chục hàng trăm trường hợp tự sát trong giới quân–dân–cán–chính Việt Nam Cộng Hòa.
Việc nhiều tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa chọn cái chết không phải vì thua trận, mà vì họ coi đó là cách cuối cùng để giữ danh dự cá nhân và trách nhiệm đối với binh sĩ của mình. Đây là một hiện tượng hiếm thấy trong lịch sử chiến tranh hiện đại, và phản ánh chiều sâu bi kịch của ngày 30–4–1975.
3.6. Truyền thống tuẫn tiết trong lịch sử việt nam
Trong lịch sử Việt Nam, tuẫn tiết chưa bao giờ là hành vi được khuyến khích, nhưng luôn được nhìn như một lựa chọn đạo lý của người quân tử sỹ phu khi không còn con đường nào khác để giữ trọn danh dự. Từ thời phong kiến đến cận đại, việc chọn cái chết trong giờ phút quốc biến thường gắn liền với hai chữ “trung” và “nghĩa”, chứ không phải vì thất bại quân sự đơn thuần.
Thời nhà Trần, khi đất nước lâm nguy, có những tướng sĩ và trung thần thà chết chứ không chịu hàng giặc. Thời nhà Nguyễn, trong các biến cố mất thành, mất nước, nhiều quan lại chọn cái chết để tỏ rõ rằng mình không cộng tác với chính quyền mới, dù biết rằng cái chết ấy không thể xoay chuyển thời cuộc. Những hành vi ấy không làm lịch sử đổi chiều, nhưng giữ lại một chuẩn mực đạo đức cho hậu thế.
Đặt trong truyền thống đó, việc các tướng lãnh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tuẫn tiết ngày 30 tháng 4 năm 1975 không phải là hành động bột phát hay tuyệt vọng cá nhân, mà là một lựa chọn mang tính văn hóa và truyền thống. Họ không tự sát vì sợ hãi, cũng không vì trốn tránh trách nhiệm, mà vì không chấp nhận sống trong tư thế của người đầu hàng khi binh sĩ của mình đã buông súng theo lệnh đầu hàng của Tổng Thống bất tài Dương Văn Minh, đã, cuối cùng quá tin tưởng vào Thích trí Quang, cán bộ cộng sản hay thân cộng nằm vùng được lèo lái bởi đảng Cộng Sản Miền Bắc, nên Dương Văn Minh đã sụp bẫy cộng sản.
Điểm khác biệt của năm 1975 là: Đây không phải là sự sụp đổ của một triều đại phong kiến, mà là sự kết thúc của một nhà nước trong bối cảnh chiến tranh ý thức hệ toàn cầu. Tuy nhiên, chuẩn mực đạo lý của người cầm quân thì không thay đổi. Khi không còn khả năng bảo vệ đơn vị, không còn quyền chỉ huy, và không còn danh dự để tiếp tục phục vụ, quý vị đó đã chọn cái chết như lời cáo chung cuối cùng.
Lịch sử có thể tranh luận về đúng–sai của các thể chế, nhưng không thể phủ nhận ý nghĩa đạo đức của hành vi tuẫn tiết. Trong truyền thống Việt Nam, người ta kính trọng và ngưỡng phục những vỵ anh hùng “Vị Quốc Vong Thân” đó. Bởi vì đó là hành vi xuất phát từ ý thức trách nhiệm cá nhân trước lịch sử, chứ không phải từ mệnh lệnh nhu nhược bất tài, bất hợp hiến của Dương Văn Minh.
Vì vậy, các tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa tuẫn tiết năm 1975 được nhìn nhận như những người tiếp nối một dòng chảy đạo lý truyền thống của dân tộc, nơi danh dự được đặt cao hơn sinh mệnh khi mọi con đường khác đã khép lại. Đó không phải là sự ca tụng cái chết mà là sự ghi nhận một thái độ sống – và chết – có trách nhiệm với chính mình, với thuộc cấp, và với lịch sử của dân tộc.
Sau ngày đó, hàng triệu người Việt đã rời bỏ quê hương, mang theo ký ức, mất mát và cả niềm hy vọng. Trên đất khách quê người, họ tái định cư và gây dựng lại từ hai bàn tay trắng, để rồi thế hệ một rưỡi, con, cháu, càng ngày càng thành công trong học vấn, khoa học, kỹ thuật và mọi ngành nghề. Nhìn lại, có thể nói đó là nghịch lý của lịch sử, là: Từ một biến cố bi thảm, dân tộc Việt lại hình thành một nguồn lực chất sám mới trải rộng khắp thế giới tự do.
3.7. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi đã không còn là đứa trẻ như năm 1945 nữa, nhưng cái cảm giác lo âu bàng hoàng của người gẫy súng thì cũng giống nhau. Buổi sáng hôm đó, Sài Gòn lạ lắm. Đường phố đông người hơn cuộc đảo chính 1963 vì sự tò mò của người dân trước một biến cố của đất nước, chứ không phải là người dân Việt Nam Cộng Hòa ra đường “đón mừng, chào mừng “giải phóng” như có một số người ngộ nhận theo tuyên truyền cộng sản! Người ta đi mà không nói chuyện, mặt ai cũng căng thẳng. Radio mở suốt từ sáng sớm, tiếng phát thanh lúc được lúc mất, như hơi thở của một người đang hấp hối. Mà quả thật Việt Nam Cộng Hòa đã có một hai chục ngài hấp hối, không có chỉ huy, suốt nhày chỉ nghe đài phát thanh Saigon phát ra từ cuốn băng ghi âm kêu gọi các đơn vị quân đội hãy cố thủ nhưng Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thì đã rã ngũ, không còn ai điều binh khiển tướng nữa, nó âm thầm diễn biến như có ma lực bạn thù lèo lái bức tử Việt Nam Cộng Hòa vậy. Vì thế mặc dù cố thủ tại đơn vỵ cho tới ngày Dương Văn Minh đầu hàng, rồi đi tù mười năm, rồi đi diện H.O9 tới Phi Trường Các Thiên Thần ngày 26/09/1991, rồi sinh hoạt cộng đồng chống chủ thuyến cộng sạn vô thần tại Quận Cam, Nam California cho tới ngày nay. Nhưng tôi thông cảm, chưa bao giờ phê phán các tướng lãnh Quân-Dân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa đã chốn chạy ra khỏi nước trước ngày gẫy súng.
Khoảng gần trưa, tôi nghe tin Tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi ngưng bắn. Người người trong nhà ngoài phố không ai nói với ai một lời. Có người lặng lẽ thắp nhang, có người gom giấy tờ bỏ vào túi, mà cũng không biết để làm gì. Ngoài đường, tôi thấy nhiều người đứng chết trân, như không tin vào điều mắt thấy tai nghe lúc ấy. Có người khóc, có người văng tục chửi thề, có nhiều người nói với nhau: “Thế là hết!”.
Xe tăng cộng sản vào thành phố như chỗ không người. Không có tiếng súng lớn như người ta tưởng. Nhưng chính cái yên lặng đó mới đáng sợ. Những lá cờ đỏ sao vàng và lá cờ của “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, con đẻ của cộng sản Miền Bắc” được treo lên chỉ vài giờ sau khi Sài Gòn đổi màu cờ sắc áo.
Mấy ngày sau, người ta bắt đầu nói đến “học tập cải tạo”. Ban đầu nghe nhẹ nhàng lắm. Người ta bảo chỉ đi mười ngày, mang theo ít đồ, rồi về. Nhưng tôi thấu hiểu cộng sản nên không tin những gì cộng Sản nói. Tôi còn nhớ khi tới nhà người bạn là Thiếu Tá Biệt Động Quân Hoàng Bảo Ngọc, bác thân sinh Ngọc làm ở Việt Nam Thương Tín hỏi tôi: Anh Tùng thấy tình hình thế nào? Tôi thưa với bác: Theo cháu nghĩ thì phải dăm mười năm mới về. Bác nói: Anh Tùng bi quan quá!
Thế mà tôi dự đoán đúng, tôi đi tù mười (10) năm mới về. Có những bạn đồng tù đi không trở lại. Có người trở về thân xác tàn tạ, bệnh tật, chỉ còn da bọc xương. Tôi nhớ mãi hồi đó, Nguyễn Tri Ân, con trai tôi năm sáu tuổi đi chơi với chúng bạn, rồi chạy về nhà hớt hải la lớn: “Saigon Phỏng Dái”, “Saigon Phỏng Dái”! Tôi vừa buồn cười vừa thầm nghĩ trong lòng: À thì ra người Miền Nam Việt Nam Cộng Hòa đã hiểu cộng sản là cái gì nên mới nhanh chóng biến tấu “Giải Phóng thành Phỏng Dái” nhanh đến như vậy!
Nhà cửa bắt đầu bị “quản lý”. Tiệm buôn bị đánh tư sản. Gia đình nào có liên hệ với chính quyền cũ thì sống trong lo âu thường trực. Tôi nhớ rất rõ cảm giác lúc đó: không ai biết ngày mai sẽ ra sao, chỉ biết là phải im lặng để sống!
Rồi đến những năm vượt biên. Ban đầu chỉ nghe nói. Sau đó thì thấy tận mắt. Nhà này bán dần đồ đạc, nhà kia âm thầm biến mất. Có người đi thoát, có người chết ngoài biển. Những cái chết ấy không có mồ mả, chỉ được kể lại bằng nước mắt. Còn người ở lại thì sống tiếp, nhưng trong lòng lúc nào cũng có một khoảng trống vắng, sợ hãi và nhớ tới thời vàng son của Việt Nam Cộng Hòa tự do nhân phẩm như một viên ngọc đã đánh mất.
Có người nói ngày 30 tháng 4 là “giải phóng”. Nhưng trong ký ức của tôi, đó là ngày bắt đầu của một cuộc chia ly lớn. Không chỉ chia Nam – Bắc, mà chia cả gia đình, bạn bè, và chia cả số phận của dân tộc. Từ ngày đó, người Việt bắt đầu sống rải rác khắp bốn phương trời, mang theo một nỗi nhớ chung mà mỗi người gọi bằng một tên khác nhau.
Nhiều năm sau, khi nhìn thấy con cháu của những người ra đi thành đạt ở xứ người, tôi mới hiểu rằng lịch sử không dừng lại vào một ngày nào cả. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 cũng chỉ là một dấu mốc. Còn những gì diễn ra sau đó, trong lòng người Việt, thì vẫn kéo dài cho đến tận hôm nay.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 vì thế không chỉ là một dấu chấm hết, mà còn là một dấu lặng dài tronh một ản nhạc để người Việt suy ngẫm về tự do, về lựa chọn lịch sử và tương lai hậu cộng sản. Như lời học giả Nguyễn Văn Vĩnh từng nói: “Tiếng Việt còn, nước Việt còn. Tiếng Việt mất Nước Việt mất”. Khi người Việt còn giữ được ký ức trung thực và tiếng nói của mình, thì lịch sử quá khứ đau thương vẫn chưa khép lại và tương lai vẫn còn có nhiều cơ hội nảy hoa.
3.5. Lời cuối của người trong cuộc
Giờ đây, khi ngoảnh nhìn lại gần trọn một đời người, tôi không còn muốn tranh luận ai thắng ai thua nữa vì chứng liệu lịch sử công tội giữa Việt Nam Cộng Hòa và Cộng Sản, giữa nhân phẩm và bất nhân, giữa tự do và độc tài đảng trị, giữa yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội độc tài cộng sản, là những vết nhơ, vết son lịch sử không thể tẩy xóa. Điều còn lại trong tôi chỉ là ký ức của một người đã trải qua quá nhiều lần thay đổi màu cờ sắc áo. Tôi đã thấy người ta hô vang khẩu hiệu, rồi thấy người ta thì thầm trong sợ hãi. Tôi đã thấy đất nước thống nhất trên bản đồ, nhưng lòng người đồng bào ruột thịt thì chia lìa tan nát vì cùng là một biến cố lịch sử mà có nửa nước buồn và nửa nước vui. Nếu có điều gì tôi muốn nhắn gửi cho thế hệ sau -sau mời năm tù cộng sản- thì chỉ là xin đừng quên: Tự do không phải là món quà được ban phát, mà là điều phải được gìn giữ bằng chân lý sự thật và ký ức trung thực. Còn tôi, một người đã sống qua những khúc quanh lịch sử đen tối ấy, chỉ mong ước cuối đời những gì mình nhớ lại hôm nay sẽ giúp con cháu ngày mai hiểu rõ hơn con đường đất nước dân tộc đã đi qua — để không phải đi lại con đường đó thêm một lần nào nữa.
Dân tộc Việt Nam chúng ta đã chịu đựng những gian truân, khốn khó, chiến tranh huynh đệ tương tàn. Đã bao lần quê hương đổ chủ: Hơn một triệu người Miền Bắc di cư trốn chạy cộng sản vào Miền Nam năm 1954 và hơi một triệu người Miền Nam di cư trốn chạy cộng sản ra hải ngoại năm 1975. Tổ tiên chúng ta đã vượt thắng bao thời nô lệ để giữ nước và dựng nước. chẳng lẽ con cháu chúng ta lại cam chịu khuất phục dưới ách nô lệ cộng sản độc tài vô thần mãi mãi hay sao?! Tôi tin rằng — như ánh sáng cuối chân trời sau cơn bão - sẽ có một Việt Nam hậu cộng sản, nơi con người có nhân phẩm tự do được sống thật, nói thật, tin thật, trong an bình hạnh phúc.
Giấc mơ hồi hương
Và ngày ấy, khi con cháu ta trở về cố hương -như dân Do Thái- sẽ đứng trước bàn thờ tổ quốc, thắp nén hương trầm dâng lên Tổ Tiên, hồn thiêng sông núi, cho những linh hồn đã chết vì tổ quốc, vì hai chữ “tự do”, để nói với Tổ quốc Việt Nam Bốn Ngàn Năm Văn Hiến rằng:
“Mẹ Việt Nam ơi, chúng con vẫn còn đây!”
Nguyễn Xuân Tùng
Diễn Đàn Kitô-hữu
25-09-22
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét