Nhìn Ra Bốn Phương

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2023

55 NĂM TẾT MẬU THÂN - MỞ HỒ SƠ MẬT CIA !!! - (Đại Nghĩa sưu tầm)

Tháng Giêng năm 2023 là thời điểm đánh dấu 55 năm biến cố Tết Mậu Thân 1968, khi mà Cộng Sản Bắc Việt cùng với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, một tổ chức bù nhìn do Hà Nội dựng lên để làm tay sai tuyên truyền và phá rối địa phương tại Miền Nam Việt Nam, đã mở cuộc tấn công trên nhiều thành phố khắp Miền Nam ngay trong giờ phút thiêng liêng của Lễ Giao Thừa đón Tết cổ truyền của dân tộc. Hệ quả của cuộc tấn công đầy dã tâm đó đã làm cho CS Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thảm bại chua chát trước sự kháng cự và phản công oanh liệt của toàn quân dân Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh Hoa Kỳ quyết giữ vững từng tấc đất tự do. 
<!>
Có tới 36,000 du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và bộ đội CS Bắc Việt đã bị giết chết trong trận tấn công Tết Mậu Thân. Nhưng nạn nhân đau thương nhất vẫn là hàng ngàn người dân Miền Nam vô tội đã chết trong bom đạn của trận chiến, hoặc đã bị du kích Mặt Trận Giải Phóng và quân đội Miền Bắc thảm sát, kinh hoàng nhất là những vụ chôn sống người tập thể tại Thành Phố Huế.

Năm mươi năm qua nhiều tài liệu viết về cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã được biên soạn và phổ biến bởi các bên tham chiến tại Việt Nam, trong đó có Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa và CS Bắc Việt.

Nhưng, các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự Hoa Kỳ đã nghĩ gì, làm gì đối với trận tấn công Tết Mậu Thân? Quân đội Hoa Kỳ và VNCH có biết trước cuộc tấn công Tết Mậu Thân của Việt Cộng và CS Bắc Việt? Tình báo Mỹ và VNCH biết gì, nói gì và làm gì đối với cuộc tấn công Tết Mậu Thân?

Vào ngày 28 tháng 4 năm 1997, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã giải mật hồ sơ “tuyệt mật,” nhận được từ Cơ Quan Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ (CIA) gửi tới ngày 3 tháng 4 năm 1968.(1) Thêm vào đó, vào ngày 19 tháng 3 năm 2007 Cơ Quan Tình Báo CIA cũng đã phổ biến bản phân tích của Tiến Sĩ Sử Học Đại Học Chicago là Harold P. Ford, cũng là cựu viên chức tình báo CIA làm việc từ năm 1950 tới năm 1974. Bản phân tích này của Harold P. Ford là một phần của nỗ lực liên tục của Trung Tâm Nghiên Cứu Tình Báo để cung cấp sự minh bạch các hồ sơ về những hoạt động của CIA. Bản phân tích này đã được cập nhật vào ngày 12 tháng 4 năm 2016.(2) Bản phân tích này được Harold P. Ford in thành tác phẩm “CIA and the Vietnam Policymakers: Three Episodes 1962 – 1968.”(3)

Bài viết này dựa trên hai tài liệu nói trên của Cơ Quan Tình Báo CIA và một số tài liệu khác để góp thêm tài liệu liên quan đến biến cố Tết Mậu Thân 1968.

Điều quan trọng cần nói ngay ở đây là tài liệu CIA cho thấy rằng Hà Nội đã đánh giá và lượng định sai lầm về mục tiêu và thành quả chiến lược của cuộc tấn công Tết Mậu Thân của họ. Tài liệu của CIA cho biết Hà Nội tin chắc rằng người dân Miền Nam sẽ hưởng ứng, ủng hộ cuộc tấn công của Cộng quân, đồng thời đứng lên lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa khi du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam và bộ đội của Cộng Sản Bắc Việt bất thần tấn công toàn diện vào các thành phố gồm Thủ Đô Sài Gòn vào đúng ngày Mùng Một Tết Mậu Thân. Nhưng, Hà Nội đã thất bại vì điều đó không hề xảy ra.

Vậy, tài liệu mật của CIA vừa được giải mật vào ngày 28 tháng 4 năm 1997 nói gì về cuộc tấn công Tết Mậu Thân?

Hồ Sơ Mật Của CIA Về Cuộc Tấn Công Tết Mậu Thân

Câu hỏi được đặt ra trước tiên là liệu các cơ quan tình báo Hoa Kỳ và VNCH có biểt trước rằng Cộng quân sẽ mở cuộc tấn công vào dịp Tết Mậu Thân?

Phái Đoàn Các Cơ Quan Tình Báo Mỹ Điều Tra
Tài liệu cho biết rằng từ ngày 16 tới 23 tháng 3, các đại diện từ Cơ Quan Tình Báo CIA, Cơ Quan Tình Báo Quân Đội DIA, và Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ đã đến Việt Nam để điều tra về cuộc tấn công Tết Mậu Thân của Cộng quân. Họ đã gặp Tổng Tư Lệnh Hạm Đội Thái Bình Dương (CINCPAC), Bộ Chỉ Huy Hỗ Trợ Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam (MACV) và trạm CIA tại Sài Gòn. Để giúp cho việc thu thập nhiều tài liệu thích đáng, phái đoàn đã có những cuộc họp để nghe báo cáo tin tức và thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn, tại Sài Gòn và tại các chiến trường, với nhiều viên chức cao cấp Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa.

Về phía Hoa Kỳ, các thành viên của phái đoàn nói trên đã trao đổi với Đại Sứ Hoa Kỳ tại VN Bunker, Đại Tướng Westmoreland, Đại Tướng Abrams, Đại Sứ Komer, Trung Tướng Cushman, Trung Tướng Rosson, Thiếu Tướng Peers, Thiếu Tướng Eckhardt, và các tướng chỉ huy trưởng Sư Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến và Sư Đoàn 4 Bộ Binh. Họ cũng đã phỏng vấn nhân viên tình báo của Quân Đoàn I và II và nhân viên tình báo của Lực Lượng Thủy Quân Lục Chiến Quân Đoàn III, và các cố vấn tình báo và viên chức CIA Khu Vực tại tất cả 4 Vùng Chiến Thuật. Họ đã nghe báo cáo từ Cơ Quan Hỗ Trợ Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam MACV J-2 và trạm CIA tại Sài Gòn, và đã gặp Giám Đốc Tình Báo, Đơn Vị Không Quân Số 7, Đại Diện Cơ Quan An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ NSA tại Việt Nam, Bộ Tư Lệnh Quân Khu Tại Sài Gòn.

Về phía Việt Nam Cộng Hòa, phái đoàn nói trên đã phỏng vấn các tướng tư lệnh Quân Đoàn I và II, Cơ Quan J-2 của Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân và phụ tá, và phó giám đốc Quân Cảnh. Các thành viên của phái đoàn Hoa Kỳ cũng đã đích thân đến Phú Bài, Đà Nẵng, Pleiku, Camp Enari, Nha Trang, Biên Hòa, Long Bình, và Cần Thơ để tìm hiểu tình hình tại chỗ.

Những Phát Hiện Tổng Quát

Qua cuộc điều tra của phái đoàn đại diện nhiều cơ quan tình báo quốc gia Mỹ nói trên đưa tới một số phát hiện cho thấy như sau.

1/ Cơ Quan CIA đã thông báo cho Hội Đồng Cố Vấn Tình Báo Hải Ngoại của Tổng Thống [Hoa Kỳ] vào tháng 2, có bằng chứng, tại Sài Gòn và Washington, rằng địch quân (CS) đang tiến hành “chiến dịch đông-xuân” ồ ạt và đang chuẩn bị hàng loạt vụ tấn công có phối hợp điều binh, có thể trên phạm vi lớn chưa từng có từ trước tới nay. Có bằng chứng trong tháng 1 rằng một số vụ tấn công tại cao nguyên có thể sẽ được thực hiện trong dịp nghỉ lễ Tết. Một phần báo cáo sau đó trong tháng này cho thấy có chứng cứ rằng nhiều cuộc tấn công khác sắp xảy ra, và một số mục tiêu đã được xác định. Tại Sài Gòn và Washington báo cáo tình báo này đã được trình cho các giới chức quân sự và chính trị cao cấp. Kết quả, hàng loạt hành động đã được thực hiện tại Việt Nam đưa tới việc giảm bớt ảnh hưởng của cuộc tấn công của địch quân.

2/ Việc cảnh báo đã được cung cấp như thế cho thấy không có thành tích nhỏ nào đạt được đối với bộ máy tình báo của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Nó cho thấy không có sự xâm nhập bí mật cấp cao nào vào trong hệ thống cấp bậc lãnh đạo Cộng Sản và các cơ quan truyền thông Cộng Sản cao cấp là phần không thể biết được nhiều nhất. Do đó, nó phải dựa vào các kỹ thuật đặc trưng cổ điển. Cách này thì thật là khó thực hiện ở bất kỳ hoàn cảnh nào. Tự thân tổ chức tình báo quân đội và dân sự của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa thì phức tạp và rộng lớn để nó đảm đang. Vì vậy, những báo cáo từ nguồn tình báo nhân sự đã không được chú ý.

3/ Địch quân đã sơn phết rất giỏi để che đây ý định của chúng. Nhận biết được các kế hoạch của chúng hoàn toàn bị ngăn chận và lệnh tấn công thực sự đã được phổ biến cho các đơn vị tấn công chỉ từ 24 tới 72 giờ sau cùng trước cuộc tấn công. Dù các viên chức thẩm quyền Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đã nhận được một số báo cáo về các kế hoạch tấn công riêng rẽ, có thể không một lãnh đạo Cộng Sản cấp thấp của Cục Trung Ương Miền Nam (COSVN), mặt trận, hay quân khu nào biết được toàn bộ phạm vi cuộc tổng tấn công. Đại Tướng Westmoreland tin rằng Cộng Sản đã hy sinh sự phối hợp điều quân cho sự bảo mật an toàn, và đây là chứng cứ trong các cuộc tấn công sớm bởi nhiều đơn vị của Quân Khu 5 (MR 5) trong đêm 29-30 tháng Giêng năm 1968, nhờ các cuộc tấn công sớm này đã đóng vai trò cảnh báo các chỉ huy Hoa Kỳ đối với nhiều cuộc tấn công mở rộng trong đêm tiếp theo.

4/ Bất kể các biện pháp an ninh bí mật của Cộng quân, thông tin tình báo cũng có thể cung cấp cảnh báo rõ ràng rằng các cuộc tấn công, có thể trên diện rộng lớn nhất từ trước tới nay, được đưa ra. Nhiều thông điệp của địch quân bao gồm các cấp trung bình và thấp đã được đọc. Những thông điệp này xuất hiện tại nhiều vùng của Nam Việt Nam. Chúng bao gồm những ám chỉ các cuộc tấn công sắp xảy ra, rộng lớn và nhiều hơn bất cứ khi nào trước đó. Chúng cho thấy một ý nghĩa khẩn cấp, cùng với sự nhấn mạnh qua kế hoạch và bí mật chưa từng thấy trước đây trong các thông tin như thế. Tuy nhiên, các biểu thị đó đã không đủ để tiên đoán thời gian chính xác của cuộc tấn công.

Ảnh Hưởng Của Cuộc Tổng Tấn Công

Dù việc cảnh báo đã được đưa ra như thế, nhưng cường độ, sự phối trí điều quân, và thời gian của cuộc tấn công của địch quân đã hoàn toàn không được tiên đoán. Yếu tố quan trọng nhất là thời gian. Có rất ít giới chức Hoa Kỳ hay VNCH tin rằng địch quân sẽ tấn công trong ngày Tết, quần chúng Việt Nam cũng không tin như thế. Tết là ngày lễ quan trọng nhất tại Việt Nam, là dịp mà tất cả thành viên trong gia đình bất kể là Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, hay Cộng Sản đều giữ gìn. Rõ ràng là Cộng Sản tin rằng họ có thể khai thác sự đồng nhất này để tạo ra cuộc nổi dậy chống chính quyền, chống quân đội ngoại nhập, chống chiến tranh. Nhưng điều này đã không xảy ra. Do đó, địch quân đã phải trả giá đắt trong sự đối kháng mà họ tạo ra trong các thành phố đông dân, nhưng họ đã thu hoạch rất lớn trong 2 cách: Quân số hiện diện của quân đội và cảnh sát VNCH rất thấp so với mức ổn định bình thường, và thông lệ sinh hoạt nhộn nhịp của ngày Tết làm cho Cộng quân có thể đưa một số lượng lớn Việt Cộng vào các thành phố mà không bị phát hiện. Đại tướng Westmoreland dự đoán các cuộc tấn công quy mô trước hoặc sau Tết, và khi gần Tết và nhiều vụ tấn công lớn đã không được thực hiện, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội VNCH đã cho 50% lính về nghỉ Tết. Vì vậy sức mạnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại những vùng cho phép binh sĩ về nghỉ Tết đã bị sút giảm.

Yếu tố lớn thứ hai không tiên liệu được là số vụ tấn công xảy ra cùng một lúc. Tình báo Hoa Kỳ có cho biết địch quân có khả năng tấn công tất cả các địa điểm mà thực tế họ đã tấn công và việc nối kết cảc cuộc tấn công có phối hợp tại nhiều vùng. Tuy nhiên, tình báo Mỹ đã không nói đến khả năng đặc biệt các vụ tấn công có phối hợp trên tất cả khu vực cùng một lúc. Điều quan trọng hơn nữa là tính chất của các mục tiêu đã không được tiên liệu trước. Washington và Sài Gòn đã dự đoán các vụ tấn công tại một số thành phố, nhưng họ đã không dự đoán được cuộc tấn công để chiếm một số cơ sở trong thành phố như bộ chỉ huy dân sự và các trung tâm kiểm soát, các đài phát thanh và các trụ sở cảnh sát như là những mục hàng đầu. Sau cùng, phẩm chất của các loại vũ khí mới, tối tân được Lực Lượng Việt Cộng Chính Quy và Địa Phương sử dụng trong các cuộc tấn công là điều vượt xa dự đoán. Súng AK-47 và lựu đạn chống xe tăng RPG-7 đặc biệt có hiệu quả chống lại các đơn vị chính quy và Lực Lượng Địa Phương Quân và Nghĩa Quân của Quân Lực VNCH.

Nằm dưới những vấn đề đặc biệt này là điều cơ bản hơn: hầu hết các vị tư lệnh và viên chức tình báo, ở tất cả các cấp, đều không thấy được địch quân có khả năng hoàn thành các mục tiêu đã đề ra như chúng xuất hiện trong tuyên truyền và trong các tài liệu đã tịch thu được của chúng. Các phỏng đoán phổ biến về sự hao hụt, thâm nhập và tuyển dụng người tại địa phương, các báo cáo tinh thần xuống giốc, và hàng loạt những vụ bại trận đã hạ thấp hình ảnh của địch quân. Bức tranh toàn cảnh được trình bày là một kẻ thù không có khả năng thực hiện một cuộc tấn công trên phạm vi và cường độ mạnh như thế. Các vị chỉ huy và các viên chức tình báo đã nhìn những lời kêu gọi được phổ biến về một “cuộc tổng nổi dậy” chỉ như là lời hô hào, và không phải là bản kế hoạch cho việc sắp làm. Hơn nữa, trong quá khứ nhiều “cuộc tấn công lớn” đã được công bố trong tuyên truyền của Cộng Sản nhưng thực tế đã không được thực hiện.

Phản Ứng Với Những Cảnh Báo

Washington và Sài Gòn, như đã trình bày ở trên, đều hiểu rõ rằng địch quân đã đặt kế hoạch cho một cuộc tấn công lớn, có thể là những cuộc tấn công có phối hợp tại phía bắc Vùng I Chiến Thuật, tại Dak To trên cao nguyên Vùng II Chiến Thuật, và hướng về Sài Gòn từ tất cả mọi phía tại Vùng III Chiến Thuật. Vào ngày 10 tháng 1 năm 1968, Đại Tướng Westmoreland đã hủy bỏ một số hoạt động đã được lên kế hoạch tại phía bắc Vùng III Chiến Thuật để tái bố trí lại các lực lượng Hoa Kỳ tới gần Sài Gòn hơn. Trong những ngày kế tiếp, ông đã đưa ra hàng loạt cảnh báo cho các vị tư lệnh của ông, và cho các cơ quan Hoa Kỳ, rằng địch quân đang chuẩn bị tấn công. Dù ông ấy đã không dự đoán từ đầu các cuộc tấn công trong dịp Tết, ông ấy đã nhận thức được tầm quan trọng của các cuộc tấn công sắp xảy ra tại Quân Khu 5 [của Việt Cộng] và trong thông báo gửi cho tất cả các vị tư lệnh của ông vào ngày 30 tháng 1 dự đoán các cuộc tấn công vào đêm đó. Kết quả, tất cả các đơn vị Hoa Kỳ đều được cảnh giác đầy đủ, dù trong hầu hết trường hợp họ đã không có thì giờ hay thông tin để thực hiện các biện pháp phản công chống lại địch quân trước khi chúng tấn công thực sự. Tất cả các căn cứ của Đơn Vị Không Quân Số 7 đều được đặt trong tình trạng cảnh giác tối đa, và Giám Đốc Tình Báo của Đơn Vị Không Quân Số 7 đã xác thực rằng bước này để “bảo toàn Phi Trường Tân Sơn Nhất.” Có lẽ chứng cứ tốt nhất mà các biện pháp của Bộ Tư Lệnh Hỗ Trợ Quân Đội Hoa Kỳ tại VN là hiệu quả và rằng tình báo chiến lược của địch quân là sai lầm đó là, với ngoại trừ Huế ra, địch quân đã thất bại trong việc giữ được bất cứ mục tiêu quân sự chính nào trong một khoảng thời gian đáng kể.

Tuy nhiên, cảm giác khẩn trương tại Sài Gòn thì không được cảm nhận đầy đủ tại Washington ngay thời điểm trước cuộc tấn công. Kết quả, báo cáo tình báo được phổ biến tại Washington đã không chứa đựng không khí khủng hoảng hiện hữu tại Sài Gòn. Điều sai lầm này không phải do bất cứ ai. Thông tin sẵn có đã được truyền đạt và được phân tích hợp lệ, nhưng không khí thì không thể chuyển qua đường dây điện thoại. Dù các viên chức cao cấp tại Washington đã nhận được các cảnh báo vào thời gian từ ngày 25 đến 30 tháng 1, họ đã không nhận được trọn vẹn cảm giác tức thì và mãnh liệt đã hiện hữu tại Sài Gòn. Mặt khác, với Sài Gòn đã cảnh giác, hầu như không có gì có thể được làm thêm nữa tại Washington mà sự trễ nãi trong cuộc chơi đã có thể ảnh hưởng đến kết quả.

Trong bức tranh tổng quát này, có nhiều khác biệt đáng kể trong số 4 quân khu. Sư Đoàn III Thủy Quân Lục Chiến [Hoa Kỳ] được dự đoán sẽ bị tấn công tại Khe Sanh và Quảng Trị. Tin tình báo đó đã nhận được từ cơ sở CIA địa phương về chiến dịch mà địch quân sẽ tấn công Đà Nẵng, nhưng không có ngày giờ. Tướng Cushman nói rằng ông dự đoán sẽ bị tấn công vào dịp Tết, và các hoạt động của địch quân tại phía bắc Vùng I Chiến Thuật đã làm cho giới chức cao cấp hủy bỏ ngưng bắn dịp Tết tại Vùng I Chiến Thuật. Kết quả, các lực lượng Hoa Kỳ và VNCH đã được chuẩn bị tốt hơn những nơi khác. Hầu hết các đơn vị quân đội VNCH đều có quân số gần như đầy đủ. Sự kéo dài và phối hợp của các cuộc tấn công của địch quân, đã vượt quá mức dự đoán, như địch quân đã chiếm cứ lâu dài tại Huế. Tuy nhiên, nhìn chung, các cuộc tấn công của Cộng quân đã dễ dàng bị phản công.

Tại Vùng II Chiến Thuật, lực lượng đồng minh tại các vùng ven biển là phần bị tấn công nhiều nhất trong đêm 29-30 tháng Giêng bởi các đơn vị Việt Cộng. Họ đã không có lợi thế của việc báo trước mà những cuộc tấn công này cung cấp nhiều đơn vị đi xa xuống phía nam, họ cũng không ở trong tư thế “cảnh giác” các lực lượng Đồng Minh tại Quân Khu I. Các lực lượng Đồng Minh thì ở trong tình trạng cảnh giác cao hơn bình thường, tuy nhiên, họ đã được điều hướng để chống lại những vụ vi phạm ngưng chiến chắc chắn xảy ra hơn là với các cuộc tấn công tại các thành phố. Tại các vùng cao nguyên, không giống bất kỳ khu vực nào khác, tình báo sẵn sàng từ thông tin liên lạc, tù nhân, phản ánh các kế hoạch cụ thể đối với các cuộc tấn công trong dịp Tết. Thí dụ, các kế hoạch của Việt Cộng cho việc tấn công Dak To, Pleiku, và Kontum đều được biết trước rõ ràng, và Sư Đoàn 4 Hoa Kỳ đã có thể liên kết chúng với các cuộc bố trí quân của địch. Điều này cung cấp một trong vài cơ hội cho lực lượng Hoa Kỳ để thực hiện các biện pháp năng động chống lại địch quân; Pleiku là chiến dịch tấn công của Hoa Kỳ thành công nhất. Tình báo tại những nơi khác ở cao nguyên thì không tốt bằng, nhưng đã có đủ thông tin để khiến cho 2 trong số 3 tư lệnh sư đoàn của Quân Đội VNCH tại Vùng II Chiến Thuật hủy bỏ tất cả các cuộc nghỉ phép. Tuy nhiên, chúng ta không tin rằng các lệnh này có hiệu quả toàn diện trong việc phục hồi nhân lực mà đã đi trước.

Như đã đề cập ở trên việc tái bố trí quân đội Hoa Kỳ tại Vùng III Chiến Thuật đã bắt đầu vào giữa tháng 1. Các hoạt động này được bắt nguồn bởi việc tập trung của 3 sư đoàn địch quân dọc theo biên giới Cam Bốt nằm ở phía bắc và tây bắc Sài Gòn và bởi các chỉ dấu rằng những đơn vị này bắt đầu điều động quân xuống phía nam hướng về thành phố [Sài Gòn]. Hơn nữa, các sĩ quan tình báo của Hoa Kỳ và VNCH suy đoán trước đó từ sự tái tổ chức của cơ cấu chỉ huy của địch quân tại Quân Khu 4 [của VC], bao quanh khu vực Sài Gòn, mà mục đích của họ là để cải thiện việc chỉ huy và kiểm soát cho việc phối trí một cuộc tấn công vào thành phố [SG]. Quân Khu III và Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II đã được đặt trong tình trạng cảnh giác chung vào ngày 30 tháng 1 (Các hành động của Tướng Westmoreland bắt nguồn từ các cuộc tấn công tại Quân Khu 5 [VC] vào đêm trước đó), và trong thời gian của ngày đó đã nhận được tin cụ thể rằng Sài Gòn sẽ bị tấn công vào đêm đó. Tại hầu hết các đơn vị Quân Đội VNCH tại Quân Đoàn III binh sĩ có vẻ ở trong tình trạng ăn Tết bình thường.

Tại Vùng 4 Chiến Thuật, tính chất và mức độ của các cuộc tấn công của địch quân đã hoàn toàn không được tiên liệu. Các lực lượng Đồng Minh đã ý thức rằng khả năng của Việt Cộng đã được cải thiện. Một phúc trình của Cơ Quan An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ (NSA) vào ngày 25 tháng 1, đã cảnh báo về khả năng có thể có các cuộc tấn công sắp xảy ra tại những khu vực khác, nói rằng các đơn vị tại “vùng Nam Bộ,” gồm Vùng Đồng Bằng [Sông Cửu Long], cũng có thể bị tấn công. Việc cung cấp các loại vũ khí tối tân đã gia tăng và Việt Cộng cho thấy khả năng thực hiện hàng loạt các cuộc tấn công có phối hợp trên khắp Vùng Đồng Bằng. Tuy nhiên, ở mức độ nào đó, điều này có thể được diễn giải như là các phản ứng đối với tư thế mạnh mẽ hơn của đồng minh tại vùng này. Tại các thành phố trong Vùng Đồng Bằng [Sông Cửu Long] sự hiện diện của Việt Cộng trong dịp Tết là rất truyền thống vì được chấp nhận như là thói quen. Tướng Eckhardt, Cố Vấn Cao Cấp, nói rằng cảnh giác duy nhất mà ông nhận được là lời cảnh giác của Tướng Westmoreland vào ngày 30 tháng 1. Tướng Eckhardt đã có thể cảnh giác các đơn vị hỗ trợ và hậu cần Hoa Kỳ tại Vùng Đồng Bằng, nhưng không thể có thời gian để phục hồi lại đủ quân số các đơn vị Quân Đội VNCH. Tư Lệnh Quân Đoàn của VNCH và 3 tư lệnh sư đoàn của ông ấy đã có mặt tại tổng hành dinh khi cuộc tấn công nổ ra, nhưng các đơn vị của họ thì quá yếu ớt.

Các Công Điện Giữa Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn

Sau đây là một số công điện báo cáo và trao đổi giữa Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn từ Tổng Thống Johnson, Bộ Quốc Phòng, Bộ Ngoại Giao, CIA, Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam để cho thấy thêm một số chi tiết về các cảm nhận, nhận định và phản ứng của các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự Hoa Kỳ đối với cuộc tấn công Tết Mậu Thân của Việt Cộng. Tài liệu này trích dịch từ văn kiện của Phòng Lịch Sử của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ có tên, “Các Quan Hệ Ngoại Quốc Của Hoa Kỳ, 1964-1968, Tập VI, Việt Nam, Từ Tháng 1 đến tháng 8 năm 1968.”(4) Xin trích dịch mấy điểm đáng quan tâm như sau.

44. Ghi Nhớ Được Chuẩn Bị tại Cơ Quan CIA
Washington, Ngày 2 Tháng 2 Năm 1968
Chủ đề: Việt Nam – Cú Sốc Của Cuộc Tấn Công

1/ Trận tấn công Tết Mậu Thân rõ ràng cho thấy sức mạnh của Việt Cộng vấn tiếp tục mà qua đó kêu gọi cái nhìn mới trong phương thức của chúng ta [Mỹ] đối với chiến tranh Việt Nam và đối với Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa. Qua nhiều năm các nhà lãnh đạo Việt Nam [Cộng Hòa] đã phát triển sự chắc chắn tự mãn rằng sự hậu thuẫn của người Mỹ là bất biến. Hệ quả là họ đã cảm thấy thoải mái để tiến hành cuộc chiến từ từ, hài lòng trong vòng lẩn quẩn của các nhân vật lãnh đạo và chỉ chú ý ngẫu nhiên đối với việc huy động sự hậu thuẫn và tham gia rộng rãi của dân chúng một cách tích cực vào cuộc chiến.

Trận tấn công Tết Mậu Thân có thể được sử dụng trong cuộc tấn công trực diện vào các thái độ và thói quen này, bởi vì nó biểu thị một cách áp lực rằng Chính Quyền VNCH mất một số đặc tính chính của chủ quyền. Họ [VNCH] không thể bảo vệ các mặt trận nếu không có nửa triệu binh sĩ Hoa Kỳ và ngay cả không thể làm cho Tòa Đại Sứ Mỹ sử dụng Tòa Đại Sứ của mình.

Cuộc tấn công này khẳng định lập trường từ lâu rằng nỗ lực của Hoa Kỳ tại Việt Nam chỉ để giúp người dân Việt Nam tự giúp họ, không phải để chiến đấu thay cho họ. Quan điểm này đã được trình bày trong một cuộc phỏng vấn nhanh chóng trước đây giữa Đại Sứ Bunker, có sự tham dự của Tướng Westmoreland, Tổng Thống Thiệu và Phó Tổng Thống Kỳ.

2/ Cuộc tấn công Tết Mậu Thân bởi Việt Cộng cũng cho thấy sự yếu kém của nền an ninh của Chính Quyền VNCH và sự thiếu vắng giải pháp phổ biến góp phần chống Việt Cộng, với ám chỉ rằng các viễn kiến thành công và những kế hoạch lâu nay là không đủ. Điều này cần được hiểu rằng chủ nghĩa từ từ không còn được chấp nhận như là phương thức về phía chúng ta đối với cuộc chiến và nó cần được nói ra một cách áp lực rằng từ nay Chính Phủ VNCH phải theo sự chỉ thị của Hoa Kỳ trong một kế hoạch điều chỉnh tình trạng của chiến tranh.

3. Trong kế hoạch nói trên, Hoa Kỳ đòi hỏi Tướng Nguyễn Đức Thắng phải được công cử làm Tổng Trưởng Nội Vụ và Quốc Phòng, với “toàn quyền” hành xử cơ chế quân sự, cảnh sát và bộ binh.

Tham Mưu Trưởng Liên Quân Tướng Cao Văn Viên phải được chỉ thị rằng tất cả quân lực VNCH từ nay sẽ được sử dụng để hỗ trợ trực tiếp trong việc tham gia chương trình do Tướng Thắng chỉ huy.

5. Tổng Thống Thiệu phải tìm kiếm sự chấp thuận của Quốc Hội để thành lập Hội Đồng Chiến Tranh và Tái Thiết. TT Thiệu phải làm Chủ Tịch Hội Đồng Chiến Tranh và Tái Thiết, và Phó TT Kỳ làm Phó Chủ Tịch và Giám Đốc Hoạt Động, Tướng Thắng làm Phó Giám Đốc Hoạt Động, và có các đại diện của các Bộ, Quân Đội cũng như Thượng và Hạ Viện. Hội Đồng Chiến Tranh và Tái Thiết phải có các Hội Đồng Chiến Tranh và Tái Thiết ở các cấp tỉnh và quận, có sự tham gia của các hội đồng tỉnh và quận.

7. TT Thiệu phải được cho biết rằng chúng ta [Hoa Kỳ] xem chương trình này phải có các thành quả tích cực trong vòng 100 ngày sau Tết (tức đầu tháng 5). Nếu không như vậy hay TT Thiệu từ chối đề nghị này, thì phải cho ông ấy biết rằng Hoa Kỳ sẽ thay đổi lập trường tôn trọng Chính Phủ VNCH. Trong trường hợp này, TT Thiệu nên hiểu là Hoa Kỳ có thể tìm một Chính Phủ VNCH khác thay thế.

48. Công Điện Tình Báo Từ Giám Đốc Sở Tình Báo và Nghiên Cứu (Hughes) Gửi Cho Ngoại Trưởng Rusk

Washington, Ngày 3 Tháng 2 Năm 1968
Số 97, chủ đề: Việt Nam: Phỏng Đoán Chiến Lược Của Cộng Sản Trong Những Tháng Tới

Các sự kiện trong nhiều ngày qua cho thấy rằng Cộng Sản đã lao vào một chiến dịch được hoạch định rất kỹ lưỡng của những nỗ lực có sự hậu thuẫn nhiều mặt về quân sự, chính trị và ngoại giao để làm sụp đổ hoàn toàn vị thế của Chính Phủ VNCH và xóa sổ nền tảng chính trị đối với sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Nếu điều này đã được phát triển, thì những cuộc thương lượng đã có thể bảo đảm thành công hơn là con đường dẫn tới tình cảnh mà trong đó sự thành công có thể đạt được. Trong khi đó, họ sẽ tiếp tục mở ngỏ khả năng thương thuyết.

49. Ghi Nhớ Từ William J. Jorden của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Gửi Cho Phụ Tá Đặc Biệt (Rostow) của Tổng Thống

Washington, Ngày 3 Tháng 2 Năm 1968,
Chủ đề: Tình Hình Tại Việt Nam

Trước hết, quan điểm của tôi là hàng loạt các cuộc tấn công có phối hợp tốt của Cộng Sản Bắc Việt/Việt Cộng trên tất các vùng trên toàn quốc cho thấy sự thất bại rõ ràng đối với Chính Phủ tại Sài Gòn và đối với chúng ta. Tôi cho rằng những sự kiện này là thất bại bởi vì:

- chúng phản ảnh sự thất bại tồi tệ nhất của tình báo chiến tranh. Nếu Việt Cộng và CS Bắc Việt có thể di chuyển có lẽ 30,000 lính đến nơi để tấn công tại tất cả các vùng trên toàn quốc mà không bị phát hiện, thì có điều gì đó sai lầm với hệ thống tình báo của Chính Phủ VNCH.

- cuối cùng, rõ ràng từ báo cáo tình báo trong vòng một hai ngày qua rằng nhiều người dân Việt Nam đã được chuẩn bị để tin và để tung tin đồn hoang đường về người Mỹ -- rằng chúng ta đã giúp Việt Cộng vào Sài Gòn, rằng chúng ta đang làm việc với VC để dựng lên một chính phủ liên hiệp, mà chúng ta đang tìm cơ hội để rút khỏi [VN], v.v… Điều này đối với tôi có nghĩa là tuyên truyền của VC cực kỳ ảnh hưởng.

53. Điện tín từ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam gửi cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ

Sài Gòn, ngày 4 tháng 2 năm 1968,
1100Z; Số 17920. Từ Đại Sứ Hoa Kỳ tại VN Bunker gửi cho Tổng Thống Hoa Kỳ. Kèm theo báo cáo hàng tuần lần thứ 37 của tôi

7. Rằng những cuộc tấn công lan rộng có phối hợp sẽ có kết quả thất bại quân sự to lớn đối với địch quân mà bằng chứng cụ thể là trong số lượng tử thương được báo cáo vào sáng Thứ Bảy. Từ 6 giờ chiều ngày 29 tháng 1 lúc bắt đầu thời điểm ngưng bắn dịp Tết, tới nửa đêm, ngày 2 tháng 2, theo số liệu của chúng tôi, 12,704 địch quân bị giết chết, và 3,576, đa phần sẽ trở thành tù bình chiến tranh, bị bắt giam; 1,814 người và 545 toán quân sử dụng vũ khí bị bắt. Đồng Minh có 983 người bị tử thương mà trong đó 318 binh sĩ Hoa Kỳ, 661 binh sĩ VNCH, và 4 quân nhân thuộc Thế Giới Tự Do; số quân đồng minh bị thương là 3,483 người. Số tử thương của địch quân trong vài ngày này được xem là lớn hơn bất cứ tháng nào trước đây trong cuộc chiến. Dựa trên số địch quân bị giết, tôi đã hỏi Tướng Westmonreland về con số phỏng đoán tổng số địch quân bị giết và ông ấy cho biết ông nghĩ là con số này có thể lên tới 36,000.

62. Điện tín từ Tòa Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam gửi Bộ Ngoại Giao

Sài Gòn, ngày 8 tháng 2 năm 1968, số 1115Z.
Số 18582. Gửi cho Tổng Thống từ Đại Sứ Bunker. Kèm theo báo cáo hang tuần lần thứ 38 của tôi

B) Số lượng địch quân tham gia trận tấn công được xem là lớn hơn phỏng đoán mà tôi đã báo cáo trong phúc trình lần trước của tôi. Phỏng đoán hiện nay là 52,000 quân địch, cộng với 10,000 du kích, tổng cộng có tới 62,000 quân địch, tham chiến trong các cuộc tấn công khắp nơi.

E) Từ sáng sớm ngày 31 tháng 1 cho tới nửa đêm ngày 7 tháng 2, địch quân đã mất gần 25,000 quân, gần 5,000 quân bị bắt, hơn 5,500 người và gần 900 toán quân sử dụng vũ khí. Về phe ta thì 2,043 binh sĩ tử vong (gồm 703 binh sĩ Hoa Kỳ, 1,303 binh sĩ VNCH, và 37 binh sĩ Thế Giới Tự Do), ít hơn 1/12 tổn thất của địch quân. Tướng Westmoreland cho biết rằng số quân địch bị giết nói trên là chưa kể số địch quân bị chiến đấu cơ và đạn pháo giết chết.

H) Sáng nay, ngày 8 tháng 2, số người tị nạn tại khu vực thành phố Sài Gòn là 93,000 và trên toàn quốc là khoảng 190,000 người. Tới giờ này, có 31 tỉnh trong số 50 tỉnh báo cáo, tổng số người di tản có thể đạt tới từ 250,000 tới 300,000 người. Khoảng 15,000 căn nhà bị phá hủy được báo cáo, chắc chắn sẽ còn gia tăng. Số thường dân bị thiệt mạng qua báo cáo sơ khởi là 800 người chết, 7,500 người bị thương, dù thực tế nhiều hơn.

Ngoài ra, trong tác phẩm “CIA and the Vietnam Policymakers: Three Episodes 1962 – 1968,” nói trên, Harold P. Ford cho biết rằng chỉ trong 2 ngày đầu của cuộc tấn công Tết Mậu Thân, địch quân đã tấn công vào 39 trong số 44 thành phố của Nam Việt Nam, trong số đó 5 trong 6 thành phố lớn đông dân đã bị tấn công, 71 trong số 242 quận lỵ bị Cộng quân tấn công. Tại Thủ Đô Sài Gòn, 11 tiểu đoàn Việt Cộng địa phương đã tấn công vào dinh tổng thống, Phi Trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH, và nhiều địa điểm khác; không ít, họ đã xâm nhập và tràn vào một khoảng thời gian nào đó trong khuôn viên Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Harold P. Ford cho biết thêm rằng CIA phỏng đoán cho tới tháng 5 năm 1968, Cộng quân có khoảng từ 450,000 tới 600,000 quân tại Miền Nam VN.

Trong tài liệu của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ có tên “Foreign Relations, 1964-1968, Volume VI, Vietnam, January-August 1968,” số 32-49, từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 8 tháng 2: Trận Tấn Công Tết, ghi chú của ban biên tập số 33, cho thấy rằng có tới 84,000 Cộng quân gồm quân đội Bắc Việt và Việt Cộng tham gia vào các cuộc tấn công Tết Mậu Thân trên toàn Miền Nam.(5)

Theo tài liệu “Vietnam War: Tet Offensive, Cia - Department Of Defense - State Dept Files, South Vietnamese Army History - U.S./South Vietnam Army Photos, nói về trận tấn công Tết Mậu Thân tại Huế cho biết rằng Cộng quân đã chiếm giữ 26 ngày, với khoảng 12,000 lính gồm bộ đội Bắc Việt và Việt Cộng địa phương. Báo cáo cho biết có từ 2,000 tới 3,000 công chức, cảnh sát của chính quyền VNCH, và những thành phần khác mà Cộng Sản gọi là phản cách mạng đã bị Việt Cộng thảm sát tại Huế trong thời gian đó. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ chưa tới 2,500 binh sĩ đã chống cự và đánh bại hơn 10,000 Cộng Quân và đã giải phóng thành Phố Huế.(6)

Tài liệu này cũng nói rằng cuộc tấn công Tết Mậu Thân về mặt chiến thuật đã đánh bại các lực lượng Việt Cộng và Bắc Việt. Cuộc tấn công Tết Mậu Thân cũng được mọi người xem như là khúc quanh trong chiến tranh Việt Nam dù tổn thất của Cộng Sản rất lớn lên tới 32,000 quân bị giết và khoảng 5,800 lính bị bắt.

Một trong những hệ quả của trận tấn công Tết Mậu Thân, theo tài liệu này, là chính phủ Johnson nhận ra rằng muốn chiến thắng cuộc chiến VN thì Hoa Kỳ phải tăng quân số -- quân số lính Mỹ tại VN lúc đó đã lên tới 525,000 -- và chi phí nhiều hơn là những gì người dân Mỹ muốn. Vào ngày 31 tháng 3 năm 1968, Johnson tuyên bố không tái tranh cử nhiệm kỳ kế tiếp, công bố ngưng ném bom Bắc Việt, và thúc giục Hà Nội đồng ý hòa đàm.

Vào đầu tháng 1 năm 1969, hòa đàm Paris bắt đầu diễn ra với sự tham dự của đại diện 4 bên, gồm Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, Cộng Sản Bắc Việt, và Mặt Trận Giải Phóng. Tháng 6 năm 1969, Hà Nội lập Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (PRG).

Kết Luận

Năm mươi lăm năm trôi qua, sự thật về cuộc tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 đã được phơi bày ra ánh sáng bởi rất nhiều tài liệu giá trị, đúng đắn và đáng tin cậy, gồm hồ sơ mật của CIA, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Nhưng, chính quyền CSVN cho đến nay vẫn không dám công khai thừa nhận thất bại và sai lầm của họ trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân, mà trong đó họ đã lợi dụng ngày Tết cổ truyền thiêng liêng nhất của dân tộc để mở các cuộc tấn công và giết hại thường dân vô tội, như trường hợp thảm sát hàng ngàn sinh mạng tại Huế.

Tại sao? Một chế độ không dám nhìn nhận sự thật như thế, dù đó là sự thật lịch sử không thể phủ nhận, thì có phải là một chế độ đáng để người dân tin cậy chăng?

Xin cầu nguyện cho tất cả những nạn nhân của biến cố Tết Mậu Thân được siêu thoát.

(31/01/2023
Huỳnh Kim Quang)

***
THẢM SÁT MẬU THÂN, 1968: MỘT CUỘC DIỆT CHỦNG !!!

Bài đọc suy gẫm: “Một Cuộc Diệt Chủng” hay “Thảm Sát Mậu Thân” do tác giả Đại Nghĩa sưu tầm, đúc kết từ các nhân chứng, báo chí trong ngoài nước. Blog 16 xin chia buồn với gia đình các nạn nhân và đăng tải bài viết, hình ảnh (minh họa) nhân tưởng niệm 50 năm biến cố Mậu Thân.

Thực chất đây là một cuộc diệt chủng, bọn cộng sản đã thẳng tay tàn sát đồng bào mình trong những ngày Tết thiêng liêng của dân tộc một cách dã man. Cuộc thảm sát kinh hoàng ở Huế Tết Mậu Thân nói lên được sự bội tín và lật lọng đê hèn của đảng cộng sản Việt Nam đã thừa dịp Hưu chiến trong ba ngày Tết để mở cuộc tổng tấn công. Lợi dụng những ngày này lực lượng Việt Nam Cộng hòa cho binh sĩ nghĩ phép 50%, cộng thêm sự lơ là của số quân nhân còn ở tại đơn vị trong những ngày Tết, quân cộng sản Việt Nam đã bất thần tung chiêu đánh lén. Lúc ban đầu vì bất ngờ nên quân VNCH có phần yếu thế, tuy nhiên không bao lâu sau thì lấy lại tinh thần và đã cố thủ được vị trí chiến đấu một cách oanh liệt, duy chỉ có thành phố Huế bị áp lực địch nặng nề nên phải mất 26 ngày sau quân VNCH mới tái chiếm hoàn toàn. Bán Nguyệt san Tự Do Ngôn Luận số 43 (15-1-2008) của linh mục Chân Tín nói đến cuộc Thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế như sau:

“Trước tiên, đó là vi phạm thỏa ước hưu chiến mà cộng sản đã cam kết một cách long trọng, khiến phía VNCH tin lời mà cho một nữa số quân nhân về ăn Tết với gia đình nên bước đầu đã phần nào bị động…Thứ hai, đó là chà đạp những ngày Tết thiêng liêng của dân tộc. Giữa cảnh sum họp êm ấm, CS đã gây cảnh tan nát chia lìa. Giữa bầu không khí yêu thương hòa giải, CS đã đem tới hận thù bạo lực. “Ai đã cướp con tôi? Ai đã giết con tôi giữa cơn mộng đêm thái bình?” Là câu hát còn vang vọng mãi trong lòng dân miền Nam. Máu đỏ pha vào với rượu Tết. Thịt người đã trộn lẫn với bánh tét bánh chưng. Vỏ đạn đã nằm vương vãi lăn lóc cạnh những đồ thờ tự. Thứ ba, đó là giết chết cả thường dân, bất kể tu sĩ, linh mục, y tá bác sĩ, viên chức cán bộ, văn nhân nghệ sĩ, thầy giáo học trò, thậm chí cả những kẻ buôn thúng bán bưng, lao động độ nhật”.(Đối Thoại online ngày 14-2-2008)

Theo báo cáo tổng kết của Douglas Pike, lúc bấy giờ là nhân viên hành chính ngoại giao của cơ quan Thông tin Hoa Kỳ năm 1970 thì có 3 giai đoạn đưa đến những vụ tàn sát:

“Giai đoạn đầu là một loạt các cuộc xử án bất hợp pháp công cộng kéo dài khoảng 5-10 phút do giới chức trong quân Bắc Việt hay Việt cộng dựng lên. Bị cáo luôn bị kết án “có tội với nhân dân”.
“Giai đoạn sau cùng, khi thấy rõ họ đang bị đánh bật ra khỏi Huế, quân Bắc Việt/Việt cộng thi hành những vụ thủ tiêu nhân chứng- bất cứ ai biết mặt họ, nhìn thấy những tội ác trong lúc Huế bị chiếm đều bị giết và chôn mất xác”…

“Marilyn B. Young trong sách tựa đề The Vietnam Wars, 1945-1990 ghi lại:

“Trong những ngày đầu của cuộc chiếm đóng quả thực có những vụ xử tử công khai tại chỗ…khi trận chiến gần kết thúc bởi cuộc công pháo, lính miền Bắc trên đường rút lui xử tử những người họ đang giam giữ thay vì thả họ ra hay bắt theo làm tù binh- với con số người chết không nhiều như chính phủ Sài Gòn và Washington công bố, nhưng nhiều đủ để tạo những câu hỏi tang thương cho những người sống sót ở Huế”. (Wikipedia tiếng Việt online ngày 4-2-2008) Phóng viên Thiện Giao của đài RFA qua bài “Huế, 25 ngày kinh hoàng của 40 năm trước” thì theo ông Nguyễn Lý Tưởng, cựu Dân biểu khu vực Thừa Thiên Huế kể lại:

“Tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, 22 địa điểm tìm được là các mồ chôn tập thể. Trong 22 địa điểm này, người ta đếm được 2.326 sọ người. Sau tết, chúng tôi lập Hội Gia đình Nạn nhân Cộng sản trong Tết Mậu Thân. Các gia đình kê khai có người chết, có người mất tích, lên đến 4.000 gia đình. Người ta ước tính vào khoảng 6.000 người. Có nhà báo ước tính 5.000 người. Chúng tôi cho con số 5 đến 6 ngàn là không sai lệch lắm đâu…

“Đỉnh điểm là Khe Đá Mài, thuộc núi Đình Môn Kim Ngọc, tại đây khoảng 400 bộ hài cốt đã được tìm thấy. Những hài cốt tìm thấy tại Khe Đá Mài chính là của những người trú ẩn tại xứ đạo Phủ Cam, xã Thủy Phước, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.

“Cộng sản bắt đi trên 500 người, thanh niên từ 15- 16 tuổi đến ông già 60-70 bị đưa đi giam ở chùa Từ Đàm. Đến đêm, họ bị dẫn đi lên đường núi và qua sông. Sau đó tàn sát hết mọi người trong tư thế bị trói”. (RFA online ngày 31-1-2008)

Theo hai vị linh mục khả kính Nguyễn Hữu Giải và Phan Văn Lợi hiện đang sống tại Huế kể lại Cuộc thảm sát tại Khe Đá Mài:
“…tại núi Ba Tầng (núi Bân), phía Nam thành phố Huế. Ngôi mộ này lưu giữ hơn 400 bộ hài cốt chủ yếu bốc từ Khe Đá Mài nhưng đã bị chính quyền cộng sản phá đổ trụ bia và để cho hoang phế suốt 32 năm trời…

“Trong toàn bộ biến cố Tết Mậu Thân, có lẽ những gì xảy ra tại Huế là đau thương và đánh động hơn cả, có lẽ cuộc thảm sát tại Khe Đá Mài là rùng rợn, dã man và thê thảm nhất. Tiếc thay, theo sự am hiểu của chúng tôi, hình như người ta chỉ biết đến kết cục của nó là hàng trăm bộ hài cốt dồn lại một đống dưới khe sau khi thịt thối rữa bị nước cuốn đi lâu ngày, từ đó suy diễn ra sự việc hơn là biết rõ diễn tiến của toàn bộ sự việc kể từ lúc nạn nhân bắt đầu bị dẫn đi đến chỗ hành quyết”. (Đối Thoại online ngày 17-1-2008)

Qua lời thuật lại của hai linh mục nói trên khi họ gặp một nhân chứng sống lúc bấy giờ ông ta mới 17 tuổi cũng bị bắt theo đoàn người bị đưa đi giết ở Khe Đá Mài nhưng may mắn lợi dụng lúc đêm tối nên ông đã trốn thoát và hiện còn sống ở trong nước và kể rằng:

“Rồi chúng bắt đầu dùng dây diện thoại trói thúc ké từng người một chúng tôi, trói xong chúng xâu lại từng chùm bằng một sợi dây kẽm gai, 20 chục người làm một chùm. Tôi nhớ là đếm được trên 25 chùm, tức hơn 500 người…Về sau tôi được biết đa phần những thanh niên bị bắt đêm mồng 6 Tết tại nhà thờ Phủ Cam và sau đó bị giết chết đều là học sinh, sinh viên, thanh niên nhút nhát hiền lành”. (Thời Luận ngày 24/27 tháng 1-2008)

Phóng viên Don Oberdorfer, năm 1969 sang Việt Nam phỏng vấn nhiều nhân chứng trong thời gian Huế bị cộng sản chiếm đóng đã xác minh cho nhận định của người kể chuyện Khe Đá Mài:
“Oberdorfer báo cáo rằng hầu hết những người nam trên 15 tuổi trốn tránh trong một nhà thờ ở Phủ Cam đều bị đem đi và bắn chết. Khi Oberdorfer phỏng vấn Hồ Tý, một viên chỉ huy Việt cộng trong cuộc tấn công 1968, ông này cho biết đảng cộng sản có lưu ý đặc biệt về khu Công giáo Phủ Cam vì “người Công giáo lè kẻ thù của chúng tôi”. (Wikipedia tiếng Việt online ngày 4-2-2008)

Và dã man nhất là:
“Một trong các cuộc thảm sát gây phẫn nộ dư luận quốc tế là vụ giết 4 bác sĩ người Đức sang giảng dạy và làm việc tại trường Đại học Y Khoa Huế. Trong bài viết “The Vietcong Massacre at Hue”, xuất bản năm 1976, một bác sĩ có tên Elje Vannema, kể rằng ông bà bác sĩ Horst Gunther Krainick và hai bác sĩ Raymund Disher cùng Alterkoter đã bị giết trong tháng Hai năm 1968 tại chùa Tường Vân”. (RFA online ngày 31-1-2008)

Theo Phóng viên Thiện Giao thì ông Võ Văn Bằng, Trưởng Ban Cải táng Nạn nhân Cộng sản Tết Mậu Thân hồi tưởng:
“Các hố cách khoảng nhau. Một hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, nào là nằm, nào là ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạc trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ, họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là do cuốc xẻng…

“Theo Nguyễn Phúc Liên Thành, Phó trưởng ty Cảnh sát Đặc biệt lực lượng Cảnh sát Quốc gia tại Thừa Thiên thì: “Những báo cáo của các cuộc Cảnh sát các xã thuộc 13 quận của thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, do các xã báo cáo, khoảng 5.300 nạn nhân bị chôn sống tại tỉnh Thừa Thiên”. (RFA online ngày 31-1-2008)

Nhà báo Vũ Ánh, nguyên phóng viên mặt trận hệ thống Truyền thanh quốc gia VNCH, đã có mặt tại Huế từ ngày 5 đến 29 Mậu Thân và đi theo nhiều nhóm tìm hầm chôn tập thể kể lại cảm giác của ông khi nhìn thấy những cảnh tượng ấy:
“Vùng nhiều nhất là quận Phú Thứ và Dạ Lê Thượng có nhiều hầm chôn xác tập thể. Cảm giác của tôi lúc ấy rất lạ, như là bị tê liệt khi nhìn các hình ảnh đó…

“Ngay ở hầm Phú Thứ, chắc khoảng gần 1.000 người. Khui lên, đầu của họ phía sau sọ bị bể hết. Những thi hài bị nối nhau bằng dây điện thoại. Có những người không có vết thương, chứng tỏ bị chôn sống”. (RFA online ngày 1-2-2008)

Trong bài nói chuyện tại buổi 40 năm Tưởng niệm Tết Mậu Thân, Việt Báo Gallery, thứ Bảy 29-3-2008, nhà báo Nhã Ca tác giả “Giải khăn sô cho Huế” phát biểu:
“Bốn mươi năm trước đây, đúng vào giờ trưa mùng Hai Tết, tại Cửa Đông Ba Huế, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau khi đột nhập, cộng sản khai diễn cuộc tàn sát. Toán nạn nhân đầu tiên gồm 5 thường dân-không hề có người lính Cộng Hòa nào. Tất cả bị trói, bắt đứng quay lưng vào tường thành. Dân chúng đứng coi. Súng AK nổ. Từng người gục chết. Sau cuộc hành hình, thân nhân những người bị bắn nhào ra muốn ôm xác. Họ bị đánh, bị đá, bị đuổi. Xác người bị phơi ngày phơi đêm. Nắng. Máu. Ròi bọ…

“Và cuộc tàn sát tiếp tục. Không bằng súng đạn mà bằng cách chôn sống. Những nạn nhân bị cột trói bằng dây điện dính chùm xếp hàng bên hố. Một vài người bị đập đầu. Cả dây người đang sống bị đạp xuống hố đè lên nhau. Cái đầu nào ngóc lên bị đập bằng cuốc. Cứ thế mà chôn hàng ngàn người. Bạn tôi, chị Tâm Túy cũng đã bị chôn sống. Khi xác đào lên, thấy hai tay chị vói lên như đang cố cào bới đất. Móng tay, móng chân mọc dài hơn. Tóc mọc dài hơn…Bạn tôi bị chôn sống khi còn đầy sức sống.

“Huế Tết Mậu Thân. Hàng ngàn người đã bị chôn sống như thế”. (Việt Báo ngày 31-3-2008)

Theo thông tín viên Tường An của đài RFA thì cư sĩ Trí Lực, người đã chôn cất những xác chết nằm lại sau biến cố Mậu Thân kể lại nỗi kinh hoàng lúc đó như sau:
“Hai mươi sáu ngày sau, sau khi Cố đô Huế bình định trở lại thì tôi tận mắt chứng kiến những hầm chôn tập thể được khai quật lên từ vùng Bãi Dâu Gia Hội, những người xấu số đã bị trói quật lại sau lưng và có những mảnh xương sọ bị vỡ nát. Cảnh kinh hoàng là cộng sản đã chôn sống bao nhiêu người dân vô tội.

“Nhà văn Đinh Lâm Thanh, hiện sống ở Pháp, cũng là chứng nhân của biến cố Mậu Thân kể:
“Gia đình của tôi vùng Phủ Cam là một, vùng An Vân Thượng là hai, Gia Hội là ba. Bà con xa bà con gần của bên họ ngoại của tôi gồm cả thảy 12 người. Trong 12 người đó, có người bị chôn sống, có người bị bắn tại chỗ, có người bị chặt đầu, có người bị mổ bụng”. (RFA online ngày 7-2-2012)

Nhân chứng của cuộc thảm sát dã man của CSVN trong những ngày tang thương của Huế trong bài này là bà Nguyễn Thị Thái Hòa kể:
“Tôi xin tường thuật lại chi tiết những cái chết đau thương của ông nội tôi, ba người anh, cùng một người bạn của họ, như là một nhân chứng còn sống sót sau Tết Mậu Thân…

“Vừa vô tới giảng đường thì anh Hải bị Hoàng Phủ Ngọc Phan bắn gục ngay.. Văn òa khóc, tôi khóc theo, kéo ông nội ra sân. Nhìn thấy xác Hải ông nội tôi khuyụ xuống, miệng thì kêu trời ơi, trời ơi, răng mà nông nỗi ni…

“Tôi đứng sau lưng ông nội, Hoàng Phủ Ngọc Phan hung hăng bước tới, xô ông nội qua một bên, nó nắm lấy tóc tôi kéo tôi ra về phía hắn. Ngó lên trần nhà la lớn: Lộc, Kính, Hiệp, tụi mày không xuống tao bắn con Ti!…

“Ông nội tôi chạy lại giữ cái ghế cho anh bước xuống, hai chân ông run, ông té sấp, đang lúc anh Lộc tìm cách tuột xuống, thò hai chân xuống trước, hai tay còn vịn trần nhà, khi đôi chân vừa chạm chiếc ghế đẩu thì HPNP nổ súng, đạn trúng ngay chính giữa cổ, máu phọt ra, Lộc lăn xuống sàn nhà toàn thân anh dảy dụa mấy cái rồi nằm im.

“Mặc ông nội tôi la hét thất thanh, Phan chỉa súng bắn lên trần nhà, nghe tiếng anh Kính lăn tới đâu, nó bắn tới đó, bắn nát trần nhà, hết đạn nó giành lấy cây súng của một thằng khác bắn tiếp, cho tới khi anh Kính tôi rớt xuống theo mấy miếng ván. Anh Văn ngồi bệt xuống đất, nhắm mắt, bịt tai, run lẩy bẩy, ngồi kế bên cạnh anh người tôi tê cóng, đái ỉa ra cả quần, ông nội tôi nhào tới ôm anh Kính, hai mắt trợn trừng, anh đang thều thào những lời sau cùng, ông khóc, ông chửi rủa thằng Phan, nó say máu, bắn luôn ông nội tôi. Ông tôi đổ xuống bên cạnh anh Kính”. (Đàn Chim Việt online này 16-1-2012)

Cuộc tổng tấn công gây tang thương cho người dân Huế trong Tết Mậu Thân đã được nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết thành bài ca bất hủ: “Hát trên những xác người”
“Chiều đi lên Bãi Dâu
Hát trên những xác người
Tôi đã thấy, tôi đã thấy
Trên con đường
Người ta bồng bế nhau chạy trốn
Chiều đi lên Bãi Dâu
Hát trên những xác người
Tôi đã thấy, tôi đã thấy
Những hố hầm
Đã chôn vùi thân xác anh em…
Xác người nằm trôi song
Trôi trên ruộng đồng
Trên nóc nhà thành phố
Trên những con đường quanh co
Xác người nằm bơ vơ
Dưới mái hiên chùa
Trong giáo đường thành phố
Trên thềm nhà hoang vu
Xác người nằm quanh đây
Trong mưa lạnh này
Bên xác người già yếu
Có xác còn thơ ngây
Xác nào là em tôi
Dưới hố hầm này
Trong những vùng lửa cháy
Bên những vồng ngô khoai”.
(RFA online ngày 7-2-2008)

Một nhà khoa bảng miền Nam là tiến sĩ Dân tộc học Lê Văn Hảo, giáo sư Đại học Văn khoa Huế, Đà Lạt và Sài Gòn vào dịp Tết Mậu Thân ông là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thừ Thiên-Huế sau này trả lời phỏng vấn của phóng viên Nguyễn Văn An về vai trò của ông trong trận tấn công Tết Mậu Thân, ông nói như sau:
“Trong tất cả khi nổ ra Mậu Thân tức là trong 26 ngày đêm cộng sản chiếm thành phố Huế thì tôi ngồi trên núi để nghe đài phát thanh suốt ngày, tất cả những gì xảy ra dưới Huế tôi chỉ biết qua đài phát thanh của Hà Nội và đài phát thanh giải phóng.

“Than ôi! Đó không phải sự thật lịch sử mà tôi chỉ là một con tin ở trong thế kẹt phải nhận lấy chức vụ để bảo tồn sự sống còn để mà mong có ngày về với vợ con thôi! Chớ tôi nói thật với anh vai trò của tôi trong tết Mậu Thân là vai trò hoàn toàn thụ động, tôi chỉ ngồi trên núi nghe đài, nghe tin tức…

“Nói thật anh, việc ấy thì tôi biết ngay khi tôi lên núi thì tôi biết Mặt trận Giải phóng là trò bịp bợm, tức là tổ chức hữu danh vô thực, nó là tổ chức của cộng sản thôi, gọi là MTDTGPMN nhưng mà tất cả do Hà Nội chỉ đạo thôi. Việc đó tôi biết ngay và họ cũng không dấu anh ạ! Lúc đó mình ở trong tay họ rồi nên họ cũng không dấu”. (RFA online ngày 2-2-2008)

Ngày nay khi nói đến Tết Mậu Thân thì người ta đều nghĩ ngay đến cuộc thảm sát tại Huế vì nơi đó đã cho mọi người thấy hết sự tàn sát dã man của những người tự mang danh giải phóng. Tội ác ấy ngày nay chính những người trong cuộc đã chối bỏ trách nhiệm và sự hiện hữu của mình nơi đó, họ không dám nhận cái chiến công hiển hách của họ, vì họ biết đó là chiến công mà loài người nguyền rủa. Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời Thụy Khuê:
“…với tư cách là đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng”. (RFI online ngày 12-7-1997)

Sở dĩ áp lực của địch quân tại Huế lâu dài và bị tàn phá nặng nề là do những tên cỏng rắn cắn gà nhà như tiến sĩ Lê Văn Hảo, anh em giáo sư Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn thị Đoan Trinh… và những thanh niên, sinh viên, học trò của họ đã năng nổ làm những tên xung kích chỉ điểm cho cộng quân tìm bắt và tàn sát người dân Huế cho nên sau này nhạc sĩ Nguyễn Minh Khôi sáng tác bản nhạc “Cơn mê chiều” để nói lên cái ô nhục này:
“Chiều nay không có em
Mưa non cao về dưới ngàn
Đàn con nay lớn khôn
Mang gươm đao vào xóm làng
Đường nội thành xưa ai tàn phá?
Cầu Tràng Tiền bạc màu loang giòng máu…”
(Nguyễn Minh Khôi)

Trả lời phóng viên Thiện Giao đài RFA, một thanh niên trí thức nhận định:
“Trong vụ thảm sát Mậu Thân, ngoài nỗi đau đớn cho dân tộc trong cuộc nồi da xáo thịt tàn độc, còn có một nỗi đau lớn hơn, là vai trò một số trí thức Việt Nam trong cuộc thảm sát này. Bài hát có câu: “Đàn con nay lớn khôn, mang gươm đao vào xóm làng”. Đàn con nớ, có phải chăng là một số trí thức Huế đã đưa Việt cộng vào làng, rồi sau đó theo ra bưng khi quân đội VNCH tái chiếm Huế? Chẳng hạn trường hợp Hoàng Phủ Ngọc Phan, phát biểu trước đây rằng những người bị thủ tiêu chôn sống là thành phần ác ôn có nợ máu với nhân dân”. (RFA online ngày 7-2-2008)

Đọc qua những tài liệu trên, “ta đã thấy” rõ được bộ mặt của đảng CSVN sát nhân diệt chủng dã man không thua gì bọn diệt chủng Khmer đỏ. Nếu CSVN “giải phóng” được miền Nam năm 1968 thì chắc chắn cảnh đầu rơi máu chảy sẽ thê thảm hơn nhiều, những cảnh giết người man rợ sẽ diễn ra một cách tàn độc hơn cả bọn Ponpot. Ngày nay cộng sản đang ngự trị trên quê hương Việt Nam khốn khổ, do đó mà tội ác diệt chủng của chúng chưa được phơi bày ra ánh sáng công lý cho đến một ngày mà đảng cộng sản mất quyền cai trị, thì ngày đó chắc chắn rằng bọn chúng cũng sẽ bị lôi ra tòa án Quốc tế để đền tội với Tổ quốc, với Nhân dân dù chúng đã chết.

(Đại Nghĩa sưu tầm)

Tạp Chí Nàng Thế Kỷ 21
Chúc bình an đến mọi người.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét