Nhìn Ra Bốn Phương

Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2015

Để tưởng niệm Giáo Sư Vũ Ký - Vũ Ký với Tác Phẫm ‘Về Nguồn’ - Nguyễn Thùy



          ‘Về Nguồn’, tác phẫm của Giáo Sư Vũ Ký do Trung Tâm Văn Hóa Xã Hội Phật Giáo Việt Nam tại Cộng Hòa Liên Bang Đức xuất bản năm 2002, dày 284 trang. Tác phẫm tập trung một số trước tác gần đây  cùng những bài viết về một số tác phẫm của một số nhà văn, nhà thơ khác (Thượng Tọa Thích Như Điển, các nhà thơ, nhà văn Trần Tùng Nguyên, Phù Vân, Lê Mỹ Như Ý, Trà Lũ) và đôi sáng tác mới, thêm đôi bài của đôi tác giả viết về các tác phẫm của Giáo sư.
<!->

          Đọc Vũ Ký là đọc cả kiến thức và lý luận rộng sâu  cùng tấm lòng tha thiết với Quê hương, Dân tộc, với Đất nước và Con Người của một học giả uyên bác, một Chiến sĩ Cách Mạng trung kiên, một sĩ phu chân chính, một nhà Văn hóa sâu dày. Tác phẫm ‘Về Nguồn’ phần nào thể hiện những tính cách , những ‘đức tính’ trên của nhà giáo Vũ Ký. (Vũ Ký, người từng được Chính quyền Vương Quốc Bỉ tổ chức tại Tòa Thị Chính Bruxelles mừng lễ ‘Khánh Ngọc’ (Noces de diamant) 60 năm thành hôn của ông và phu nhân, cũng là ngày Bát Tuần Thượng Thọ của nhà văn vào ngày 30/03/2002. Báo chí Vương Quốc Bỉ hết lời ca ngợi nhà trí thức Việt Nam đã góp phần khá lớn vào xã hội đa văn hóa Bỉ quốc. Đức Vua và Hoàng hậu Fabiola cũng gởi thư chia xẻ niềm vui của nhà văn.  Vũ Ký còn được Văn Bút  Việt Nam hải ngoại đề cử dữ giải Nobel Văn chương năm 2005). Giáo sư Vũ Ký vừa qua đời ngày 14/11/2008 tại Bruxelles, đã đẻ lại cho Văn học và Văn hóa VN trên 21 tác phẫm cùng bao nhiêu bài viết khác cùng bao bài thuyết trình tiếng Việt, tiếng Pháp. Tiếc rằng Giáo sư đã ra đi, còn bao nhiêu tác phẫm đang dự trù mà chưa hoàn tất được.
          Nơi đây, xin không đi vào toàn bộ tác phẫm ‘Về Nguồn’. Chỉ xin đề cập ba bài tiêu biểu nói lên suy tư và ý hướng của Giáo sư vừa mang chở tính cách Cách mạng, tính cách biên khảo và tính cách tư tưởng của nhà trí thức nầy.

          I/-Lễ Gia Tiên hay Ý nghĩa một cuộc Trở Về Nguồn :
          ‘Lễ Gia Tiên’, người VN nào cũng biết và luôn nói đến mỗi khi đề cập đến thuần phong mỹ tục VN, nhất là mỗi lần đón Tết vui Xuân. ‘Lễ Gia Tiên’ là hình thức, là nghi lễ thể hiện truyền thống ‘Đạo Ong Bà’ của Văn hóa VN. Người VN nào cũng có mọt ‘bàn thờ ông bà’ nơi trang trọng nhất trong nhà. Giáo Sư Vũ Ký đã nói đến việc nầy, đây không là điều mới lạ nên xin không đề cập đến nhiều. Điều quan trọng mà Giáo Sư nói đến chính là tinh hoa của Đạo Ông Bà, nói lên ý nghĩa Về Nguồn nơi tâm thức người Việt chúng ta từ xa xưa đến nay.
          Trước tiên, về mặt Đạo học, theo Giáo sư, ‘Về Nguồn’ là trở lại với cái Cội Nguồn đã làm phát sinh vũ trụ, làm phát sinh Sự Sống của muôn loài.. Đấy là cái Đạo Thể (Être), cái Chân Không, cái Tính Thể Chân Như đã tạo nên cõi Diệu Hữu (cõi hiện tượng) theo Phật giáo ; đấy là vị Thượng Đế hay đấng Hóa Công đã sáng tạo nên vạn hữu  theo Ki-Tô giáo, nói theo VN, đấy là đấng Trời.
          ‘Hướng Vọng về Nguồn’ chính là hướng về với cái Nguồn Cội đó để nhìn ra được tương lai, không riêng của từng cá nhân mà còn chung cho cả dân tộc, cả chủng loại người chúng ta. Điều nầy, đức Phật đã bảo ‘Hồi đầu thị ngạn’, quay đầu nhìn lại Cội Nguồn mới thấy được cái Bến phía trước tức cái ‘Bờ Bên Kia’, cái ‘Bỉ Ngạn’ (đáo bỉ ngạn).  Jésus, cũng ý đó đã nói : ‘’Ta là đầu và là rốt, là Alpha và Oméga’ (từ ‘Ta’ nơi đây không phải Jésus mà là Đức Chúa Trời, Jésus nhân danh Đức Chúa Trời để nói với thế gian). Lời nầy của Jésus có nghĩa : ‘cái Alpha trở về trong Oméga, cái Khởi nguyên trở về trong cái Chung cục ; theo lời Đức Thích Ca là cái ‘Bờ Bên Nầy’ trở về trong cái ‘Bờ Bên Kia’. (Bờ Bên nầy là Bờ Vật Chất, bờ có Sinh Tử ; Bờ Bên Kia là Bờ của Niết Bàn, Bờ đoạn diệt được sinh tử luân hồi). Lão Tử cũng nói ý đó khi bảo : ‘Phản phục Đạo chi động’. Trang Tử cũng bảo : ‘’Van vật phồn thịnh, giống nào cũng trở lại nguồn gốc của mình. Vật nào cũng trở lạ̣i nguồn gốc của mình mà không biết’ (1). Các nhà tư tưởng Cổ Hy Lạp cũng từng nói điều nầy. F. Nietzche cũng bảo : ‘’Tôi là tôi hôm nay của quá khứ nhưng tôi thấy nơi tôi một cái gì của ngày mai, của ngày mai nữa và của cả tương lai’’ (2). M. Heidegger nhìn ra cái ‘Cội Nguồn’ dịch chuyển về Tương Lai qua câu : ‘’Cai quá khứ của bình minh nhân loại trong cái ngày mai của tương lai’’ (3).
          Triết học và Văn chương Tây Phương gọi cái ‘Hướng Vọng về Nguồn’ là ‘Nỗi Hoài hương Hằng Thể’ (la nostalgie de l’Être), đấy là Nỗi Nhớ Không Nguôi nơi tâm thức con người mà Văn hóa Cổ Hy Lạp gọi là ‘Đại Ký Ức’ và mượn tên Nữ Thần Mnémosyne để gọi. Vì Cội Nguồn luôn dịch chuyển về Tương Lai như lời Heidegger trích trên nên Đạo Học Đông Phương từ nghìn xưa đã bảo là ‘Từ Một trở về với Một’ và hai mệnh đề ‘Hồi đầu thị ngạn’ cùng ‘Đáo bỉ ngạn’ của lời Phật đã nói rõ. Hướng về Nguồn Cội để hướng về Tương lai, đấy là lộ trình của cuộc sống nhân sinh. Quan điểm ‘Vạṇ vật đồng nhất thể ‘, Vạn hữu bản lai đồng’ ‘Từ Một trở về trong Một’, lời nầy của Đạo học Đông Phương nói lên diễn tiến tất yếu của nhân sinh trên dòng tiến hóa cùng ý nghĩa, cứu cánh cuộc sống, cuộc đời.
          Vì ‘sự trở về Nguồn’ là vấn đề thuộc Đạo học, có tính cách siêu hình nên Giáo Sư Vũ Ký chỉ nói lướt qua để giới hạn lại nơi ‘Lễ Gia Tiên’ và ‘Đạo Ông Bà’ của người Việt chúng ta.
         
          Đạo Ông Bà, từ Đạo nơi đây vừa là Đạo lý, Đạo tâm vừa là Con đường. Đạo lý, Đạo tâm vì là Lẽ Sống ; ‘con đường’ vì là lộ trình để đạt được Lẽ Sống đó.
          Đạo Ông Bà, ta chú y hai từ ‘Ông, Bà’. Ta gọi ‘Đạo Ông Bà’ chứ không gọi là ‘Đạo Tổ Tiên’, vì sao ? ‘Tổ Tiên’ hoàn toàn chỉ những người đã khuất núi trong lúc ‘Ông Bà’ vừa chỉ người khuất núi vừa chỉ người đang còn sống với chúng ta hiện nay. Nhiều gia đình Việt Nam, cả Tây phương, bao gồm cả ba, bốn thế hệ : Ông Bà Cố, Ông Bà Nội Ngoại, cha mẹ, con cháu, có thể cả các ‘chắt’ còn sơ sinh, tất cả còn hiện diện trên dương trần. Vì thế, ngày giỗ, ngày cúng là ngày hội họp cả bao người còn sống của bao thế hệ trong gia đình, tộc họ để tưởng niệm ngưới quá cố. Đạo Ông Bà, vì thế, nói lên mối quan hệ, mối liên đới giữa các thế hệ qua quá trình lịch sử. Nếu hai từ ‘Tổ Tiên’ là từ Hán Việt thì hai từ ‘Ông Bà’, theo người viết, là hai từ thuần Việt (tiếng Nôm). Ngày giỗ, ngày cúng của người Việt chúng ta không chỉ riêng để giỗ cúng người lớn tuổi đã khuất mà còn cho cả những người tuổi nhỏ, những vai vế thấp hơn trong gia đình như người chồng giỗ vợ, người mẹ giỗ con, anh chị giỗ em,…Và ngày giỗ, ngày cúng cũng không chỉ giới hạn nơi những người trong gia đình mà còn mời cả bà con thân thích, cả bè bạn, láng giềng, nhũng người đang còn sống để cùng tưởng nhớ người xưa. Do đó, ngày giỗ, ngày cúng, theo Đạo Ông Bà vừa là ngày Lễ Trọng đối với người đã qua đời, vừa là ngày Hội Vui để thắt chặt tình nghĩa giữa những người đang sống.
          Hai từ ‘Ông Bà’ chỉ hai giới tính nam, nữ tức Dương và Âm, cặp lưỡng nhất, theo Đạo học, tương dung, tương khắc, tương điều hòa để sinh thành vạn hữu.
          Hai từ ‘Ông Bà’ còn nói lên tính cách xưng hô, đối đãi giữa người và người trong xã hội : Thưa Ông, thưa Bà,..., nói lên tính cách lễ phép, tôn trong và thân mật trong cuộc tiếp xúc, giao lưu.
          Không rõ tiếng Hán có thuật ngữ nào tương đương mang đầy đủ những điểm nói trên qua hai từ ‘Ông, Bà’ của tiếng Việt. Tây phương thì hầu như không có. Tây phương không có cái Đạo gọi là ‘Le Tao Homme-Femme’ hay ‘Le Tao Monsieur-Madame’. Người Pháp dịch ‘Đạo Ông Bà’ ‘Le Culte des ancêtres’, nghĩ ra không đúng. ‘Thờ cúng’ (le culte) chỉ một nghi thức, nghi lễ chứ chưa là Đạo. Từ ‘Culte’ chỉ sự tôn kính, thờ phụng chứ không diễn tả sự biết ơn cùng tính cách thân mật, gần gũi, ân tình.
         
          Đạo Ông Bà, qua lịch sử và truyền thống văn hóa VN, được Giáo Sư Vũ Ký nhấn mạnh đến Đạo Hiếu Thảo. Dựa vào Nho giáo, Giáo sư đề cập đến Đạo Hiếu qua lời đức Khổng. ‘Hiếu’, ai cũng biết rồi, là kính trọng, phụng dưỡng, biết ơn, vâng lời, không làm bất kỳ điều gì sai trái khiến cha mẹ buồn phiền, đau khổ, xấu hổ ; ngược lại luôn làm sao cho cha mẹ vui, phấn khởi, hãnh diện về lớp hậu duệ. Dù có phải  vì việc đời, việc nước, việc dân mà phải ở xa cha mẹ, không thể thường ngày chăm sóc, phụng dưỡng thì cũng luôn nghĩ về cha mẹ, quyết không làm điều gì gây buồn, gây khổ cho mẹ cha mà còn tạo lập nên sự nghiệp nào đó để mẹ cha vui mừng. Đạo Hiếu còn đi chung với Đạo Thảo, gọi chung là đạo Hiếu Thảo của con cái. ‘Thảo’ có nghĩa tương nhượng, nhường nhịn, san sẻ, chịu đựng lẫn nhau, đùm bọc, giúp đỡ, tương thân, tương ái giữa anh chị em, dòng họ, thế nào cho mối liên đới giữa người và người trong phạm vi gia đình cũng như trong phạm vi xã hội luôn luôn hài hòa, êm đẹp, tươi vui. ‘Thảo’, vì thế không chỉ nói lên lòng hiếu kính, biết ơn ông bà, cha mẹ mà còn giữa anh chi em, họ hàng thân thuộc cùng mọi người trong sinh hoạt hằng ngày. Do lòng Hiếu Thảo mà Đạo Ông Bà không chỉ ứng hợp với cái Thiên Lý, Thiên Mệnh, với nỗi ‘Hoài Hương Hằng Thể’ về mặt Đạo học mà còn phù hợp với Đức lý về mặt thực tiễn nhân sinh vì phát huy được cái ‘Xã Hội tính’ (la sociabilité), một tính chất bẫm sinh nơi con người.
          Theo Giáo sư Vũ Ký, Đạo Ông Bà, Đạo Hiếu Thảo không là một Tôn giáo vì không có Giáo chủ, không có Kinh điển, không có hàng ‘tăng lữ’ rao giảng, thuyết pháp, không cần thiết phải có nơi thờ tự, không cần thiết phải có nghi lễ, nghi thức bắt buộc phải giữ đúng. Đạo Ông Bà, đạo Hiếu Thảo không do bắt buộc của cấu trúc xã hội, không do bắt buộc của luật pháp, không do cần thiết của cuộc tranh đấu mưu sinh mà do tự nguyện, do yêu cầu tự nhiên của tâm thức, do từ cái ‘não bộ đạo tâm’ (sensorium religieux) hằng có nơi con người, nói theo G. Van Der Lew mà giáo sư đã trích dẫn.
          Đạo Ông Bà, Đạo Hiếu Thảo, thể hiện qua lòng tưởng nhớ, biết ơn, nhiều khi không cần phải có phẫm vật cúng giỗ, trước tiên là một ‘tín ngưỡng’ rồi trở thành một ‘thuần phong mỹ tục’  truyền thống của dân tộc ta. Giáo sư Vũ Ký đi xa hơn khi liên hệ đến sự ‘hồ nghi hiện sinh’ và ‘hồ nghi lý lịch’ (doute existentiel, doute identitaire) do hiện tượng khủng hoảng lý lịch quốc gia (trang 27).
          Giáo sư cũng đề cập đến khuynh hướng ‘thế giới hóa’, ‘vũ trụ hóa’ (mondialisation, universalisation) cùng chủ thuyết ‘đại đồng hóa’ (universalisme) sẽ làm mất biến cái đặc trưng của văn hóa từng dân tộc. Điều nầy đúng thôi nếu cái ‘đại đồng hóa’ đó chỉ được hiểu và được thực hiện trên bình diện ‘mặt bằng’ (plan horizontal), có nghĩa tất cả đều đồng nhất (identique)  như nhau. Trên thực tế, không bao giờ có lối ‘đại đồng hóa’ như thế. Vì cuộc sống, cuộc đời là một ‘trường hoạt động’ (champ d’activités) không ngừng nghỉ, một trường tương tác (champ d’interaction)  thường trực và bất biến của vạn pháp nên dù ‘đại đồng’ vẫn không loại trừ cá biệt vì tổng thể bao giờ cũng chứa đựng ‘cá thể’ và cá thể chỉ là ‘cá thể trong tổng thể’ ; nếu không thế thì cá thể chỉ là từng cái một và tổng thể chỉ là tổng số  và cả hai chỉ được dùng trong tính toán, đo đếm thôi.
          Tóm lai, qua những điều được nêu trên và qua những trình bày của Giáo sư, Đạo Ông Bà là cách thế ‘Trở Về̀ Nguồn’ vừa để hiện thực hóa cái ‘siêu thức tâm linh’, cảm nhận hằng hữu nằm trong trực giác ái quốc của Đạo Số́ng của giống nòi ta (trang 27) vừa để thoát khỏi cái ‘khủng hoảng lý lịch’  của dân tộc nơi người Việt tại quốc nội đang bị đầu độc bỡi chế độ Cộng sản manh tâm chối bỏ, hủy diệt truyền thống dân tộc và cũng nơi người Việt tỵ nạn Cộng sản nơi hải ngoại. M. Heidegger bảo ;’’Con người là một hữu thể của viễn ly, một hữu thể còn xa xôi’’ (l’homme est un être du lointain) ; xa xôi vì phát sinh từ một Nguồn gốc xa xưa thăm thẳm và đang hướng về cái Nguồn gốc đó nơi cuối dòng sinh hóa của mình trong tương lai vô hạn. Dân tộc ta luôn trong hành trình đó, hiện thực hóa qua ‘Đạo Ông Bà mà thường ngày chúng ta quen cho là một tập tục chứ ít nghĩ đến cái ý nghĩa ẩn mật, sâu xa, huyền nhiệm trong đó.
          Cũng trong thiên Tiểu luận ngắn nầy, Giáo sư Vũ Ký nói lên niềm đau của mình  trước cảnh Đảng Cộng sản và chế độ của họ đang dìm chết cái truyền thống tốt đẹp nầy của dân tộc. Dù cho Cộng sản có bày đặt lại Ngày Giỗ Tổ với những chiếc bánh chưng, bánh dày ‘khổng lồ’ được đem vào Kỷ lục Guiness, có cho tổ chức ngày Tết xa hoa bao nhiêu thì cũng chỉ là dịp cho giới ‘tư bản đỏ’ hưởng lạc, vui chơi nham nhở cùng trang hoàng mặt ngoài là họ có giữ gìn truyền thống ; thực ra, đấy chỉ là thủ đoạn mị dân, giả hình vi tuyệt đại đa số nhân dân lầm than, điêu đứng, đến ngày Tết chẳng đủ điều kiện có dược bữa giỗ, bữa cúng Ông bà tươm tất vì nhà cửa, ruộng vườn bi Cộng sản cướp đoạt cho tư bản ngoại quốc thuê, mua dài hạn hầu họ dễ ttham nhũng, làm giàu và hưởng lạc ; đã thế, lại còn manh tâm ‘bán nước, buôn dân’ cho kẻ thù phương Bắc hòng cố giữ được độc quyền thống trị, bóc lột, áp bức lương dân.

          II/- Bản Tường Trình (chưa hoàn tất) gởi Thế hệ Vị lai hay là ‘Lời Tâm Sự gởi đến các bạn trẻ sau nầy’ :
          Phát xuất từ lòng yêu nước, yêu dân tộc và phục vụ văn hóa, cùng ‘Hướng vọng Về Nguồn’, Vũ Ký đã viết ‘Lời Tâm Sự’ với tất cả nhiệt huyết của mình.
          Có thể xem đây là một ‘Tiền Di Chúc’  của một chí sĩ, một sĩ phu gởi cho các thế hệ Việt Nam chưa sinh ra.
          Trong bài nầy, Giáo sư ôn lại cả giai đoạn bi thương của dân tộc do tập đoàn Cộng sản cuồng tín theo chủ nghĩa ngoại lai đã gây nên cuộc chiến tương tàn, dìm đất nước và nhân dân vào biển máu.
          Hàng triệu nhân dân hai miền Nam-Bắc, binh sĩ và thường dân đã phải bị hy sinh oan uổng ; hàng triệu người phải chết hiu hắt, lạnh đau vì tù tội, vì dân công, vì ‘chỉnh huấn’, đấu tố, vì ‘cải cách ruộng đất’, vì không chiu khom lưng quỳ gối, bịt mồm, bịt tai, bẻ cong ngòi bút mà dám bày tỏ ý lời ích quốc lợi dân khác với ý đồ gian manh của Đảng và Nhà nước Cộng sản. . Hàng vạn người bị chết đói, chết khát, bị phơi xác vì trại tù ‘cải tạo’, vì lưu đày ‘kinh tế mới’, vì thủy lợi, vì bị đẩy đến đường cùng, không phương sinh sống ; hàng triệu người phải vượt núi, vượt biển, đành phải rời Tổ quốc ra đi tìm tự do, thất thểu nơi xứ người, hàng trăm ngàn người đã làm mồi cho cá biển, cho bọn hải tặc bất lương ; Triệu triệu người dù bên nầy hay bên kia dòng Bến Hải đã phải chết thảm thương u uất, chung quy cũng chỉ do cuộc chiến khốc liệt cùng kết quả của nó mà kẻ chủ mưu không ai khác hơn là tập đoàn Cộng sản. Cho mãi đến nay, cho dù cuộc chiến đẫm máu đã tàn nhưng trong cái gọi là ‘hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc’ của chế độ Cộng sản, những cái chết tức tưởi, bi thương, nhục nhã vẫn tiếp tục hàng ngày xảy đến với nhân dân khốn khổ, với tầng lớp tri thức, văn nghệ sĩ, thanh niên, sinh viên, hàng ngũ tôn giáo, bao người yêu nước thương nòi, do thủ đoạn tàn ác, bất lương : giam cầm, an trí, tra khảo, xét nhà, cách ly, đoạt của, cướp bóc đất đai, ruộng vườn nhà cửa dân nghèo, tịch thu gia sản, tài liệu,…Mồm Cộng sản oang oang ‘trung với nước, hiếu với dân’ trong lúc bàn tay chúng với mã tấu, a-ka, dùi cui, dùi lửa, hơi cay, hơi độc,…liên miên quất vào lưng, vào đầu dân chúng chỉ biểu tình ôn hòa, tỏ bày lòng yêu nước chống bọn Tàu Cộng gian manh lấn đất, giành biển, chiếm đảo, cố tình chiếm trọn lãnh thổ của cha ông hay chỉ đội đầu nộp đơn khiếu nại đòi lại đất nhà đã bị quan chức Cộng sản cướp bóc. Cộng sản cón ngày nào thống trị dân nước thì giang sơn càng lọt vào tay ngoại bang, nhân dân càng bị tròng vào vòng nô lệ, suốt đất nước chỉ là một ‘nghĩa trang đen’ chập chờn, lãng đãng bóng kên kên. Hảy nghe nhà thơ Phương Triều, qua tác phẫm ‘Xóm Mộ’ thuật lại sự việc một ông già, ngày lang thang kiếm ăn, đêm về nương thân nơi Xóm Mộ, chẳng có được chút gì cúng tổ tiên, chỉ còn biết ‘mở gói đời quên’ tức cái bọc vải trong đó còn ít giấy tờ và bài vị song thân, trưng ra để tưởng nhớ cha mẹ, trọn được chút ‘Đạo Ông Bà’ :
                                                 Nghĩa địa góc quen chiều chợ Tết
                                                 Ông già mở lại gói đời quên
                                                 Bên kia chân mộ còn vuông đất
                                                 Lót lá làm mâm đón tổ tiên…
          Qua thiên tiểu luận, bản ‘di chúc’ cho hậu thế, Vũ Ký đã phản ảnh mọi thảm cảnh trên. Giáo sư còn nêu rõ tên tuổi một số đầu não Đảng và Nhà nuớc Cộng sản, những kẻ rêu rao, huênh hoang ba đời vô sản, ba đời bần cố nông, nay tự phong là ‘đỉnh cao trí tuệ’ nghiễm nhiên trở thành những tỷ phú đô la (trang 372, 373), ngất ngưỡng trong villa, biệt thự, xe cộ đắt giá, hưởng thụ xa hoa, trác táng dâm ô bằng bóc lột công sức, gia sản nhân dân, bằng ăn cắp của công, bằng hối lộ, tham nhũng, bằng buôn lậu, kinh doanh bất hợp pháp, bằng chia chát tiền đầu tư, viện trợ, tiền của người Việt hải ngoại gơỉ về giúp đỡ thân nhân, bằng móc ngoặt với gian thương trong nước và ngoại quốc và bằng bao nhiêu thủ đoạn gian tham khác nữa, không thể nào kể hết.
          Trong bài nầy, tác giả không nói cho người hiện nay mà cho những thế hệ mai sau, những lớp trai trẻ sẽ sinh ra lúc lớp người hiện nay như Vũ Ký không còn tại thế. Những lớp trẻ sắp tới đó và ngay cả lớp người sinh ra sau ngày 30 tháng Tư năm bảy lăm. Những lớp người nầy, cho dù chế độ Cộng sản bị giải trừ, hàng ngũ cán bộ, đảng viên Cộng sản hoàn toàn tan nát, nào biết gì giai đoạn lịch sử bi thương của dân tộc dưới gông cùm của chế độ Cộng sản. Tất cả đều bị nhồi sọ, bị đầu độc bỡi luận điệu cùng sách báo tuyên truyền một chiều, láo khoét, bẻ ngoặt, cải sửa lịch sử theo ý đồ man trá của Cộng sản. Các thế hệ trẻ mai sau nào hiểu ra thủ đoạn ‘vo tròn bóp méo’ thực tế lịch sử, nào nhìn ra bao nhiều tội ác tầy trời của Đảng và Nhà nước Cộng sản đối với nước, với dân ; nào hiểu được rằng số lớn cha ông đã phải rời Tổ quốc ra đi ‘không để tìm đất sống mà để tìm đất thở’ (trang 362), nghĩa là để tìm Tự do, để có điều kiện xóa bỏ cái chế độ bạo tàn, ma vương, ác quỷ hầu đưa đất nước và nhân dân đến cảnh sống có đầy đủ nhân phẫm, nhân quyền.
          Lớp trẻ mai sau sẽ bị nhiễm độc bỡi ‘vi trùng Cộng sản, nỡi nọc độc Cộng sản để không thể phán xét lịch sử một cách vô tư, khách quan, từ đó sẽ lầm lạc nghĩ rằng chỉ có Cộng sản mới ‘có công’ với đất nước, còn tất cả đều là ‘phản động, phản cách mạng’. Lớp trẻ vị lai nầy, vì chỉ đọc sách báo một chiều của Cộng sản, sẽ khó lòng phân biệt được cha ông mình, lớp người nào là thủ phạm, lớp người nào là nạn nhân, lớp người nào đã dìm đất nước nhân dân vào biển máu, vào sa đọa, tối tăm ngu đần, tụt hậu, lớp người nào thực sự trung thành với Tổ quốc, Quê hương.
          Vũ Ký ‘di bút’ lại cho các lớp trẻ vị lai đó biết nhìn lịch sử một cách công minh, sáng suốt để hiểu do đâu, vì đâu một dân tộc không kém oai hùng so với thế giới năm châu đã phải bị trải dài trong một giai đoạn tối tăm, u ám cùng cực, băng hoại và tụt hậu cả hàng thế kỷ trong lúc nhân loại tiến thẳng về tương lai, trong lúc bao quốc gia cùng cảnh ngộ như Việt Nam sau Đệ Nhị Thế Chiến và trong quá khứ so ra kém sút VN lại trở nên sung túc, phú cường. Vũ Ký làm nhiệm vụ tường trình lịch sử chứ không nhằm gây hận thù nơi các lớp trẻ mai sau, không chủ trương ‘gây thù, báo oán’ mà chỉ nhằm sao giúp các lớp trẻ nầy biết nhìn lịch sử, thẫm định lịch sử, nhìn ra được rõ ràng công, tội của những thế hệ trước dù thuộc tầng lớp nào, hàng ngũ nào trong suốt giai đoạn lịch sử đã qua.

          Bản Tường Trình Lịch Sử nầy, bản Di Chúc Cho Thế Hệ Mai Sau nầy là cả tâm huyết của một sĩ phu yêu nước, của một nhà chí sĩ  gắn bó suốt đời mình với Tổ Quốc, Dân Tộc, nhắc nhở các thế hệ vị lai đừng quên gốc, quên nguồn, đừng quên Truyền Thống Văn Hóa dân tộc thể hiện qua Đạo Ông Bà hầu biết phán đoán đúng đắn lịch sử đã qua để không phải giẫm lên những bước ‘lỗi lằm lịch sử’ mà một số cha ông vì chạy theo quyền lực và quyền lợi đã vấp phạm, đã đưa đất nước và nhân dân vào tột cùng̣ lầm than, khốn khỗ, bi thương.
         
          Vũ Ký không chi lo lắng cho bây giờ mà còn lo cho cả tương lai của đất nước, dân tộc. Phần nào, qua Bản Tường Trình nầy, Vũ Ký đã cùng tâm trạng của một Nguyễn Du : ‘’Trắc thân bất khuất hữu hình ngoại, Thiên tuế trường ưu vị tử tiền’’  (hai câu thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Xin tạm dịch : Hữu hình thân ấy không tồn tại, Vẫn nghĩ nghìn sau chuyện thế trần). Tấm lòng đó của một nhà Văn hóa nơi Vũ Ký cao quí biết dường nào !

          3/- Truyện Kiều : một tác phẫm siêu hình.
          Thêm một khám phá về kiệt tác nầy của dân tộc. Truyện Kiều -đúng hơn ‘Đoạn Trường Tân Thanh’- của Nguyễn Du càng ngày càng được mở phơi thêm nhiều giá trị. Qua thiên Tiểu luận nầy, Giáo sư Vũ Ký đã thêm một khám phá mới về tác phẫm. Không đi vào toàn bài, người viết chỉ xin chú ý vào điểm chính sau đây :
          Phân tích hình ảnh ‘Trăng’ thường được dùng nơi Truyện Kiều, Giáo sư, học giả Vũ Ký cho rằng : ‘’Cung tại Trăng, nhưng đây có phải là nỗi lòng u uất, vĩnh kiếp khó dồn nén của một cô Kiều, suốt một cuộc đời nát tan, ê chề, tuyệt vọng, sau lời thề thốt với chàng Kim ? Hay chính cái đau thương bất biến thường trực của tâm hồn Nguyễn Du bị dằn vật bỡi một thẹn lòng khôn nguôi, hơn thế nữa, bỡi một uất ức nào đó đối với chính mình mà Người không giải tỏa được ?’’ (trang 324).  ‘’Nhưng Nguyễn Du thẹn về cái gì ? Mà Nguyễn Du thẹn với ai ? …Nguyễn Du không những thẹn với trăng mà còn sợ trăng…Sợ gì ? Không ai rõ. Chỉ có Trời biết….Nỗi thẹn, nỗi sợ của thi hào trong suốt tác phẫm, nếu có, hẳn là nỗi sợ về một cõi siêu linh nào đó mà vốn là một tâm hồn nghệ sĩ cao độ lãng mạn, nhà thơ vẽ vời, thêu dệt, làm thành một định kiến ám ảnh rợn người đến trong kiếp chết…’’ (trang 325). Nỗi thẹn, nỗi sợ đó, theo Vũ Ký, bắt nguồn từ cái Đạo Trời (thiên đạo)  hay Mệnh  Trời (thiên mệnh) : ‘’Con người ta trên đời lưu hành trong cái đạo biến hóa ấy của trời đất khác nào đàn cá lặn lội ở giữa vùng nước chảy, tuy lúc nào cũng có năng lực vùng vẫy, chạy nhảy nhưng vẫn phải trôi theo dòng nước xiết. Sức trôi theo dòng nước ấy tức là thiên mệnh vậy’’  (trang 311).  Theo Vũ Ký, ‘’Chữ Mệnh mà thi hào nêu lên trong tác phẫm Kiều là một điệp khúc siêu hình vấn vương ý thức và tâm lực Nguyễn Du. Nói như nhà Nho, đấy là điều bất khả thăng ngôn (không thể nói hết), bất khả thăng số (không thể đếm xiết), bất khả tư nghị (không thể bàn bạc được) ; điều ấy quá đổi lạ lùng lắm vậy’’ (trang 312). Người viết chỉ xin lược trích như trên, không bàn bạc nhiều vì sẽ phải đề cập đến Đạo học và Triết học rất dài dòng.

          Riêng phần phân tích hình ảnh Trăng và nhân vật Đạm Tiên, người viết vô cùng thích thú.
          Thúy Kiều luôn nhìn trăng, thầm thì, to nhỏ, chuyện trò, hỏi đáp với trăng về phận mình, về cuộc sống chìm nổi của mình. ‘’Trăng diễm tình, trăng gợi ý, trăng khiến sầu, trăng gieo ấn tượng, trăng tương tư, trăng hoài niệm, trăng tủi hận, bao nhiêu trăng trong số phận đời Kiều. Trăng với nỗi lòng Kiều là một. Trăng là một biểu tượng siêu hình trong tri giác thường trực của Kiều. …Và Nguyễn Du say đắm trăng mà diễn tả một cách thi vị và thú vị vô cùng trong tác phẫm’’ (trang 322).  Ngòi bút Nguyễn Du vô cùng điêu luyện và sinh động diễn tả đủ mọi sắc thái của trăng đối với Kiều và đối với tâm thức của ông.   
          Vũ Ký phân tích nhân vật Đạm Tiên vô cùng linh động. Đạm Tiên, ‘’môt nhân vật siêu thực, khi ẩn khi hiện ; một phương diện của thiên tài Nguyễn Du qua một mẩu văn tự sự 19 dòng, biểu dương sắc thái siêu hình và hấp lực tương quan giữa thế giới vô hình và hữu hình luôn luôn hiện hữu trong thần trí chúng ta trên cõi thế’’ (trang 331, 332).. Có thể nói, Vũ Ký đặt mình vào vị trí  Nguyễn Du khi viết Truyện Kiều, để sống với cái huyền nhiệm siêu hình ‘bất khả tư nghị’ nầy. Người viết không có ý kiến đúng, sai về sự phát hiện ‘tính cách siêu hình’ của tác phẫm Truyện Kiêu. Dù sao thì đây cũng là một khám phá thêm vào bao khám phá đã có trước đây để người đọc càng thêm nhìn ra bao giá trị còn tiềm tàng, ẩn chứa nơi kiệt tác nầy của dân tộc.  Nếu quả cái ‘Thiên Lý, Thiên Mệnh’ là một ‘huyền nhiệm siêu hình’ thì tâm thức ‘Hướng về Nguồn’ của người Việt Nam qua ‘Đạo Ông Bà’ biểu hiện được dòng vận hành của Thiên Lý, Thiên Mệnh đó nơi cõi thế, theo quan điển Đạo học Đông phương ‘’Van hữu đồng Nhất Thể’’ và tất cả đều ‘’từ Một trở về trong Một’’.

          Bao nhiêu bài khác trong tập ‘Về Nguồn’ nầy như ba bài về Hội An (viết bằng Hồi ức), Tôi đi học, Vạn Tam Kỳ, Tôi đọc sách Thầy (Thầy Thích Như Điển), Nghệ thuật bếp núc (biên khảo), giới thiệu Trà Lũ, Phù Vân, Lê Mỹ Như Ý, Nghệ thuật chơi Bonsai, Xung quanh Chuổi Ngọc Đứt Rời,…, tất cả đều xa gần liên hệ với chủ đề ‘Về Nguồn’ nơi nhan đề tác phẫm.
          Về Nguồn, một tác phẫm cần thiết cho thế hệ trẻ bây giờ và mai sau, không chỉ về mặt kiến thức, kiến văn mà còn cả về mặt tâm tình, đạo đức và chí hướng cùng ý nghĩa cuộc sống, cuộc đời. Về Nguồn, tác phẫm chất ngất cái ‘hồn nước’ nơi một nhà làm Văn hóa đã cống hiến cả đời mình cho Dân tộc và luôn ước mong các tầng lớp thế hệ trẻ vị lai tiếp tục phát huy hơn nữa tinh hoa của truyền thống dân tộc để Việt Nam luôn luôn huy hoàng, rực rỡ cùng thế giới năm châu trên hành trình hướng về tương lai rạng rỡ, hồi phục cái Đạo Thể, Đạo Tâm, cái Cội Nguồn ban sơ , cái Tính Thể uyên nguyên, đồng nhiên, đơn thuần của con người, của lẽ sống.
                                                                                                       Nguyễn Thùy
_________________
Chú thích :
1) ‘Vạn vật vân vân, các phục kỳ căn. Các phục kỳ căn nhi bất tri’ : Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Thu Giang Nguyễn Duy Cần, nxb Khai Trí, Saigon 1962, quyển 1.
2) ‘Je suis d’aujourd’hui de jadis mais je sens en moi quelque chose de demain, de l’après demain et de l’avenir’ : F. Nietzche : Ainsi parlair Zarathoustra, bản dịch Pháp ngữ của Maurice Bettz trong Coll. Le Livre de Poche.

3) ‘Le jadis de l’Aurore dans le futur de l’Avenir’ : M. Heidegger, trích dẫn bỡi Francoise d’Astur trong ‘Heidegger et la question du temps’. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét